Vai trò của báo chí trong cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam : Luận văn ThS. Khoa học chính trị: 60 31 20 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------****----------

LÊ TUYẾT MAI

VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG CUỘC ĐẤU
TRANH PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG
Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà nội, 2011

1


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 4
NỘI DUNG...................................................................................................... 10
CHƢƠNG 1
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG
CHỐNG THAM NHŨNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN......................... 10
1.1. Một số vấn đề về báo chí ........................................................................ 10
1.1.1. Khái niệm báo chí ................................................................................. 10
1.1.2. Đặc điểm báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới ........................................ 11
1.1.3. Một số quan điểm về vai trò của báo chí trong đời sống xă hội ........ 16
1.2. Một số vấn đề về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng ............. 19
1.2.1. Quan niệm tham nhũng ........................................................................ 19
1.2.2. Đặc điểm tham nhũng ở Việt Nam ....................................................... 25
1.2.3. Thực tiễn phòng, chống tham nhũng ở nước ta.................................. 32

2.3.4. Xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động giữa báo chí với các cơ quan
chuyên trách phòng chống tham nhũng ....................................................... 77
2.3.5. Xây dựng chính sách bảo vệ nhà báo chống tham nhũng.................. 79
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 84

3


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tàì
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và dân chủ hoá hiện nay, thông tin có vai trò
ngày càng quan trọng. Nó trở thành yếu tố quyết định trong cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ, là cơ sở của bƣớc phát triển nhảy vọt trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội, thúc đẩy xu hƣớng hội nhập quốc tế của các quốc
gia, dân tộc trên thế giới. Xuất phát từ nhu cầu đƣợc tiếp cận thông tin của
con ngƣời ngày càng tăng, đòi hỏi sự phát triển tƣơng ứng của truyền thông
đại chúng nói chung và của báo chí nói riêng.
Báo chí đã trở thành một trong những kênh thông tin thiết yếu, cung cấp
cho mỗi công dân những kiến thức về các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóaxã hội. Chúng vận hành theo cơ chế truyền thông, là cơ quan tuyên truyền của
chính phủ và của nền kinh tế, tìm cách thuyến phục công chúng ủng hộ chính
sách của chính phủ và là kênh quyền lực có ảnh hƣởng lớn đến mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội mà bất kỳ giai cấp nào cũng mong muốn đƣợc sử dụng nó
nhƣ một công cụ hữu hiệu nhằm duy trì và bảo vệ lợi ích giai cấp đó. Đối với
cá nhân, báo chí giúp cho mỗi ngƣời vƣợt qua những hạn chế về tri thức, từ
đó có cái nhìn rộng hơn ra thế giới bên ngoài. Bản thân sự tự do của hoạt
động báo chí thể hiện sự tự do ngôn luận của mỗi công dân và là yếu tố căn
bản của một xã hội dân chủ. Với chức năng giáo dục, định hƣớng giá trị, cổ
động, tuyên truyền, tổ chức… nhằm tác động đến nhận thức của con ngƣời, từ
đó thay đổi hành vi và tƣ tƣởng theo hƣớng tích cực, báo chí trở thành nhân tố

nhũng, tiêu cực trong xã hội, mà còn phải phê phán, tấn công trực diện vào
những kẻ tham nhũng, phản ánh ý chí và nguyện vọng chống tham nhũng của
mọi tầng lớp nhân dân.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa đã tác động
mạnh mẽ và sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có báo
chí. Nét nổi bật của báo chí giai đoạn hiện nay là sự đổi mới về cơ chế. Việc
đang bị xóa dần cơ chế bao cấp về tài chính đã đặt ra yêu cầu cho các cơ quan
báo chí vừa phải đảm bảo vai trò là một bộ phận tuyên truyền công tác tƣ
tƣởng của Đảng, vừa làm kinh tế theo luật định, khiến mỗi cơ quan báo chí
phải không ngừng đổi mới, coi đó nhƣ một điều kiện để tồn tại. Những thành
quả của công cuộc đổi mới ở nƣớc ta với sự phát triển vƣợt trội của kinh tế, sự
5


bùng nổ của khoa học, công nghệ thông tin là cơ hội để báo chí Việt Nam
phát triển ngày càng mạnh mẽ, thể hiện rõ nhất ở số lƣợng, chất lƣợng sản
phẩm báo chí và đội ngũ cán bộ báo chí. Ðiều đó làm cho diện mạo báo chí
nƣớc ta ngày càng phong phú và đa dạng hơn, từng bƣớc hòa nhập vào báo
chí khu vực và thế giới.
Bên cạnh những yếu tố tích cực do cơ chế thị trƣờng mang lại, hoạt động
của báo chí nói chung, báo chí chống tham nhũng nói riêng đang đứng trƣớc
nhiều thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất đối với nhà báo chống
tham nhũng là tình trạng thiếu tu dƣỡng đạo đức khiến một bộ phận phóng
viên có hành vi vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp nhƣ: tống tiền,
tham nhũng, làm lộ bí mật quốc gia, bao che hành vi tham nhũng..., làm ảnh
hƣởng đến uy tín, niềm tin trong nhân dân đối với báo chí. Vấn đề đặt ra hiện
nay là làm thế nào để báo chí Việt Nam đƣợc tiếp cận thông tin một cách
thuận lợi, chính xác nhằm phát huy mạnh mẽ, tích cực hơn nữa sức mạnh ngòi
bút trên mặt trận phòng, chống tham nhũng? mối tƣơng quan, chế định lẫn
nhau giữa báo chí và công tác phòng chống tham nhũng là gì?.... là trách

tham nhũng ở nước ta hiện nay” (Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 3/2007) của
Trần Danh Lân; hoặc một số tác phẩm chuyên sâu nghiên cứu về vấn đề tham
nhũng nhƣ: “Phòng chống tham nhũng ở Việt Nam và thế giới” (2007, Nhà
xuất bản Công an Nhân dân) do nhóm tác giả Nguyễn Xuân Yêm, Nguyễn
Hoà Bình, Bùi Minh Thanh đồng chủ biên; “Chống tham nhũng và bản lĩnh
của Đảng cầm quyền” (Tạp chí Lý luận Chính trị số 10/2010) của Hồ Quang
Lợi…
Mọi công dân đều quan tâm đến phòng và đấu tranh chống tham nhũng.
Tham nhũng không chỉ là quốc nạn mà còn là vấn nạn của tất cả các quốc gia
trên thế giới. Nó là một trong những nguyên nhân chính tạo ra sự phản kháng
của nhân dân, làm cho bộ máy quyền lực nhà nƣớc bị tha hoá, đời sống kinh
tế- xã hội bị suy thoái. Chính vì vậy, phòng và đấu tranh chống tham nhũng là
một trong những tiêu chí hàng đầu để đi đến nắm giữ, củng cố và duy trì
quyền lực nhà nƣớc. Các tác phẩm nhƣ: “Kinh nghiệm phòng, chống tham
nhũng của một số nước trên thế giới” của Ban Nội chính Trung ƣơng Đảng
Cộng sản Việt Nam;“Nhận diện tham nhũng và các giải pháp phòng chống
tham nhũng ở Việt Nam” (2008, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia) của Phan
Xuân Sơn và Phạm Thế Lực; “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy quyền làm
chủ của nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng” (Tạp chí Lý
8


luận Chính trị số 6/2010) của Trần Minh Tƣởng… giúp chúng ta hiểu sâu sắc
các vấn lý luận về tham nhũng cũng nhƣ thực tiễn chống tham nhũng ở nƣớc
ta và các nƣớc trên thế giới. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, vấn đề
tham nhũng và vai trò của báo chí trong cuộc chiến chống tham nhũng cũng
đƣợc đề cập, bàn luận tại những hội thảo đánh giá, tổng kết thực tiễn về công
tác phòng, chống tham nhũng, những cuộc đối thoại với các nhà tài trợ diễn ra
gần đây.
Tất cả những công trình nghiên cứu trên dù trực tiếp hay gián tiếp liên

Đề tài luận văn đƣợc thu hẹp trong phạm vi khảo sát vai trò của báo chí
trên mặt trận phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, từ năm
1986 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam thời
kỳ đổi mới.
- Phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc áp dụng chủ yếu trong luận văn là: lôgiclịch sử, phân tích- tổng hợp, thống kê, so sánh, nghiên cứu tài liệu...
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn góp phần làm rõ thực tiễn phòng, chống tham nhũng ở nƣớc ta
hiện nay.
- Phân tích thực trạng hoạt động của báo chí trong phòng và đấu tranh
chống tham nhũng ở nƣớc ta.
- Góp phần nâng cao nhận thức về vai trò của báo chí nói chung, vai trò
của báo chí trong phòng, chống tham nhũng nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 2 chƣơng, 5 tiết.

10


NỘI DUNG
Chƣơng 1
VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG CUỘC ĐẤU TRANH PHÒNG
CHỐNG THAM NHŨNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Một số vấn đề về báo chí
1.1.1. Khái niệm báo chí
Điều 1 Luật Báo chí (sửa đổi, bổ sung năm 1999) nêu rõ: “Báo chí ở nƣớc
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phƣơng tiện thông tin đại chúng thiết

tranh chống tham nhũng, lãng phí và những hành vi tiêu cực trong xã hội; góp
phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa- xã hội, nâng cao
lòng tin của nhân dân đối Đảng và Nhà nƣớc. Báo chí cũng đã góp phần tích
cực làm cho cộng động ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài và nhân dân thế giới
ngày càng hiểu rõ hơn quan điểm, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nƣớc
ta. Đội ngũ những ngƣời làm báo đã nỗ lực phấn đấu để thông tin nhanh, đa
dạng, phong phú nhiều chiều; tích cực đi sâu nghiên cứu thực tiễn để hiểu và
phản ánh chân thực, sinh động mọi mặt đời sống xã hội. Đảng, Nhà nƣớc và
nhân dân ta đánh giá cao những công lao, đóng góp của báo chí trong các thời
kỳ cách mạng trƣớc đây và trong những năm đổi mới vừa qua.
1.1.2. Đặc điểm báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới
Trong tiến trình phát triển, do những điều kiện khách quan và chủ quan,
báo chí Việt Nam cũng có sự phát triển ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên,
từ năm 1986 đến nay, báo chí nƣớc ta đã có bƣớc phát triển mạnh mẽ, nhanh
chóng và toàn diện. Cụ thể:
- Quy mô, số lượng, chất lượng các loại hình báo chí phát triển nhanh.
Đến nay, cả nƣớc đã hình thành một hệ thống báo chí hoàn chỉnh với 4
loại hình: báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử, đảm nhiệm chức năng vừa
là cơ quan ngôn luận của tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nƣớc và các tổ chức
xã hội, vừa là diễn đàn của nhân dân.
Tính đến tháng 5 năm 2009, nền báo chí nƣớc nhà đã có 706 cơ quan báo
in (trong đó có 76 báo trung ƣơng, 102 báo địa phƣơng, 528 tạp chí), 21 báo
điện tử, 160 trang tin điện tử mang tính báo chí và hàng nghìn trang tin điện
tử có nội dung thông tin thông tin của các cơ quan Đảng, Nhà nƣớc; các đoàn
12


thể, tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp; 76 đài phát thanh, truyền hình với hơn
17.000 ngƣời đƣợc cấp thẻ nhà báo. Đài Tiếng nói Việt Nam đã phủ sóng
97,5% diện tích lãnh thổ quốc gia và qua vệ tinh đến nhiều nƣớc trên thế giới.

13


- Đội ngũ người làm báo chí ngày càng đông đảo và lớn mạnh.
Đội ngũ phóng viên làm báo phát triển mạnh về số lƣợng và trình độ
chuyên môn với trên 17.000 nhà báo đƣợc cấp thẻ hành nghề. Tuy chƣa có
con số thống kê chính thức nhƣng ƣớc chừng có hàng trăm nghìn ngƣời đang
hoạt động trong lĩnh vực báo chí với các công việc nhƣ: phóng viên, biên tập
viên, phát thanh viên, kỹ thuật viên, nhà in, phát hành, đội ngũ nhà lãnh đạo
cơ quan báo chí, đội ngũ cộng tác viên… Đội ngũ này ngày càng đƣợc trẻ
hoá, đƣợc đào tạo bài bản, hệ thống, có chất lƣợng và trình độ chuyên môn.
Đến nay, gần 80% nhà báo có trình độ đại học trở lên, số nhà báo có 1-2 bằng
đại học, sử dụng từ 1 ngoại ngữ trở lên ngày càng tăng. Đội ngũ ngƣời làm
báo giữ vai trò quyết định về nội dung, hình thức và chất lƣợng của các sản
phẩm báo chí, vì vậy càng đƣợc quan tâm thƣờng xuyên.
- Báo chí Việt Nam tham gia tích cực, chủ động vào các hoạt động của
báo chí khu vực và thế giới.
Báo chí Vệt Nam là một bộ phận của báo chí khu vực và thế giới. Trên
cơ sở đƣờng lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phƣơng hoá của
Đảng và Nhà nƣớc, báo chí đã tích cực, chủ động tham gia vào các hoạt động
của khu vực và thế giới, góp phần quan trọng vào tiến trình phát triển chung
của báo chí hiện đại. Hội nhà báo Việt Nam là thành viên của Tổ chức quốc tế
các nhà báo (OIJ), Liên đoàn báo chí ASEAN (CAJ). Hội và các cơ quan báo
chí Việt Nam đẩy mạnh giao lƣu, hợp tác với các tổ chức, cơ quan báo chí của
Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Thụy Điển, Hàn Quốc… Đài truyền
hình Việt Nam, Đài tiếng nói Việt Nam mở rộng phạm vi phủ sóng ra nhiều
nƣớc trên thế giới nhƣ: Châu Á, Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Phi.
Sự hợp tác này đã mang lại hiệu quả và tác động tích cực trong việc đƣa
thông tin trong nƣớc ra thế giới và thu nhận thông tin quốc tế cho công chúng
trong nƣớc, tạo sự hiểu biết, hữu nghị và thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và

các cơ quan báo chí đƣợc trang bị máy móc, thiết bị tƣơng đối hiện đại, tiến
tiến và đồng bộ, chủ yếu là kỹ thuật số. Đặc biệt, với việc Việt Nam phóng
thành công vệ tinh Vinasat 1 vào tháng 4/2008 và sử dụng từ tháng 6/2008 đã
góp phần hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại trên 3 phƣơng diện: Vệ
15


tinh (Vinasat 1); Internet và Cáp quang (cable). Nhờ các phƣơng tiện tiên tiến
này mà việc thu- phát thông tin của báo chí Việt Nam nhanh chóng, chất
lƣợng và hiệu quả hơn rất nhiều so với trƣớc đây.
Nhìn chung, các cơ quan báo chí đã hoạt động đúng định hƣớng chính
trị, đúng pháp luật, thực hiện tốt chức năng là cơ quan ngôn luận của Đảng,
Nhà nƣớc, các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, các đoàn thể nhân
dân, đồng thời là diễn đàn của nhân dân. Báo chí đã tích cực tuyên truyền chủ
nghĩa Mác- Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đƣờng lối của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc đến đông đảo cán bộ, đảng viên và các
tầng lớp nhân dân; theo đó phản ánh kịp thời tâm tƣ, nguyện vọng chính đáng
của nhân dân đến với Đảng, Nhà nƣớc; góp phần tổng kết thực tiễn, nghiên
cứu lý luận, cổ vũ, động viên phong trào thi đua yêu nƣớc, tham gia tích cực
vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, góp phần giữ vững ổng định
chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nâng cao long tin của nhân dân
đối với Đảng và Nhà nƣớc. Báo chí cũng đã góp phần tích cực làm cho cộng
đồng ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài và nhân dân thế giới ngày càng hiểu rõ
hơn đƣờng lối, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nƣớc và những thành
tựu đổi mới của nƣớc ta. Đảng và Nhà nƣớc ta đánh gia cao những đóng góp
quan trọng của báo chí trong các thời kỳ cách mạng trƣớc đây và trong 25
năm đổi mới vừa qua.
Có thể nói rằng, chƣa bao giờ báo chí nƣớc ta đạt đƣợc trình độ phát triển
cao nhƣ hiện nay, cả về số lƣợng, chất lƣợng, loại hình, công nghệ - kỹ thuật
và đội ngũ nhà báo, và cũng chƣa bao giờ vai trò, vị thế xã hội của báo chí

thời kỳ khác”[33,tr8].
Trong điều kiện có chính quyền, vai trò của báo chí tiếp tục đƣợc nâng
cao theo tiến trình của cách mạng: thực hiện các chức năng tuyên truyền, cổ
động và tổ chức; là vũ khí tƣ tƣởng mạnh nhất của Đảng. Báo chí trở thành cơ
quan giáo dục chính trị và kinh tế, tuyên truyền tất cả những cái mới, cái tiên
tiến hình thành từ sự sáng tạo của nhân dân. Do vậy, báo chí cách mạng phải
đấu tranh kiên quyết chống các tƣ tƣởng thù địch, phản động, đi ngƣợc lại lợi

17


ích của giai cấp vô sản và nhân dân lao động, phải có thái độ kiên quyết trong
đấu tranh với các hành vi tiêu cực trong xã hội.
Hoạt động báo chí là hoạt động có ý thức và có mục đích của con ngƣời,
là hoạt động chính trị- xã hội, giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống chính
trị quốc gia. Chính vì vậy, báo chí không chỉ liên quan đến giai cấp mà còn
mang tính giai cấp. Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định: trong xã hội có giai
cấp thì bao giờ báo chí cũng mang tính giai cấp. Báo chí là công cụ nhằm bảo
vệ quyền lợi và vai trò của một giai cấp nhất định.
Kế thừa và phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về báo chí vô
sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi báo chí là một bộ phận của sự nghiệp
cách mạng, là vũ khí sắc bén trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc
và xây dựng đất nƣớc. Là ngƣời sáng lập, ngƣời thầy vĩ đại của báo chí cách
mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức đầy đủ và sâu sắc vai trò
to lớn của báo chí. Từ một ngƣời học viết báo rồi trở thành nhà báo, tất cả các
tác phẩm của Ngƣời đều thấm đƣợm tính Đảng, tính nhân dân. Theo Ngƣời,
“báo chí không phải để một số ít ngƣời xem mà để phục vụ nhân dân, để
tuyên truyền giải thích đƣờng lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, cho nên
phải có tính quần chúng và tinh thần chiến đấu”[40,tr414]. Báo chí chỉ có một
đề tài xuyên suốt là “chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ,

tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc khác….
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần IX của Đảng đã đề ra nhiệm vụ đối với
hoạt động báo chí. Đảng khẳng định vai trò của báo chí là phải “làm tốt chức
năng tuyên truyền, thực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nƣớc; phát hiện cái mới, giới thiệu gƣơng ngƣời tốt, việc
tốt, phê phán các hiện tƣợng tiêu cực đấu tranh với những quan điểm sai trái,
coi trọng nâng cao tính chân thật, tính giáo dục và chiến đấu của thông
tin”[24,tr116]. Báo cáo chính trị trình của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng
khoá X trình tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI nêu rõ : “Chú trọng
nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục, tổ
chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích
của nhân dân và đất nước; khắc phục xu hướng thương mại hoá, xa rời tôn
chỉ, mục đích trong hoạt động báo chí, xuất bản. Tập trung đào tào, bỗi
dưỡng, xây dựng đội ngũ hoạt động báo chí, xuất bản vững vàng về chính trị,
19


tư tưởng, nghiệp vụ và có năng lực đáp ứng tốt yêu cầu của thời kỳ mới. Rà
soát, sắp xếp hợp lý mạng lưới báo chí, xuất bản trong cả nước theo hướng
tăng cường hiệu quả hoạt động, đồng thời đổi mới mô hình, cơ cấu tổ chức,
cơ sở vật chất- kỹ thuật theo hướng hiện đại”1
Đảng ta chủ trƣơng phát triển các phƣơng tiện thông tin đại chúng, thông
tin đa dạng, nhiều chiều, kịp thời, chân thực và bổ ích. Trong điều kiện thông
tin càng nhanh nhạy, càng phong phú càng tốt, nhƣng nhanh nhạy và phong
phú đến mấy cũng phải trung thực, chính xác, toàn diện và không thổi phồng
hoặc bóp méo. Tức là thông tin có cân nhắc hiệu quả xã hội, vì lợi ích chung,
không vì giật gân, câu khách, không mơ hồ, mất cảnh giác, để lộ bí mật quốc
g i a.
Với sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học và công nghệ, ngày nay các
dân tộc trên thế giới trở nên gần gũi nhau hơn. Báo chí chính là chiếc cầu kết

dân chúng vào các giá trị xã hội. Trong thời đại toàn cầu hoá, tham nhũng đã
trở thành tệ nạn mang tính toàn cầu.
Cho đến nay, vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về tham nhũng do
cách tiếp cận từ nhiều lĩnh vực khác nhau: từ kinh tế, chính trị, đạo đức, tôn
giáo, xã hội, giai cấp… và ở mỗi khía cạnh này lại mang nặng dấu ấn của cá
nhân và lịch sử.
Theo Worl Bank, tham nhũng là sự lạm dụng quyền lực công cộng nhằm
lợi ích cá nhân (the abuse of public power for private benefit). Đây là một
định nghĩa mở, tuy nhiên trên thực tế nó đƣợc diễn giải khá hẹp. Theo đó
tham nhũng không bao gồm hành vi tham nhũng trong các công ty tƣ nhân và
cũng bỏ sót hành vi tham nhũng trong đó lợi ích đƣợc dành cho một bên thứ
ba, có thể là cá nhân, tổ chức hay thậm chí là một quốc gia.
Theo điều 2, công ƣớc 1999 của Hội đồng Châu Âu (The Council of
Europe), tham nhũng là hành vi đòi hỏi, đề nghị, đƣa hoặc nhận hối lộ hoặc
một lợi ích khác hoặc hứa hẹn hối lộ hoặc lợi ích khác, trực tiếp hoặc gián
tiếp, làm sai lệch sự thực hiện đúng đắn của bất kỳ chức trách hoặc hành vi
theo nghĩa vụ nào của ngƣời nhận hối lộ, lợi ích khác hoặc hứa hẹn và lợi ích
khác đó. Theo định nghĩa này, sự lạm dụng quyền lực công cộng nhằm mục
đích cá nhân và làm sai lệch chức năng của các tổ chức công cộng cũng nhƣ
tƣ nhân có thể diễn ra mà không hề có hành vi đòi hỏi, đề nghị, đƣa hoặc
nhận hối lộ hoặc lợi ích khác hoặc hứa hẹn hối lộ hoặc lợi ích khác. Nghĩa là,
định nghĩa của Hội đồng Châu Âu về tham nhũng chỉ đƣợc nhìn nhận ở góc
độ hẹp.
Theo tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International- TL), tham
nhũng hay tham ô là hành vi “của một ngƣời lạm dụng chức vụ, quyền hạn
hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ cho lợi ích cá nhân.
21


Tham nhũng là một hệ quả tất yếu của nền kinh tế kém phát triển, quản lý



- Gặp giặc mà rút ra không giám đánh, tham sống, sợ chết.
Từ đó, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “do bất liêm mà đi đến tội ác, trộm
cắp”[39,tr641]
Nguồn gốc của tham nhũng là do tha hoá quyền lực nhà nƣớc, do thiếu
dân chủ. Thiếu dân chủ đƣợc Hồ Chí Minh xem xét từ hai phía. Một là: từ
phía ngƣời cán bộ, công chức nhà nƣớc mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh; hai
là: “quan tham vì dân dại”. Nếu dân hiểu biết, không chịu đút lót, thì quan dù
không liêm cũng phải hoá ra liêm. Vì vậy, “dân phải biết quyền hạn của mình,
phải biết kiểm soát cán bộ để giúp cán bộ thực hiện chứ LIÊM”. Bản chất của
tham nhũng là chủ nghĩa cá nhân, là trục lợi, cán bộ có quyền mà thiếu lƣơng
tâm, là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tƣ”[39,tr641].
Vì thế, muốn chống tham nhũng phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân với tất cả
các biện pháp, trong đó “pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm,
bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”[39,tr641]
Trong văn kiện Đảng ta, khái niệm tham nhũng chính thức đƣợc sử dụng
trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12- 1986). Trong
khi nêu quyết tâm chống tham nhũng, chống đặc quyền, đặc lợi, Đảng ta giải
thích nội dung các khái niệm “Tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi” là: Sống
không lành mạnh, sống không bằng lao động của mình; tƣ tƣởng và hành
động chạy theo đồng tiền, tính ích kỷ; hành vi xâm phạm tài sản xã hội chủ
nghĩa, xâm phạm lợi ích của nhân dân; ăn cắp của công, lấy của công để biếu
xén, chè chén, phân phối nội bộ; tự ý quy định những chế độ cung cấp, trang
bị phƣơng tiện sinh hoạt trái với chế độ chung… Đảng ta khẳng định, những
biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ đảng viên là
nguyên nhân của các vụ việc nội cộm, phần lớn liên quan đến tham nhũng,
lãng phí, quan liêu.
Tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (tháng 1-1994),
Đảng ta đã đặt vấn đề: “Đấu tranh chống tham nhũng là vấn đề nóng bỏng,

sắm công và xây dựng cơ bản; trong quản lý dự án đầu tƣ xây dựng; trong
lĩnh vực tài chính, ngân sách và kiểm toán; trong huy động và sử dụng đóng
góp của nhân dân; trong sử dụng các khoản hỗ trợ, viện trợ; trong quản lý
doanh nghiệp nhà nƣớc; trong sử dụng đất, nhà ở; trong lĩnh vực giáo dục, y
tế, khoa học và công nghệ; thể dục, thể thao; giải quyết khiếu nại, tố cáo...
24


Tham nhũng làm chậm sự phát triển kinh tế- xã hội, làm giảm lòng tin của
công dân vào nhà nƣớc, đến chứng mực nào đó nó gây mất ổn định chính trị,
kinh tế, xã hội.
Trên thực tế, đôi khi tham nhũng đƣợc hiểu thuần tuý theo khía cạnh pháp
luật nhƣ là hành vi kiếm lời trái phép. Tuy nhiên, trong một số thể chế, bản
thân pháp luật không phải là sự thể hiện ý chí xã hội mà chỉ là sản phẩm của
một hay một nhóm ngƣời vì những mục đích khác nhau. Vì thế, bản thân luật
có thể cũng đã là kết quả tham nhũng, không thể dùng làm tiêu chí để xác
định tham nhũng đƣợc.
Tham nhũng là vấn đề đau đầu của tất cả các chính thể trên thế giới, bất
kể trình độ phát triển, định hƣớng, khu vực và truyền thống văn hoá với
những mức độ khác nhau. Tham nhũng không hề giảm mà trái lại dƣờng nhƣ
còn trầm trọng hơn và ngƣời hăng hái chống tham nhũng nhiều khi phải chịu
những hậu quả khôn lƣờng.
Trƣớc diễn biến phức tạp và trầm trọng của nạn tham nhũng, để tiếp tục
thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, việc
tăng cƣờng công tác phòng chống tham nhũng là một trọng trách cấp bách, to
lớn và nặng nề, một vấn đề có ý nghĩa mất còn đối với Đảng, Nhà nƣớc, một
mệnh hệ sinh tử đối với chế độ xã hội ta. Nghị quyết Trung ƣơng 3, khoá X
của Đảng về “tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống
tham nhũng, lãng phí” trên cơ sở đánh giá tình h ình, nguyên nhân của tệ nạn
tham nhũng, lãng phí hiện nay đã đề ra một hệ thống quan điểm, giải pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status