THỰC TIỄN ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI - Pdf 68

Thực tiễn điều hành chính sách tỷ giá hối đoái
của một số quốc gia trên thế giới
Chơng 1 đa ra một cái nhìn tổng quát về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá
hối đoái cùng với mục tiêu, tác động và mối quan hệ với thơng mại quốc tế. Vì vậy
trong chơng 2, chúng ta sẽ tìm hiểu thực tế thế giới về việc điều hành chính sách tỷ
giá hối đoái và tác động của nó đến thơng mại. Điểm lại kinh nghiệm điều hành chính
sách tỷ giá hối đoái của các nớc trên thế giới, một số nớc thì lựa chọn chính sách phá
giá tiền tệ, nghĩa là một đồng nội tệ yếu để phát triển kinh tế xã hội; một số nớc
khác thì lại theo đuổi chính sách nâng giá tiền tệ trong quá trình phát triển nền kinh
tế. Đối với các nớc áp dụng chính sách nâng giá, có nớc đã gặt hái đợc những thành
công nhất định và cũng có nớc không thành công khi sử dụng chính sách này để nỗ
lực đạt đợc những mục tiêu kinh tế, chính trị và xã hội của mình. Điển hình nhất là
Nhật Bản với việc điều hành chính sách nâng giá tiền tệ hết sức thành công, đã đem
lại cho Nhật Bản những thành quả tuyệt vời trong việc phát triển cả về kinh tế và xã
hội, khiến cho chính phủ các quốc gia khi nhắc đến một bài học về chính sách nâng
giá tiền tệ thì không khỏi không nhắc đến Nhật Bản. Tiếp đó là Đức với chính sách
đồng nội tệ mạnh cùng các công cụ điều hành khác đã khiến nớc Đức thay da đổi thịt,
trở thành một cờng quốc mạnh về kinh tế. Và Mỹ là một thực tế điển hình của một
siêu cờng quốc với bớc sai lầm cùng chính sách nâng giá tiền tệ. Chính vì những kinh
nghiệm quí báu phát sinh từ thực tiễn áp dụng chính sách nâng giá đồng nội tệ của
các quốc gia này là hết sức rõ ràng, nên trong chơng 2, khoá luận này tập trung phân
tích thực tiễn của các nớc Nhật Bản, Đức và Mỹ với đồng nội tệ mạnh đã có những tác
động nh thế nào đến thơng mại của các nớc này. Việc nghiên cứu thực tiễn này sẽ có
ý nghĩa hết sức quan trọng cho Việt Nam để có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc
điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của mình.
I. Nhật Bản
1. Tình hình chung
Nền kinh tế Nhật Bản cũng nh các nền kinh tế khác trên thế giới, đặc biệt là
các nền kinh tế của các nớc công nghiệp phát triển, đã chịu nhiều tác động tiêu
cực bởi những cú sốc từ giá dầu và sự thay đổi của chế độ tỷ giá hối đoái. Sau cú
sốc giá dầu lửa và sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ tỷ giá Bretton Woods 1973, từ

thuận lợi cho Nhật giảm sóc cho nền kinh tế do tác động của các cuộc khủng
hoảng, thay đổi chiến lợc phát triển cơ cấu kinh tế và xuất khẩu để khai thác
những thế mạnh hiện có của mình. Đồng JPY lên giá làm cho giá hàng nhập khẩu
vào Nhật rẻ hơn đã góp phần quan trọng vào việc giảm bớt những tác động từ cú
sốc giá dầu năm 1973. Vì vậy, kinh tế và ngoại thơng Nhật Bản trong giai đoạn
này vẫn duy trì đợc tốc độ tăng trởng cao
1
hơn nhiều nớc công nghiệp phát triển
khác.
Biểu đồ 2.1 cho thấy từ năm 1970 đến 1976, tốc độ tăng trởng GDP của
Nhật Bản là 7,0% tăng gần gấp 3 lần các cờng quốc Anh, Mỹ và Đức lần lợt là
2,5%, 2,8% và 2,5%. Kể từ sau cuộc khủng hoảng giá dầu năm 1973, tuy tốc độ
tăng trởng GDP có giảm nhng tình hình chung là tốc độ tăng trởng của các nớc
công nghiệp phát triển khác cũng giảm đáng kể. Trong giai đoạn 1976 1982,
Nhật Bản vẫn có xuất nhập khẩu tăng mạnh và duy trì mức độ tăng trởng cao hơn
các cờng quốc nh Anh, Mỹ và Đức. Lợng nhập khẩu của Nhật Bản vẫn ở mức
ngang ngửa với các nớc đó nhng xuất khẩu thì tăng gần gấp đôi với tốc độ 8,0%
trong khi đó Anh là 4,3%, Mỹ là 5,4% và Đức là 5,3%. Tốc độ tăng trởng trong
giai đoạn này giảm xuống còn 3,9% so với giai đoạn trớc (7,0%) nhng vẫn gấp
hơn 2 lần so với các nớc công nghiệp phát triển trên.
1 Tuy có giảm hơn giai đoạn trớc.
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 12 năm 1992.
Có thể thấy rõ hơn tác động tăng giá của đồng JPY vào thời gian này có tác
động giảm sóc cho nền kinh tế Nhật thông qua việc xem xét mức độ phụ thuộc
của nền kinh tế Nhật vào bên ngoài. Do đặc điểm về địa lý, đất nớc này phải phát
triển kinh tế trong điều kiện phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn lực từ bên ngoài,
đặc biệt là nguồn lực về nguyên nhiên vật liệu. Có tới gần 100% các nguyên nhiên
vật liệu chủ chốt cho phát triển công nghiệp Nhật Bản phải nhập khẩu từ nớc
ngoài (xem bảng 2.2). Nhật Bản nhập khẩu 100% quặng sắt là nguyên liệu cho
các ngành chế tạo máy móc thiết bị, cơ khí , chủ yếu từ các n ớc úc, Braxin và

Tuy đồng JPY tăng giá có tác động làm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá
Nhật và gây khó khăn cho xuất khẩu, nhng chính việc lợi dụng sự lên giá đồng
JPY phối hợp với những chính sách điều chỉnh thích hợp kịp thời, Nhật đã đa nền
kinh tế nhanh chóng thoát ra khỏi khủng hoảng và tiếp tục tăng trởng (nh chính
sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành kinh tế sử dụng công nghệ
tốn ít nguyên nhiên vật liệu và các nguyên nhiên vật liệu mới, phát triển các
ngành công nghiệp có lợi thế so sánh và cạnh tranh , khuyến khích xuất khẩu,
hạn chế nhập khẩu; và lợi dụng đồng JPY lên giá chuyển hớng từ xuất khẩu mạnh
hàng hoá sang xuất khẩu vốn ). Kết quả là nền kinh tế tiếp tục có tốc độ tăng tr -
ởng khá cao và đã tác động trở lại thúc đẩy xuất khẩu tăng trởng nhanh và mở
rộng ra phạm vi toàn thế giới. Nên chính vào thời kỳ này, cán cân thơng mại của
Nhật đã chuyển mạnh sang thặng d vào cuối những năm 70.
Bảng 2.4: Tình hình cán cân thơng mại của Nhật Bản thập kỷ 70.
Năm
Xuất khẩu Nhập khẩu
Cán cân thơng
mại
Triệu USD Tỷ lệ tăng (%) Triệu USD Tỷ lệ tăng (%) Triệu USD
1970 19.318 20,8 18.881 25,7 437
1971 24.019 24,3 19.712 4,4 4.307
1972 28.591 19,0 23.471 19,1 5.120
1973 36.930 29,2 38.314 63,2 -1.384
1974 55.536 50,4 62.110 62,1 -6.574
1975 55.753 0,4 57.836 -6,8 -2.110
1976 67.225 20,6 64.799 12,0 2.426
1977 80.495 19,7 70.809 9,3 9.686
1979 103.032 5,6 110.672 39,5 -7.640
Nguồn: Tạp chí những vấn đề kinh tế thế giới số 3/6 năm 2000.
Bảng 2.4 cho thấy sự tác động có tính giảm và tính trễ của những thay đổi
trong tỷ giá hối đoái và giá trị đồng JPY. Khi chuyển đổi chế độ tỷ giá, đồng JPY

ơng lai.
Thời kỳ 1973 1980 với 2 cuộc khủng hoảng dầu mỏ xảy ra trên toàn
cầu, Nhật Bản với chính sách nâng giá đồng nội tệ và các biện pháp điều hành nền
kinh tế khác, trong đó chính sách nâng giá là yếu tố quan trọng nhất, đã khiến nền
kinh tế Nhật Bản tăng trởng mạnh, đó là mục tiêu mà chính phủ Nhật Bản hớng
tới và họ đã đạt đợc mục tiêu đó.
2.2. Giai đoạn 1980 1985 - khai thác những mặt tích cực của đồng JPY giảm
giá
Trong thập kỷ 70, đồng JPY lên giá đã có những tác dụng tích cực đến
ngoại thơng Nhật Bản, cán cân thơng mại thặng d lớn và đầu t hay xuất khẩu vốn
của Nhật Bản ra nớc ngoài tăng nhanh chóng. Tuy có bị ảnh hởng bởi các cuộc
khủng hoảng do giá dầu tăng mạnh gây nên vào năm 73 và 78 nhng Nhật Bản là
một minh chứng cho việc áp dụng thành công chính sách nâng giá để cải thiện
tình hình kinh tế, thoát khỏi suy thoái và tăng trởng mạnh hơn so với các nớc
trong khu vực vào cùng thời kỳ.
Tuy nhiên, sự lên giá nhanh và liên tục của đồng JPY vào những năm cuối
thập kỷ 70 đã khiến việc đi vay bằng đồng JPY trở nên ngày càng đắt, làm giảm
sút đầu t trong nớc và bắt đầu cản trở dòng vốn đầu t của Nhật Bản ra nớc ngoài,
năm 1980 FDI của Nhật Bản ra nớc ngoài giảm -6,0% so với năm 1979 (xem bảng
2.5).
Nguồn: Statiscal Yearbook for Asia and the Pacific 1991.
Chính tác động của những điều chỉnh tỷ giá để tăng giá đồng USD của Mỹ
vào thời điểm đầu những năm 80 với hệ quả là ngân hàng trung ơng Nhật Bản
(BOJ) phải thu hẹp cung ứng cơ số tiền tệ đã phần nào làm cho việc cải tạo cơ cấu
đầu t chậm lại vì tín dụng khá khan hiếm trong những năm 1981 1984, mặc dù
lãi suất thị trờng đã đợc BOJ hạ liên tục để giảm bớt khó khăn cho đầu t. Hớng
điều chỉnh chính sách tiền tệ này là hậu quả của một đồng JPY mạnh đã bị suy
yêú do chính phủ Mỹ lên giá đồng USD nhằm phục vụ cho sự cải thiên cán cân
thanh toán (Mỹ là bạn hàng số 1 của Nhật Bản và nền kinh tế Mỹ quá lớn, vì vậy
ngay khi FED tăng giá USD thì lập tức giá trị đồng JPY giảm). Để bảo vệ đồng

2.3. Giai đoạn 1986 1993 - điều chỉnh đồng JPY lên xuống cùng với đồng
USD
Cuối năm 1985, chính sách của Hoa Kỳ đột ngột chuyển hớng ngợc lại. Để
kích thích kinh tế tăng trởng nhanh, FED hạ lãi suất chiết khấu và bành trớng
cung ứng tiền, USD tụt giá mạnh từ cuối năm 1985. Đồng JPY lại tiếp tục lên giá
một cách nhanh chóng. Đồng JPY lên giá 20% giữa 2 năm 1984 1985, đến
năm 1986, nó tiếp tục lên giá 25% (xem đồ thị 2.8). Kết quả là nhập khẩu từ Mỹ
vào Nhật tăng vọt lên 22,8% trong năm 1986 so với mức tăng bình quân 17% đến
18% của các năm trớc.
Nguồn: Statiscal Yearbook for Asia and the Pacific 1997.
Ngân hàng BOJ đã có một vài nhận định vào cuối năm 1986 nh sau:
- Thứ nhất, Mỹ sẽ tiếp tục phá giá USD để hỗ trợ cho xuất khẩu và đặc biệt là
chính sách lãi suất thấp để kích thích kinh tế tăng trởng trong một vài năm tới và
sự khuyến khích điều chỉnh cơ cấu sản xuất của Nhật Bản tiếp tục đòi hỏi phải
tăng cung ứng tiền tệ các loại trong tình hình lạm phát đã ổn định.
- Thứ hai, nếu đồng JPY lên giá quá nhanh mà không can thiệp, sẽ phơng hại
đến đại bộ phận xuất khẩu hàng hoá hữu hình, mặc dù nó tạo thuận lợi cho Nhật
Bản trong việc xuất khẩu t bản. Quyền lợi của các ngành xuất khẩu ô tô, máy
móc, thiết bị đòi hỏi phải giữ đồng JPY lên giá một cách đều đều, không quá
nhanh.
- Thứ ba, chính sách phá giá đồng USD của Mỹ đã tạo điều kiện thuận lợi cho
Nhật Bản để tích luỹ ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại hối nhằm đảm bảo cho đồng JPY
mạnh hơn trong tơng lai.
Từ những nhận định trên, BOJ quyết định tăng nhanh cung ứng tiền tệ ra thị
trờng ngoại hối để mua USD về. Kết quả là dự trữ ngoại tệ của Nhật Bản (xem
bảng 2.9) tăng gấp đôi trong năm 1987, tăng 20% trong năm 1988 và đồng JPY
bắt đầu lên giá chậm trong 2 năm 1987 1988 (xem đồ thị 2.8).
Bảng 2.9: Sự tăng giảm của dự trữ quốc gia Nhật Bản trong quá trình
điều tiết cơ số tiền 1980 1990.
Đơn vị: tỷ USD.

Nguồn: BOJ Main Economic Indicators of Japan, 4/1996.
Trong thời kỳ này, để kích thích cơ cấu kinh tế mới phát triển trong điều
kiện đồng USD giảm giá kéo đồng JPY tăng giá theo, ngân hàng trung ơng Nhật
Bản quyết định hạ mức lãi suất chiết khấu đang từ 5,00%/năm vào năm 1985
xuống còn 3,00%/năm vào cuối năm 1986 (xem bảng 2.10), lãi suất thị trờng
cũng giảm theo và tín dụng đợc mở rộng nhanh chóng tác động đến tăng trởng
kinh tế, đặc biết là đối với các ngành mới và các ngành có liên quan đến xuất
khẩu.
Việc đồng JPY lên giá mạnh kết hợp với chính sách lãi suất thấp đã thúc
đẩy cả đầu t trong nớc và đầu t ra nớc ngoài tăng nhanh chóng. Ngoài ra, cùng với
chính sách hạn chế, xiết chặt nhập khẩu hàng công nghiệp, thay đổi cơ cấu xuất
nhập khẩu (đa dạng hoá đối tác để giảm thiểu rủi ro, tăng cờng tái nhập các hàng
hoá sản xuất từ các cơ sở của Nhật Bản ở nớc ngoài để giảm áp lực đồng JPY tăng

Trích đoạn Chính sách tăng giá đồng USD trong thời kỳ 1980 1985 và tác động của –
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status