MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DU LỊCH VÀ KINH DOANH LỮ HÀNH DU LỊCH - Pdf 68

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ DU LỊCH VÀ KINH DOANH LỮ HÀNH
DU LỊCH
1.1 Những khái niệm cơ bản về du lịch.
1.1.1 Khái niệm về du lịch.
Ngày nay nền kinh tế thế giới đã phát triển ở mức độ cao, khoa học công
nghệ phát triển như vũ bão, mức sống dân cư trên thế giới được nâng lên nhiều
lần, du lịch trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hoá xã hội của
con người và hoạt động du lịch đang phát triển mạnh mẽ, trở thành nền kinh tế
quan trọng của nhiều nước trong đó có cả các nước công nghiệp phát triển.
Tuy nhiên cho đến nay không chỉ nước ta nhận thức về nội dung du lịch
vẫn chưa được thống nhất do hoàn cảnh ( thời gian, khu vực ) khác nhau. Đối
với du lịch có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa. Theo
những quan điểm chung nhất thì du lịch có được hiểu là:
- Một hiện tượng xã hội.
- Một hoạt động kinh tế.
Tháng 6 năm 1999 Hội nghị quốc tế tại Ottawa Canada đã định nghĩa về
du lịch như sau:
“ Du lịch là một hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường
thường xuyên. Trong khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định
trước, mục đích chuyến đi không chỉ là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền
trong phạm vi vùng tới thăm”.
Theo Luật du lịch Việt Nam: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến
đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu
tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”.
1.1.2 Các loại hình du lịch chính.
1.1.2.1. Phân loại theo môi trường tài nguyên.
* Du lịch thiên nhiên.
Du lịch thiên nhiên là loại hình du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu về với
thiên nhiên của con người, điểm đến của loại hình du lịch này là những nơi có
môi trường tự nhiên trong lành cảnh quan tự nhiên hấp dẫn.
* Du lịch văn hoá.

nước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với dân ngoài địa phương và có những thay
đổi nhất định trong kinh tế do hoạt động du lịch gây lên.
Theo Luật du lịch Việt Nam định nghĩa: “ Điểm du lịch là nơi có tài
nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”.
* Những điều kiện cần phải thoả mãn để hình thành điểm du lịch bao gồm:
- Phải có tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú độc đáo và có sức hấp
dẫn với du khách.
- Phải đảm bảo các điều kiện vệ sinh cần thiết.
- Phải được xây dựng tốt, có lối đi thuận tiện và phải được duy trì tốt.
- Phải có cơ sở lưu trú như: khách sạn. motel, nhà nghỉ...
- Phải có cửa hàng và các quầy bán hàng, đặc biệt là hàng thực phẩm.
- Phải được trang bị đa dạng và đầy đủ như: Trang thiết bị y tế, nơi chơi
thể thao, bể bơi...
Trong thực tế điểm du lịch đước hình thành dưới tác động của 3 nhóm
nhân tố:
- Nhóm thứ nhất: Gồm các nhân tố liên quan đến sức hấp dẫn của điểm
du lịch như: vị trí địa lý, tài nguyên du lịch, kinh tế, xã hội, chính trị. chính sách
của nhà nước, chất lượng dịch vụ...
- Nhóm thứ hai: Gồm các nhân tố đảm bảo giao thông cho khách đến
điểm du lịch.
- Nhóm thứ ba: Gồm những nhân tố liên quan đến việc đảm bảo cho
khách lưu trú tại điểm du lịch, đó là các cơ sở ăn uống, cơ sở lưu trú, các cơ sở
phục vụ vui chơi giải trí...
Theo Luật du lịch Việt Nam có điểm du lịch quốc gia và điểm du lịch địa
phương.
1.1.3.2 Tuyến du lịch.
Theo luật du lịch Việt Nam định nghĩa: “ Tuyến du lịch là lộ trình liên
kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với tuyến
giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không”.
Theo Luật du lịch việt Nam điều 24 quy định: có tuyến du lịch quốc gia

-Bậc 1: nhu cầu sinh học
-Bậc 2: nhu cầu an toàn
-Bậc 3: nhu cầu xã hội
-Bậc 4: nhu cầu tự trọng, được mọi người tôn trọng
-Bậc 5: nhu cầu tự thể hiện mình.
Theo Maslow, cá nhân chỉ phát sinh nhu cầu ở cấp độ cao khi các nhu cầu
ở cấp độ thấp được thoả mãn. Nghĩa là thoả mãn những nhu cầu sinh lý như: ăn
uống, đi lại, chỗ ở... thì con người mong muốn tiến đến những nhu cầu cao hơn.
Đây cũng chính là cơ chế nảy sinh nhu cầu của con người.
• Nhu cầu sinh học( nhu cầu thiết yếu).
Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu cơ bản nhất đảm bảo sự sinh tồn của con
người. Đối với khách du lịch, những nhu cầu cơ bản như: ăn, uống, ngủ, nghỉ
không ngừng đỏi hỏi phải thoả mãn một cách đầy đủ về mặt lượng mà còn đòi
hỏi đảm bảo về mặt chất. Nhìn chung ở mức độ chu cầu này thường có những
mong muốn.
- Thoát khỏi thói quen thường ngày.
- Thư giãn cả về tinh thần và thể xác.
- Tiếp xúc với thiên nhiên đặc biệt là thiên nhiên hoang dã.
- Tìm kiếm những cảm giác mới lạ.
• Nhu cầu an toàn.
Đối với khách du lịch là người đã rời nơi ở thường xuyên của mình đến
những nơi xa lạ, mới mẻ chưa thể dễ dàng thích ứng được ngay với môi trường
xung quanh nên mong muốn được đảm bảo an toàn về tính mạng, thân thể với
họ càng cấp thiết hơn.
• Nhu cầu giao tiếp.
Những nhu cầu về sinh lý an toàn được thoả mãn cũng có nhiều ý nghĩa
về cảm giác cơ thể, con người luôn có nhu cầu sống trong một nhu cầu nào đó
và được người khác quan tâm đến.
Trong du lịch cũng vậy mỗi cuộc hành trình, các đối tượng trong đoàn
không phải khi nào cũng là người quen biết mà phần lớn họ không có quan hệ

1.3.1.2 Kinh doanh lữ hành.
Theo định nghĩa của Tổng cục Du lịch Việt Nam( TCDL _ Quy chế quản
lý lữ hành ngày 29/4/1995) thì “ Kinh doanh lữ hành là việc thực hiện các hoạt
động nghiên cứu thị trường, thiết lập chương trình du lịch trọn gói hay từng phần,
quảng cáo và bán chương trình này trực tiếp hay gián tiếp thông qua trung gian
hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch”.
Các doanh nghiệp lữ hành đương nhiên được phép tổ chức mạng lưới lữ hành.
Theo Tổng cục Du lịch Việt nam phân loại thì kinh doanh lữ hành bao
gồm hai loại là: kinh doanh lữ hành quốc tế và kinh doanh lữ hành nội địa.
- Kinh doanh lữ hành quốc tế: là việc tổ chức đưa khách ra nước ngoài
hoặc đưa khách nước ngoài vào nước sở tại.
- Kinh doanh lữ hành nội địa: là việc tổ chức cho khách là công dân một
nước, những người cư trú tại một nước đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ nước đó.
Theo Luật du lịch Việt Nam điều 34 quy định:
“- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường
trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
- Khách du lịch quốc tế: là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở
nước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường
trú tại Việt nam ra nước ngoài du lịch”.
1.3.2 Phân loại kinh doanh lữ hành.
Khái niệm doanh nghiệp lữ hành: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên
riêng, có tài sản, có trụ sở ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Bất cứ doanh
nghiệp nào được pháp luật cho phép và có thực hiện kinh doanh lữ hành đều
được gọi là doanh nghiệp lữ hành.
Tùy vào quy mô, phạm vi hoạt động và tính chất của tài sản, hình thức
tổ chức, tư cách pháp nhân mà doanh nghiệp kinh daonh lữ hành có các tên gọi
khác nhau: công ty lữ hành, đại lý lữ hành, công ty lữ hành quốc tế, công ty lữ
hành nội địa. Riêng ở Việt Nam, phần lớn các doanh nghiệp có kinh doanh lữ
hành có cách gọi phổ biến là các trung tâm lữ hành quốc tế, nội địa nằm trong

vùa liên kết các dịch vụ thành sản phẩm mang tính nguyên chiếc, vừa thực hiện
bán buôn, bán lẻ vừa thực hiện chương trình du lịch đã bán. Đây là kết quả
trong quá trình phát triển và thực hiện liên kết dọc, liên kết ngang của các chủ
thể kinh doanh lữ hành trong ngành du lịch. Các doanh nghiệp thực hiện kinh
doanh lữ hành tổng hợp được gọi là các công ty du lịch.
1.3.2.2 Căn cứ và phương thức và phạm vi hoạt động.
Có các loại: Kinh doanh lữ hành gửi khách, kinh doanh lữ hành nhận
khách, kinh doanh lữ hành kết hợp:
- Kinh doanh lữ hành gửi khách: bao gồm cả gửi khách quốc tế, gửi
khách nội địa, là các loại hình kinh doanh mà hoạt động chính của nó là tổ chức
thu hút khách du lịch một cách trực tiếp để đưa khách đến nơi du lịch nổi tiếng.
Loại hình kinh doanh lữ hành này thích hợp với nơi có cầu du lịch lớn. Các
doanh nghiệp thực hiện kinh doanh lữ hành gửi khách gọi là công ty lữ hành gửi
khách.
- Kinh doanh lữ hành nhận khách: bao gồm cả nhận khách quốc tế và nội
địa, là loại hình kinh doanh mà hoạt động chính của nó là xây dựng các chương
trình du lịch và tổ chức các chương trình du lịch đã bán cho khách thông qua
các công ty lữ hành gửi khách. Loại hình kinh doanh này thích hợp với những
nơi có tài nguyên du lịch nổi tiếng. Các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh
daonh lữ hành này gọi là các công ty lữ hành nhận khách.
- Kinh doanh lữ hành kết hợp: có nghĩa là sự kết hợp giữa kinh doanh lữ
hành gửi khách và kinh daonh lữ hành nhận khách. Loại kinh doanh này thích
hợp với quy mô lớn, có đủ nguồn lực để thực hiện các hoạt động gửi khách và
nhận khách. Các doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh lữ hành kết hợp
được gọi là các công ty du lịch tổng hợp hoặc các tập đoàn du lịch.
1.3.3 Đặc điểm của kinh doanh lữ hành.
Khác với các ngành kinh doanh hàng hoá, ngành kinh doanh lữ hành
mang những đặc điểm sau:
- Phụ thuộc vào tài nguyên du lịch ở các điểm du lịch, có thể xem giá trị
tài nguyên du lịch ở các điểm du lịch quyết định độ phong phú của chương trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status