Các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển e-banking tại Việt Nam - Pdf 67

Các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển e-banking tại
Việt Nam
I.
Nhóm giải pháp pháp lý
Hiện nay một số ngân hàng đã tiến hành các giao dịch mạng, vậy cơ sở pháp lý
cho các giao dịch đó là gì ? Nếu có tranh chấp xảy ra liên quan tới các giao dịch
điện tử thì sẽ giải quyết như thế nào và cơ quan nào sẽ đứng ra làm trọng tài ?
Tổng Thư ký kiêm Phó Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam, ông Mai Anh, cho rằng
thách thức lớn nhất của thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay là các cơ quan
quản lý chưa thật sự vào cuộc. Ông Mai Anh cũng hối thúc Chính phủ phải
thành lập một cơ quan chuyên trách về thương mại điện tử, theo mô hình của
một số nước láng giềng như Thái Lan, Malaysia, Singapore.
"Năm nay có thể ban hành Pháp lệnh Thương mại điện tử", ông Nguyễn Hữu
Anh, Phó ban soạn thảo Pháp lệnh, đã cho biết như vậy trong buổi hội thảo về
"Con đường đi tới thương mại điện tử ở Việt Nam". Ông thừa nhận tranh chấp
liên quan đến giao dịch điện tử xảy ra bây giờ sẽ không có cơ sở pháp lý để giải
quyết.
Thực ra, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có một số văn bản pháp luật đề cập
những vấn đề liên quan đến thương mại điện tử. Như Luật Thương mại quy định
thư điện tử có giá trị pháp lý như văn bản viết, Bộ Luật Hình sự quy định một số
tội danh liên quan đến vận hành, khai thác mạng máy tính trái phép, hay mới
đây Chính phủ quyết định cho ngành ngân hàng sử dụng chứng từ điện tử trong
thanh toán nội bộ… Tuy nhiên, các văn bản trên còn sơ sài, chưa tạo khung khổ
pháp lý đầy đủ về thương mại điện tử.
Mặc dù vậy không nên hiểu là phải có luật đầy đủ thì mới có thương mại điện
tử. Ngay như Thái Lan là nước phát triển hơn ta nhiều nhưng cũng mới ban hành
luật về giao dịch điện tử 8 tháng trước.
Nhận thức được tính cấp thiết của cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp liên
quan đến giao dịch điện tử có thể xảy ra, đầu năm 2002, Chính phủ đã giao cho
Bộ Thương mại làm đầu mối xây dựng dự thảo Pháp lệnh Thương mại điện tử.
Đây sẽ là khung pháp lý cơ bản cho hình thức kinh doanh mới này.

Chính phủ phải có nghị định về bảo mật, mật mã…
Một vấn đề vô cùng quan trọng mà các ngân hàng luôn phải quan tâm khi triển
khai dịch vụ ngân hàng điện tử là bảo vệ bí mật thông tin khách hàng. Trong
thời gian gần đây, một số ngân hàng thương mại của Việt Nam đã bắt đầu thử
nghiệm và đưa vào thực hiện cung cấp một số dịch vụ ngân hàng thông qua
mạng Internet. Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, công
nghệ Internet, sự gia tăng lượng người sử dụng Internet tại Việt Nam thì việc các
ngân hàng thương mại chuẩn bị và cung cấp dịch vụ ngân hàng thông qua mạng
Internet là một hướng đi đúng đắn và tất yếu. Qua đó, ngân hàng thương mại
Việt Nam dần tiếp cận với công nghệ hoạt động của ngân hàng hiện đại, dịch vụ
ngân hàng điện tử. Thông qua dịch vụ ngân hàng điện tử, khách hàng của ngân
hàng đã có cơ hội để tiếp cận các dịch vụ ngân hàng một cách tốt hơn, tiết kiệm
cả thời gian và chi phí. Vấn đề đặt ra là với trình độ công nghệ, pháp lý hiện
hành tại Việt Nam, mối quan hệ giữa hoạt động ngân hàng điện tử với việc giữ
bí mật thông tin của khách hàng cần phải được xem xét như thế nào.
Giữ bí mật thông tin tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng là nghĩa vụ của ngân
hàng thương mại. Theo qui định tại Nghị định 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000
của Chính phủ về giữ bí mật, lưu giữ và cung cấp thông tin liên quan đến tài sản
và tiền gửi của khách hàng thì các tổ chức tín dụng có nghĩa vụ giữ bí mật tiền
gửi, tài sản gửi của khách hàng tại tổ chức tín dụng, bao gồm tiền gửi đồng Việt
Nam, ngoại tệ dưới các hình thức (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiết kiệm,
…), tài sản gửi của khách hàng như các giấy tờ có giá, quyền sở hữu tài sản theo
qui định của pháp luật…cũng như các thông tin có liên quan đến tiền gửi của
khách hàng bao gồm số hiệu tài khoản, mẫu chữ ký của chủ tài khoản hoặc
người được chủ tài khoản uỷ quyền, các thông tin về doanh số hoạt động và số
dư tài khoản, các thông tin liên quan đến giao dịch gửi, rút tiền, chuyển tiền và
tài sản của khách hàng; nội dung các văn bản, giấy tờ, tài liệu; tên và mẫu chữ
ký của người gửi tiền và tài sản.
Trên cơ sở xác định các thông tin về tiền gửi, tài sản gửi của khách hàng mà các
tổ chức tín dụng có trách nhiệm phải giữ bí mật, pháp luật còn có qui định trình

thông tin theo uỷ quyền), từ đó thực hiện chuyển giao thông tin một cách chính
xác.
Trên cơ sở qui định pháp luật hiện hành và qui trình cung cấp thông tin tiền gửi,
tài sản gửi của khách hàng hiện đang được áp dụng có thể thấy rằng:

Việc cung cấp thông tin tiền gửi, tài sản gửi phải bảo đảm tuân theo qui
trình chặt chẽ, bảo đảm nguyên tắc: Cung cấp, tiếp cận, chuyển giao
thông tin chính xác đối tượng, đúng thẩm quyền của bên yêu cầu cung cấp
thông tin.

Với việc Ngân hàng Nhà nước mở rộng, cho phép tổ chức tín dụng được
qui định qui trình hoặc thoả thuận với khách hàng về qui trình, phương
thức cung cấp thông tin tiền gửi, tài sản gửi, việc cung cấp thông tin tiền
gửi, tài sản gửi của khách hàng thông qua mạng Internet đã có tiền đề
pháp lý để thực hiện.
Vấn đề đặt ra là, trong điều kiện hiện nay, khi số lượng các vụ xâm nhập trái
phép vào hệ thống mạng Internet ngày càng nhiều, độ bảo mật của hệ thống
thông tin luôn là vấn đề được tất cả các nước trên thế giới quan tâm thì việc đưa,
cung cấp thông tin thuộc danh mục bí mật của khách hàng thông qua mạng
Internet có thực sự bảo đảm an toàn ? Liệu ngân hàng thương mại có quyền đơn
phương tự mình qui định theo đó cho phép kết nối, cung cấp thông tin tiền gửi,
tài sản gửi của khách hàng qua mạng Internet mà không cần sự chấp thuận nào
từ phía khách hàng ? Các ngân hàng có phải tuân thủ theo các nguyên tắc, điều
kiện, tiêu chuẩn nào khi thực hiện cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử, cung cấp
dịch vụ ngân hàng thông qua mạng Internet ?
Để làm rõ các vấn đề này đòi hỏi phải xác định được sự an toàn của việc cung
cấp thông tin thông qua mạng Internet, các tiêu chuẩn an toàn khi giao dịch qua
mạng Internet, các yêu cầu đối với qui trình, cách thức giao dịch, cung cấp
thông tin qua mạng Internet theo đó bảo đảm đúng đối tượng, đúng yêu cầu
tương tự cách thức giao dịch trực tiếp, truyền thông và yêu cầu của pháp luật.

Theo những nghiên cứu gần đây về bảo mật thông tin thì có nhiều nguyên nhân
khác nhau dẫn đến không an toàn mạng thông tin. Các nguyên nhân bao gồm:
Thông tin, dữ liệu bị tiếp cận, xâm nhập trên đường truyền Internet; sự thiếu cẩn
trọng của các nhân viên ngân hàng trong việc thực thi chính sách bảo mật; sự
thiếu cẩn trọng của khách hàng giao dịch; hệ thống thiết bị thiếu an toàn; lỗi
phần mềm…Như vậy, để bảo đảm những nguyên tắc, yêu cầu về bảo mật, đảm
bảo an toàn thông tin, mạng thông tin đòi hỏi các ngân hàng phải có chính sách
bảo mật khoa học, thống nhất và phải được thực hiện đồng bộ và trên tất cả các
khía cạnh: bảo mật trong mạng cục bộ của ngân hàng, quản trị mạng Internet,
nâng cao công nghệ, thiết bị bảo mật (thông qua sử dụng tường lửa (firewall)
bằng phần mềm, phần cứng), nâng cao hiểu biết, trách nhiệm của nhân viên
trong việc thực hiện chính sách bảo mật, kiểm tra, khắc phục các lỗi phần mềm,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status