Truyền thông về chương trình "Mỗi xã, phường một sản phẩm" trên báo chí Quảng Ninh : Luận văn ThS. Báo chí và truyền thông: 603201 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

LƢU THỊ THUỲ LINH

TRUYỀN THÔNG VỀ CHƢƠNG TRÌNH
“MỖI XÃ, PHƢỜNG MỘT SẢN PHẨM”
TRÊN BÁO CHÍ QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH BÁO CHÍ

Hà Nội - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------LƢU THỊ THUỲ LINH

TRUYỀN THÔNG VỀ CHƢƠNG TRÌNH “MỖI XÃ, PHƢỜNG MỘT
SẢN PHẨM” TRÊN BÁO CHÍ QUẢNG NINH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học
Mã số: 60320101

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang

Hà Nội-2017


LỜI CAM ĐOAN

Tác giả luận văn


Lƣu Thị Thùy Linh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐND: Hội đồng nhân dân
NQ: Nghị quyết
NTM: Nông thôn mới
NXB: Nhà xuất bản
OCOP: Mỗi xã, phường một sản phẩm
PTTH: Phát thanh truyền hình
QĐ: Quyết định
TW: Trung ương
UBND: Uỷ ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA BÁO
CHÍ TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ CHƢƠNG TRÌNH “ MỖI XÃ ,
PHƢỜNG MỘT SẢN PHẨM” ..................................................................... 11
1.1. Khái niệm .................................................................................................. 11
1.2. Vai trò của báo chí trong tuyên truyền các chính sách, chủ trương của
Đảng và Nhà nước nói chung, trong truyền thông về chương trình “Mỗi xã,
phường một sản phẩm” .................................................................................... 16
1.3. Các yếu tố tác động đến chất lượng truyền thông của báo chí đối với xây
dựng nông thôn mới nói chung, chương trình “Mỗi xã phường một sản phẩm”
nói riêng............................................................................................................ 20

Bắc của tổ quốc. Do đó tỉnh nằm trong vùng văn hoá Bắc Bộ mang đặc tính
duyên hải. Sự đa dạng về văn hóa, xã hội, sự phức tạp về địa hình là những
thách thức không nhỏ của tỉnh Quảng Ninh trong quá trình phát triển kinh tế,
xã hội. Tuy nhiên chính sự đa dạng và phong phú của điều kiện tự nhiên và xã
hội đã tạo ra sự đa dạng về sản vật và các sản phẩm truyền thống của địa
phương. Đó là những sản vật từ biển, từ rừng, các sản phẩm ẩm thực, nhiều
danh lam thắng cảnh, lễ hội truyền thống. Vấn đề tồn tại chính với các sản
phẩm truyển thống ở Quảng Ninh là nhiều sản phẩm chưa thương mại hóa
được và nếu đã thương mại hóa thì cũng khó tiêu thụ.
Để khắc phục những yếu kém đó, ngày 22/10/2013, UBND tỉnh Quảng
Ninh phê quyệt đề án số 2870/QĐ-UBND “Tỉnh Quảng Ninh- mỗi xã,
phường một sản phẩm” giai đoạn 2013-2016 [66]
“Mỗi xã phường một sản phẩm”- OCOP là một chương trình mở, chưa
có tiền lệ về phương pháp luận, về cơ chế chính sách chưa có mô hình hiệu
quả để học tập trong nước. Là tỉnh đầu tiên triển khai chương trình, công tác
tuyên truyền về chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên các
phương tiện thông tin đại chúng và báo chí đóng vai trò quan trọng hàng đầu
quyết định thành công của chương trình.
Truyền thông cho Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” được báo
chí Quảng Ninh xác định là một chương trình dài hơi, rất cần đánh giá, nhìn
nhận, rút kinh nghiệm qua từng giai đoạn, đă ̣c biê ̣t là khi tin̉ h Quảng Ninh
vừa kế t thúc giai đoa ̣n 1 của chương trình “Mỗi xã, phường mô ̣t sản phẩ m”,
triể n khai giai đoa ̣n 2 của chương trình với thời gian thực hiện từ năm
2017 đến năm 2020 và khi bộ Nông nghiệ p và Phát triể n Nông thôn đã
quyế t đinh
̣ triể n khai chương triǹ h “Mỗi xã
1

, phường mô ̣t sản phẩ m ” trên


về quan điểm, về phương pháp xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam trong bối
cảnh phát triển công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước.
Trong lĩnh vực truyền thông đại chúng, việc nghiên cứu các vấn đề liên
quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn và đặc biệt là xây dựng nông
thôn mới đã được thể hiện trong nhiều luận văn, luận án như:
“Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên báo in Việt Nam”Luận văn thạc sỹ ngành báo chí của tác giả Vũ Thái Hà, năm 2010, của
trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân Văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Luận văn xác định những nội dung mà cơ quan báo chí cần nhận thức về
"Nông nghiệp, nông dân, nông thôn" để tiến hành tuyên truyền trên báo in.
Luận văn cũng chỉ ra những cái được và chủa được trong công tác tuyên
truyền về nội dung nêu trên. Luận văn đề xuất những kiến nghị, giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền về "Nông nghiệp, nông dân,
nông thôn" trên báo in trong thời gian tới.[27]
“Vấn đề chỉ dẫn tư vấn khoa học kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân
trên báo chí Việt Nam" - Luận văn thạc sỹ báo chí của tác giả Bùi Thị Hồng
Vân (2012) do PGS.TS Vũ Quang Hào hướng dẫn tại trường Đại học khoa
học xã hội và Nhân văn Hà Nội. Thông qua việc phân tích và hệ thống hoá cứ
liệu từ các sản phẩm báo chí có nội dung chỉ dẫn tư vấn về khoa học kỹ thuật
nông nghiệp cho nông dân, đề tài luận văn góp phần lý giải thêm hoặc đề xuất
thêm những khía cạnh lý luận mới của xu hướng báo chí đang nói đến. [68]
Vấn đề tuyên truyền xây dựng nông thôn mới trên báo chí Quảng NinhLuận văn thạc sỹ chuyên ngành Báo chí học của tác giả Vũ Mạnh Cường,
năm 2013, Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Luận văn hệ thống hóa những
khái niệm liên quan đến nông thôn mới, các chủ trương, quan điểm của Đảng,
Nhà nước và quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Quảng Ninh. Luận


văn làm rõ vai trò của báo chí với việc tuyên truyền các chủ trương, quan
điểm của Đảng, Nhà nước nói chung và quá trình xây dựng nông thôn mới
nói riêng. Trên cơ sở khảo sát báo chí Quảng Ninh, đánh giá thực trạng về
cách thức, nội dung, hình thức vấn đề tuyên truyền xây dựng nông thôn mới,

quan điểm của Đảng, Nhà nước, của tỉnh Quảng Ninh và quá trình triển khai
chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” của tỉnh Quảng Ninh.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng báo chí Quảng Ninh truyền
thông cho chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”; chỉ ra những thành
công, hạn chế và nguyên nhân của truyền thông về chương trình này.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng truyền thông chương
trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên báo chí Quảng Ninh trong thời
gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Mố i quan hê ̣ truyề n thông giữa báo chí điạ phương với các vấ n đề phát
triể n kinh tế , văn hoá, xã hội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn khảo sát Đài Phát thanh - Truyền hình Quảng Ninh, báo
Quảng Ninh, báo điện tử Quảng Ninh từ tháng 1/2017 đến tháng 6/2017. Đài
Phát thanh truyền hình, báo Quảng Ninh và Báo Quảng Ninh điện tử là 3 tờ
báo lớn của Quảng Ninh, hàng năm đều nhận nhiệm vụ tuyên truyền, truyền
thông cho chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”. Các cơ quan báo
chí này có nhiều chuyên mục, chuyên đề, tin bài viết về chương trình “Mỗi
xã, phường một sản phẩm”.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu


5.1. Cơ sở lí luận:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên quan điểm của học thuyết MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, theo quan điểm đường
lối của Đảng và Nhà nước về công tác báo chí nói chung và báo chí tuyên
truyền về nông nghiệp, nông thôn, nông dân nói riêng; đồng thời luận văn
cũng dựa trên cơ sở lý luận, nghiệp vụ báo chí, các đề tài nghiên cứu về thực
tiễn báo chí, với việc truyền thông nông thôn mới, truyền thông chương trình
“Mỗi xã phường một sản phẩm” từ nhiều nguồn khác nhau.

báo, các sản phẩm báo chí trong truyền thông về chương trình “Mỗi xã,
phường một sản phẩm” trên báo chí Quảng Ninh, từ đó rút ra được nội dung,
hình thức, phương thức truyền thông.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này nhằm trao đổi, phỏng
vấn với các chuyên gia, nhà quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp để lấy ý kiến
về quan điểm tuyên truyền chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh hiện nay cũng như hiệu quả, tác động và những giải
pháp tuyên truyền chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”; phỏng vấn
các phóng viên, biên tập viên phụ trách chương trình “Mỗi xã, phường một sản
phẩm” của báo Quảng Ninh và đài PT-TH Quảng Ninh nhằm hiểu hơn về hoạt
động truyền thông chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” của các cơ
quan báo chí đó. Cụ thể, tác giả luận văn đã phỏng vấ n ông Đinh Bá Trinh- Uỷ
viên thường trực Ban Chỉ Đạo OCOP tỉnh Quảng Ninh- Trưởng phòng nhiệp
vụ OCOP Ban xây dựng Nông thôn mới Quảng Ninh, bà Nguyễn Hương
Giang- Phóng viên phòng Biên tập Truyền hình- phụ trách các chuyên mục
khuyến nông, khuyến ngư, Bà Phạm Minh Hiền- phóng viên phòng thời sự
chuyên đưa tin về mảng nông nghiệp, nông thôn và phụ trách chương trình
“101 cách thoát nghèo”, bà Phạm Ngọc Anh- phóng viên phòng Thông Tin
Điện tử, đài Phát thanh Truyền hình Quảng Ninh, nhà báo Tạ Thượng Quân,
Báo Quảng Ninh.’


- Phương pháp bảng hỏi angket: Bảng hỏi được tác giả luận văn phát
cho 100 dân sinh sống trên địa bàn thành phố Hạ Long để thu thập ý kiến đánh
giá của người dân về việc báo chí Quảng Ninh truyền thông cho chương trình
“Mỗi xã, phường, một sản phẩm”
6. Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận:
- Thông qua khảo sát, phân tích các tư liệu trên báo Quảng Ninh và Đài
PT-TH Quảng Ninh, luận văn sẽ góp phần làm rõ vai trò của báo chí Quảng

Chương 2: Thực trạng báo chí Quảng Ninh truyền thông về chương
trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm”.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng truyền thông về mô ̣t sự kiê ̣n
kinh tế trên báo chí điạ phương trong thời gian tới.

CHƢƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA BÁO CHÍ
TRONG TRUYỀN THÔNG CHƢƠNG TRÌNH


“ MỖI XÃ , PHƢỜNG MỘT SẢN PHẨM”
1.1. Khái niệm
1.1.1. Truyền thông
Truyền thông là một hiện tượng xã hội phổ biến, ra đời và phát triển
cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tác động và liên quan trực tiếp
đến mọi cá thể xã hội. Do đó, có rất nhiều khái niệm và định nghĩa khác nhau,
tuỳ theo góc nhìn đối với truyền thông.
Trong sách “Truyền thông đại chúng”, nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia,
2001, PGS.TS Tạ Ngọc Tấn cho rằng: Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa
các thành viên hay các nhóm trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau [56,
tr 8].
Trong cuốn “Truyền thông lý thuyết và kĩ năng cơ bản” do PGS, TS
Nguyễn Văn Dững chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, năm
2012, PGS.TS Nguyễn Văn Dững cho rằng “Truyền thông là quá trình liên
tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm..., chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm
giữa 2 hoặc nhiều người với nhau nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay
đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát
triển của cá nhân nhóm/cộng đồng/xã hội”[24, tr 13]
Như vậy, truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin tư tưởng
tình cảm..., chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa con người với nhau nhằm

Việt Nam hiện nay có khoảng 70% dân số sinh sống”. [36]
1.1.3. Nông thôn mới
Nông thôn mới được hiểu là nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống
vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, có quy hoạch, kết cấu hạ tầng
hiện đại, môi trường sinh thái trong lành, dân trí cao, giữ gìn được bản sắc
văn hóa dân tộc, an ninh chính trị được giữ vững.


Nông thôn mới khác với nông thôn truyền thống. Đó là làng xã văn minh,
sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững, theo hướng kinh tế hàng
hóa; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng cao; bản
sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.
1.1.4. Báo chí
Theo nghi ̣đinh
̣ số

51/2002/ND-CP ngày 26/4/2002 của Chính phủ ,

trong Chương 1, Điề u 1 đã giải thích rõ về thuâ ̣t ngữ “Báo chí” [37]
1- “Báo chí” là tên gọi chung đối với các loại hình báo in, báo hình,
báo nói, báo điện tử.
2- “Báo in” là tên gọi loại hình báo chí được thực hiện bằng
phương tiện in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn).
3- “Báo nói” là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên sóng phát
thanh (chương trình phát thanh).
4- “Báo hình” là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên sóng truyền
hình (chương trình truyền hình, chương trình nghe - nhìn thời sự
được thực hiện bằng các phương tiện khác nhau).
5- “Báo điện tử” là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên mạng
thông tin máy tính (Internet, Intranet).

sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, truyền thống văn hóa, danh
thắng các địa phương vốn dĩ là những tiềm năng lợi thế của các vùng miền
chưa được phát huy, khai thác để phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho
người dân vùng nông thôn.
1.1.7. Điạ văn hoá Quảng Ninh.
Vị trí địa lý
Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam, có dáng
một hình chữ nhật lệch nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam. Phía tây
tựa lưng vào núi rừng trùng điệp. Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu
vịnh Bắc bộ với bờ biển khúc khuỷu nhiều cửa sông. Quảng Ninh có biên giới
quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, có
đường bờ biển dài 250 km. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là tính
đến ngày 1-10-1998 là 611.081,3 ha. Trong đó đất nông nghiệp 243.833,2 ha,
đất chuyên dùng 36.513 ha, đất ở 6.815,9 ha, đất chưa sử dụng 268.158,3 ha.


Địa hình
Quảng Ninh là tỉnh miền núi - duyên hải. Hơn 80% đất đai là đồi núi.
Hơn hai nghìn hòn đảo nổi trên mặt biển cũng đều là các quả núi.
Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo,
với hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779). Trên
vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa
hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong
lòng là những hang động kỳ thú.
Dân tộc
Dân tộc, Quảng Ninh có 22 thành phần dân tộc, song chỉ có 6 dân tộc
có hàng nghìn người trở lên, cư trú thành những cộng đồng và có ngôn ngữ,
có bản sắc dân tộc rõ nét. Ðó là các dân tộc Việt (Kinh), Dao, Tày, Sán Dìu,
Sán Chỉ, Hoa.
Người Việt (Kinh) chiếm 89,23% tổng số dân. Họ có gốc bản địa và

trương của Đảng và Nhà nước
Trước hết phải khẳng định, hoạt động báo chí là hoạt động chính trị.
Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, báo chí đóng vai trò quan trọng, không
chỉ là vũ khí sắc bén của những người cộng sản trong tuyên truyền, thức tỉnh,
giác ngộ quần chúng, giúp họ lựa chọn con đường, đi theo tiếng gọi thiêng
liêng của Đảng, đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước mà còn
là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trong công cuộc xây dựng
CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.


Báo chí luôn là “người” đi tiên phong, chủ động, tích cực tuyên truyền
đường lối, chủ trương của Đảng, sự điều hành của Chính phủ về phát triển
kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng, đối ngoại;
củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đấu tranh kiên quyết chống các tư tưởng
thù địch, phản động, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân lao
động. Báo chí đã, đang góp phần kiến tạo bầu không khí dân chủ trong xã hội,
ngày càng thể hiện tốt hơn vai trò vừa hướng dẫn dư luận xã hội, tham gia có
hiệu quả phản biện xã hội vừa góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Để báo chí thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, những năm qua, Đảng và
Nhà nước ta luôn quan tâm, lãnh đạo báo chí, do đó, báo chí đã phát triển khá
nhanh về số lượng. Theo báo cáo của Ban Tuyên giáo Trung ương, cả nước
có hơn 700 cơ quan báo in; 528 tạp chí; trên 500 đài truyền thanh, truyền
hình cấp huyện, 05 báo điện tử lớn, hàng chục trang báo điện tử là cánh tay
nối dài của báo in, hàng trăm trang thông tin điện tử, hàng ngàn website, với
hơn 17.000 người làm báo chuyên nghiệp được cấp thẻ nhà báo. Phần lớn các
cơ quan báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và định hướng chính trị,
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, báo chí có bước phát triển
về số lượng, trình độ, tham gia ngày càng tích cực vào quá trình truyền thông.

cao chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả cho cộng đồng doanh nghiệp.
Trong thời gian tới, báo chí cần tiếp tục phải tuyên truyền những điểm mới
và khác của chương trình mỗi xã phường một sản phẩm hiện nay so với trước đây.
Vì sao có những điểm mới đó? Những điểm mới đó là gì ? Sẽ được triển khai như
thế nào và hiệu quả như thế nào ? Để tuyên truyền những điểm mới đó, báo chí



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status