PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY DỆT MAY 29 - 3
A. ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ TÌNH HÌNH CỦA CÔNG TY:
I- QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ
CỦA CÔNG TY:
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
- Sau ngày miền Nam giải phóng, hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng và
Nhà nước để phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống mới, 38 nhà công thương,
tiểu thương ở Đà Nẵng đã cùng nhau góp hơn 200 lạng vàng để thành lập “Tổ
hợp Dệt khăn 29-3”. Ngày 29/3/1976 Tổ hợp đã chính thức đi vào hoạt động với
số công nhân ban đầu là 58 người.
- Từ năm 1976 đến năm 1978 là giai đoạn làm quen với công nghệ Dệt,
sản phẩm trong giai đoạn này chỉ là khăn mặt và chủ yếu là phục vụ nhu cầu
trong nước. Để có điều kiện mở rộng và phát triển sản xuất. Ngày 28/11/1978
UBND Tỉnh QNĐN (cũ) cho phép Tổ hợp chuyển thành “Xí nghiệp Công ty
hợp doanh 29-3”.
- Từ năm 1979 - 1984: Xí nghiệp từng bước phát triển sản xuất với những
bước đi vững chắc, mặt bằng xí nghiệp được mở rộng lên 10.000m
2
trong đó có
3.000m
2
nhà xưởng được xây dựng. Ngày 29/3/1984 Xí nghiệp được phép chuyển
thành Đơn vị quốc doanh có tên gọi là “Nhà máy Dệt 29/3”.
- Từ năm 1984 - 1989: Nhà máy liên tục hoàn thành vượt mức kế hoạch
với sản lượng năm sau cao hơn năm trước trên 20%. Trong thời gian này nhà
máy được Tỉnh bầu là lá cờ đầu và được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương
lao động hạng III.
- Từ năm 1989 - 1992: Nhà máy gặp khó khăn do thị trường tiêu thụ
chính là Liên Xô (cũ) và Đức bị mất. Trong tình hình đó Nhà máy cố gắng mở
rộng thị trường đa dạng hoá sản phẩm và thành lập một xưởng may mặc xuất
nghiệp Thành phố Đà Nẵng thực hiện những chức năng của mình là sản xuất
kinh doanh mặt hàng khăn bông các loại phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và
xuất khẩu, đồng thời công ty nhận thực hiện gia công các mặt hàng may mặc
theo đơn đặt hàng của mọi khách hàng trong và ngoài nước. Vì vậy hoạt động
kinh doanh của công ty được phân định rõ ràng với 2 ngành chính là ngành dệt
may và may mặc.
1. Ngành dệt:
Dệt khăn bông là ngành truyền thống của Công ty Dệt may 29-3. Hoạt
động này đã đưa công ty từng bước khởi đầu (1976 - 1978) đến lúc hưng thịnh
(1984 - 1989), rồi gặp khó khăn trong những năm (1990 - 1992). Sau đó ổn định
và phát triển như ngày nay.
Sản phẩm ngành dệt của công ty gồm nhiều loại từ khăn mặt, khăn tắm
đến áo choàng tắm với các kích cỡ, kiểu dáng, màu sắc khác nhau. Với nguyên
vật liệu dùng cho sản xuất khăn bao gồm: sợi, hoá chất, màu in lấy từ một số
nhà cung cấp trong nước như Công ty Dệt Hoà Thọ, Công ty Dệt Huế , Công ty
Sợi Nha Trang ... và ngoài ra công ty còn nhập sợi từ một số nước khác như Ấn
Độ, Pakistan... bằng đường biển qua Cảng Đà Nẵng.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm dệt của công ty bao gồm cả trong lẫn ngoài
nước, trong đó thị trường nước ngoài là chủ yếu, bao gồm các nước như: Nhật
Bản, EU, Nga... Đây là thị trường đòi hỏi tương đối khắc khe và chất lượng
song lại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của công ty. Chứng tỏ công ty
đã không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm để giữ vững và phát triển thị
trường này.
SƠ ĐỒ THỊ TRƯỜNG VÀ THỊ HIẾU TIÊU THỤ KHĂN BÔNG
Mặc dù thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty khá rộng nhưng trong
tình hình cạnh tranh hiện nay, để giữ vững và mở rộng thị trường là điều hết sức
khó khăn. Do ngày càng xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh tranh lớn với quy
trình công nghệ mới, sản xuất ra nhiều loại sản phẩm với mẫu mã đa dạng
phong phú, chất lượng cao. Một số đối thủ cạnh tranh chính của công ty như:
Công ty Dệt Khai Minh Hà Nội (Miền Bắc), Công ty Dệt Phong Phú và Công ty
Bộ máy tổ chức sản xuất của công ty được biểu hiện qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ BỐ TRÍ SẢN XUẤT CÔNG TY
Công ty Dệt may 29-3 thực hiện chức năng chính là sản xuất mặt hàng
khăn bông các loại phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước, đồng thời công
ty nhận ký hợp đồng gia công nhiều loại mặt hàng may mặc, sản phẩm sản xuất
ra theo yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước. Song với chức năng của
công ty, nhiệm vụ của bộ phận sản xuất là tiến hành chỉ đạo và giám sát chặt
chẽ các hoạt động của từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức sản xuất của mình,
thực hiện hoàn thành kế hoạch sản xuất theo mục tiêu của công ty đề ra.
Bộ phận sản xuất của công ty là xưởng dệt và xưởng may:
- Xưởng dệt: trực tiếp chế biến sợi (nguyên vật liệu chính) thành sản
phẩm khăn thôgn qua việc nấu, tẩy, nhuộm và dệt để tạo ra thành phẩm khăn.
Giám đốc
Phó Giám đốc I Phó Giám đốc II Phó Giám đốc III
PhòngTC-HCPhòngK.toán PhòngKD-XNKPhòngĐHSXPhòngK.thuật Phòng KTCLmayPhòng cơ nhiệt điệnPhòngQLDS
Giám đốc xí nghiệp may xuất khẩu Giám đốc xí nghiệp dệt
Xưởng cắt 1
Xưởng cắt 2
Xưởng cắt 3
Xưởng cắt 4
Xưởng h.tấc
Xưởng dệt
Xưởng hthành
Xưởng KCS Xtẩy nhuộm in hoa
Xưởng h.tấcXưởng was 1
Quan hệ trực tuyến Quan hệ chức năngQuan hệ phối hợp
- Xưởng may: phần lớn nhận nguyên vật liệu của khách hàng, bộ phận
này sẽ tiến hành gia công theo yêu cầu của khách hàng để tạo ra thành phẩm
theo đúng quy định của đơn đặt hàng, hợp đồng đã ký kết giữa công ty với
khách hàng.
nghiệp, dưới 2 Giám đốc là các xưởng, bộ phận phụ thuộc có chức năng và
nhiệm vụ cụ thể tương đương với tên gọi.
Kế toán trưởng
Kế toán tổng hợp kiêm kế toán giá thành
Kế toán thanh toán Kế toán Vật tư Kế toán TSCĐ Kế toán XDCB Thủ quỹ
Quan hệ trực tuyến Quan hệ chức năng
IV- TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY DỆT MAY 29-3:
Để thực hiện tốt công tác kế toán với đầy đủ các chức năng về thông tin
kiểm tra và giám sát các hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, mô hình tổ
chức hạch toán kế toán được áp dụng là mô hình kế toán tập trung. Mọi công tác
kế toán đều tập trung ở phòng tài vụ, các phân xưởng chỉ có nhiệm vụ ghi chép
tổng hợp các số liệu nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ đưa vào sản xuất, tính
ngày công... và định kỳ chuyển sốliệu đó cho phòng kế toán giúp việc xử lý
thông tin một cách kịp thời cũng như bộ máy kế toán gọn nhẹ.
1. Tổ chức bộ máy kế toán:
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY KẾ TOÁN
- Kế toán trưởng: có nhiệm vụ tổ chức kế toán tại công ty, chịu trách
nhiệm trước công ty về toàn bộ công tác hạch toán kế toán, đồng thời điều hành
mọi hoạt động chung cho phòng.
- Kế toán tổng hợp: tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm,
lập báo cáo tài chính theo định kỳ, kế toán tổng hợp kiêm luôn phần công nợ
với khách hàng.
- Kế toán thanh toán: có nhiệm vụ lập các chứng từ thu chi tiền mặt, tiền
gởi và thanh toán công nợ.
- Kế toán tài sản cố định kiêm luôn kế toán tiêu thụ: là người theo dõi sự
biến động tăng giảm TSCĐ và tính khấu hao TSCĐ, đồng thời theo dõi tình
hình tiêu thụ sản phẩm.