LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
VỐN DOANH NGHIỆP
1.1. VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.1. Tổng quan về vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các
doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản: Sức lao động, đối tượng lao động và tư
liệu lao động. Để có được các yếu tố này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn
nhất định phù hợp với qui mô và điều kiện kinh doanh.
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên vận động và chuyển hoá từ
hình thái ban đầu là tiền chuyển sang hình thái hiện vật và cuối cùng lại trở về hình
thái ban đầu là tiền. Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy được gọi là sự tuần
hoàn của vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên
tục, không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh doanh cũng diễn ra liên tục, lặp
đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu
chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kinh tế - kỹ thuật
của ngành kinh doanh.
Từ những phân tích trên có thể rút ra: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu
hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản
xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời.
Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh
nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình
hoạt động và phát triển của doanh nghiệp [16].
Theo Mác: vốn là giá trị đem lại lợi nhuận [15]. Biểu hiện cụ thể của vốn trong
các doanh nghiệp là tài sản mà doanh nghiệp sở hữu hoặc kiểm soát.
Ở nước ta hiện nay, khái niệm về vốn cũng được hiểu khác nhau. Một số cho
rằng vốn là số tiền đầu tư ứng trước vào tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn của doanh
nghiệp. Một số khác có quan điểm cho rằng vốn gồm hai bộ phận là vốn chủ sở hữu
và nợ phải trả. Quan điểm này có sự đồng nhất giữa vốn và nguồn vốn, họ cho rằng
vốn và nguồn vốn chỉ là những cách gọi khác nhau để chỉ ra nguồn vốn của tài sản
trong doanh nghiệp. Theo tác giả, vốn và nguồn vốn là hai mặt của cùng một lượng tài
sản do doanh nghiệp quản lý, sử dụng; trong đó vốn là biểu hiện bằng tiền (giá trị) của
1.1.2.1. Phân loại vốn theo công dụng kinh tế
Theo công dụng kinh tế, vốn của doanh nghiệp được chia thành vốn cố định,
vốn lưu động và vốn đầu tư tài chính.
- Vốn cố định là lượng tiền ứng trước để mua sắm, xây dựng tài sản cố định
và các khoản đầu tư dài hạn dùng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài
sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh như máy móc, thiết bị, phương
tiện vận tải, các công trình kiến trúc... đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn là về thời
gian: có thời gian sử dụng từ một năm trở lên; về giá trị: ở nước ta qui định hiện
hành, tài sản cố định phải có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên.
- Vốn lưu động là lượng tiền ứng trước để thoả mãn nhu cầu về tài sản ngắn
hạn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn là những
tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình kinh doanh như: nguyên vật liệu,
công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng hoá, các khoản phải thu...
- Vốn đầu tư tài chính của doanh nghiệp là một bộ phận vốn kinh doanh của
doanh nghiệp được đầu tư ra bên ngoài nhằm mục đích sinh lời.
Có nhiều hình thức đầu tư tài chính ra bên ngoài như: doanh nghiệp bỏ vốn
mua cổ phiếu, trái phiếu của các công ty khác, hoặc góp vốn liên doanh với các
doanh nghiệp khác,... Mục đích của đầu tư tài chính ra bên ngoài là nhằm thu lợi
nhuận và hạn chế rủi ro về vốn nhờ đa dạng hoá đầu tư.
Phân loại vốn theo cách này có ý nghĩa quan trọng đối với doanh nghiệp
trong việc lựa chọn loại nguồn vốn thích hợp với từng loại tài sản cần tài trợ, trong
việc đề ra các biện pháp quản lý vốn thích hợp, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn và bảo toàn số vốn đã bỏ ra.
1.1.2.2. Phân loại vốn theo quan hệ sở hữu
Theo quan hệ sở hữu, vốn của doanh nghiệp được phân thành vốn chủ sở hữu
và vốn nợ phải trả.
- Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, bao
gồm các bộ phận chủ yếu: vốn góp ban đầu; lợi nhuận không chia; vốn tăng thêm
bằng phát hành cổ phiếu mới. Tuỳ theo hình thức sở hữu của doanh nghiệp mà tính
- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp là nguồn vốn có thể huy động được từ
bên ngoài doanh nghiệp để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Đó là vốn vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ phải trả.
Trong nền kinh tế thị trường, nguồn vốn bên ngoài rất đa dạng và các hình thức
huy động cũng rất phong phú. Mỗi hình thức huy động vốn từ bên ngoài đều có một
số thuận lợi và khó khăn nhất định, tạo cho doanh nghiệp có một cơ cấu vốn linh hoạt,
kịp thời đáp ứng được nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông
thường doanh nghiệp có mức doanh lợi cao thì sử dụng nguồn vốn bên ngoài sẽ đem
lại lợi nhuận cao. Tuy nhiên, khi huy động vốn từ bên ngoài thì thường phải có tài sản
thế chấp và doanh nghiệp phải trả lãi tiền vay. Nếu doanh nghiệp sử dụng vốn kém
hiệu quả thì lãi tiền vay sẽ trở thành gánh nặng mà doanh nghiệp phải chịu.
Với cách phân loại này, cho phép doanh nghiệp lựa chọn các phương án huy
động vốn sao cho phù hợp với điều kiện kinh doanh của mình trong phạm vi khuôn
khổ pháp luật cho phép [16].
1.1.3. Vai trò của vốn đối với doanh nghiệp
Vốn có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, là yếu tố không thể thiếu
của mọi quá trình kinh doanh. Vai trò quan trọng của vốn đã được Mác khẳng định:
Tư bản đứng ở vị trí hàng đầu, vì tư bản tạo ra giá trị thặng dư.
Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động kinh
doanh thì phải có vốn. Vốn là điều kiện để thực hiện các hoạt động tạo nguồn, vì
thế các chiến lược hoặc kế hoạch sản xuất kinh doanh chỉ trở thành hiện thực nếu
được đảm bảo bằng vốn.
Như vậy, có thể nói vốn có vai trò quyết định quy mô của doanh nghiệp,
quyết định năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Vốn càng lớn thì quy mô doanh
nghiệp càng lớn, nâng cao khả năng tài chính của doanh nghiệp, tạo điều kiện hiện
đại hoá công nghệ, nâng cao trình độ của người lao động, nâng cao năng lực sản
xuất của doanh nghiệp.
Vốn có vai trò nâng cao vị thế, uy tín của doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận
lợi trong quá trình hợp tác phát triển của doanh nghiệp. Quy mô của doanh nghiệp
càng lớn sẽ tạo điều kiện để thực hiện mở rộng thị trường trong và ngoài nước, tạo
d
:
là chi phí sử dụng vốn vay sau thuế.
+ R
dt
: là chi phí sử dụng vốn vay trước thuế (lãi suất nợ vay).
+ t: là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
R
d
= R
dt
(1- t)
Nếu thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp càng cao thì càng hạ thấp chi phí
thực tế của nợ (R
d
càng thấp). Khi sử dụng nợ, doanh nghiệp tiết kiệm được một
khoản bằng lãi suất vay nợ nhân với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (R
d
* t).
Vì vậy, thuế suất càng cao sẽ khuyến khích doanh nghiệp sử dụng nợ do phần tiết
kiệm nhờ thuế tăng lên [16].
- Khả năng linh hoạt tài chính: là khả năng điều chỉnh nguồn vốn tăng hay
giảm đáp ứng với các thay đổi quan trọng trong nhu cầu vốn. Doanh nghiệp cần
duy trì được tính linh hoạt tài chính nhằm đảm bảo vẫn có thể huy động được vốn
một cách hợp lý trong điều kiện có tác động xấu, bởi vì quyết định huy động vốn
ngày hôm nay sẽ ảnh hưởng đến khả năng lựa chọn phương thức huy động vốn
trong tương lai.
- Quan điểm của các nhà quản lý: việc xác định cơ cấu nguồn vốn mục tiêu
của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào quan điểm của các nhà quản lý. Thực tế, có
thức huy động vốn của doanh nghiệp cần được đa dạng hóa nhằm khai thác tốt
nhất các nguồn vốn trong nền kinh tế. Doanh nghiệp có thể lựa chọn các hình thức
huy động vốn chủ yếu sau đây:
1.1.4.2.1. Hình thức tự tài trợ vốn
Hình thức tự tài trợ là hình thức doanh nghiệp tự đáp ứng nhu cầu vốn của
mình bằng nguồn vốn do doanh nghiệp tạo ra trong quá trình hoạt động kinh doanh,
bao gồm quỹ khấu hao tài sản cố định và lợi nhuận giữ lại.
Quỹ khấu hao của doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở trích khấu hao tài
sản cố định sử dụng trong quá trình kinh doanh, dùng để tái đầu tư thay thế, đổi mới
tài sản cố định. Tuy nhiên, khi chưa có nhu cầu tái tạo lại tài sản cố định, doanh
nghiệp có thể sử dụng linh hoạt quỹ khấu hao phục vụ cho yêu cầu kinh doanh của
mình.
Tự tài trợ bằng lợi nhuận giữ lại là một hình thức tạo vốn quan trọng và hấp
dẫn của doanh nghiệp. Rất nhiều doanh nghiệp coi trọng chính sách tái đầu tư từ
lợi nhuận giữ lại. Thực chất tái đầu tư từ lợi nhuận giữ lại là hình thức tăng vốn
đầu tư các chủ sở hữu doanh nghiệp. Hình thức này hấp dẫn và được coi trọng vì
nó giảm được chi phí sử dụng vốn, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài và tăng
tiềm lực tài chính cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thể tự tài trợ
bằng lợi nhuận giữ lại khi doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả.
1.1.4.2.2. Hình thức phát hành cổ phiếu
Phát hành cổ phiếu để huy động vốn là một hình thức huy động vốn chỉ có
đối với các công ty cổ phần đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp
luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán sử dụng.
1.1.4.2.3. Hình thức phát hành trái phiếu
Trái phiếu công ty còn gọi là chứng khoán nợ, là một loại giấy chứng nhận nợ có
kỳ hạn do công ty phát hành, xác nhận nghĩa vụ trả cả gốc và lãi của công ty phát hành
đối với người sở hữu trái phiếu. Phát hành trái phiếu là một hình thức huy động vốn
quan trọng đối với doanh nghiệp trong thị trường chứng khoán phát triển. Tuy nhiên,
chỉ có những doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định của pháp luật về
chứng khoán và thị trường chứng khoán mới được phép phát hành.
tra, tính toán và xác định lại mức dự trữ tài sản lưu động, ứng dụng mô hình dự
trữ tối ưu nhằm giảm lượng tài sản lưu động lưu kho không cần thiết. Phương thức
này tuy không làm tăng tổng số vốn sản xuất kinh doanh, nhưng lại có tác dụng rất
lớn trong việc tăng vốn cho các hoạt động cần thiết trên cơ sở giảm vốn ở những
nơi không cần thiết.
1.1.4.3. Điều hoà vốn
Điều hoà vốn là việc lưu chuyển vốn từ nơi thừa vốn tạm thời, sử dụng kém
hiệu quả sang nơi thiếu vốn và có khả năng sử dụng vốn có hiệu quả cao trong
phạm vi nội bộ doanh nghiệp, nhằm đảm bảo vốn được phân bố hợp lý, mang lại
hiệu quả cao.
Đây là một vấn đề quan trọng trong quản lý vốn nói chung, đặc biệt ở những
doanh nghiệp lớn có nhiều đơn vị kinh doanh. Bởi vì trong một doanh nghiệp vẫn
có thể xảy ra hiện tượng ở đơn vị, bộ phận này thừa vốn tạm thời; trong khi ở đơn
vị, bộ phận khác lại thiếu vốn tạm thời. Hoặc vốn bị phân bổ, đầu tư vào chỗ có
hiệu quả thấp, trong khi doanh nghiệp lại cần vốn cho những dự án có tiềm năng
mang lại tỷ suất sinh lời cao hơn...
Việc điều chuyển vốn trong doanh nghiệp phải đáp ứng được yêu cầu về khả
năng tập trung vốn cho các cơ hội đầu tư tốt hơn, đồng thời đảm bảo khai thác tốt
tiềm lực tài chính trong doanh nghiệp, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp được tiến hành thuận lợi, có hiệu quả.
1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Có vốn mới chỉ là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để đạt mục đích kinh doanh.
Vấn đề đặt ra có ý nghĩa tiếp theo là phải sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy
động.
Hiệu quả sử dụng vốn là sự gia tăng lợi nhuận trên một đồng vốn được sử
dụng vào sản xuất kinh doanh. Sử dụng vốn có hiệu quả trước hết là điều kiện để
doanh nghiệp bảo đảm đạt được lợi ích của các nhà đầu tư, người lao động, của
nhà nước về mặt thu nhập và đảm bảo sự tồn tại phát triển của bản thân. Mặt khác
đó cũng chính là cơ sở để doanh nghiệp có thể huy động vốn được dễ dàng trên thị