CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Chiến lược kinh doanh
Chiến lược kinh doanh là những giải pháp tổng quát, mang tính định hướng giúp
doanh nghiệp đạt được những mục tiêu lâu dài. Nó được các nhà quản trị cấp cao phác
thảo sẵn để giúp cho các nhân viên biết được mình phải thực hiện những công việc nào
theo một lịch trình cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu ngắn hạn, mục tiêu tài chính
trong từng kì. Tùy theo nhiệm vụ và những mục tiêu cần đạt được trong quá trình sản
xuất kinh doanh mà nhà quản trị sẽ quyết định lựa chọn cho mình một chiến lược kinh
doanh phù hợp.
- Các loại chiến lược kinh doanh:
+ Chiến lược cấp doanh nghiệp: là hệ thống những chiến lược tổng quát áp dụng
cho toàn công ty hoặc doanh nghiệp
+ Chiến lược kinh doanh cấp đơn vị kinh doanh: là những chiến lược của hệ
thống cấp dưới của doanh nghiệp, mỗi đơn vị kinh doanh trong hệ thống đều phục vụ
thị trường mục tiêu riêng của mình và cạnh tranh với các đơn vị kinh doanh của các
công ty khác trong cùng ngành. Vì vậy nó cần xây dựng cho mình những nhiệm vụ và
mục tiêu riêng phù hợp với môi trường kinh doanh của đơn vị mình. Bên cạnh đó
những chiến lược này phải phù hợp với chiến lược của công ty của mình.
+ Chiến lược cấp chức năng: Mỗi một công ty đều có nhiều bộ phận chức năng
riêng biệt với các nhiệm vụ khác nhau chẳng hạn như: marketing, sản xuất, nghiên cứu
và phát triển, tài chính, kế toán… nhưng chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, bộ
phận này là tiền đề là cơ sở để bộ phận khác hoạt động. Vì thế nhà quản trị phải hiểu rõ
các chức năng liên quan tới chiến lược cấp đơn vị kinh doanh từ đó đề ra các chiến lược
chức năng phù hợp để đạt được mục tiêu chung của công ty.
- Hệ thống chiến lược ở các doanh nghiệp
+ Đối với các doanh nghiệp kinh doanh đơn ngành thường hình thành chiến lược
cấp công ty, chiến lược cấp bộ phận chức năng
+ Đối với các doanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành nghề, nhiều quốc gia
thường xây dựng các chiến lược tiêu biểu sau: chiến lược cấp công ty, cấp khu vực, cấp
là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đứng trên góc độ của doanh nghiệp,
ta thấy hiệu quả kinh doanh là kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh. Để
cung cấp sản phẩm hàng hoá dịch vụ cho thị trường, các nhà sản xuất phải bỏ vốn vào
thực hiện quá trình sản xuất. Họ mong muốn tối đa hóa hiệu quả (Chi phí cho các yếu tố
đầu vào ít nhất và bán hàng hóa của họ với giá cao nhất) để sau khi trừ đi các chi phí dư
dôi không những đủ cho tái sản xuất giản đơn, mà còn cho tái sản xuất mở rộng, không
ngừng tích lũy phát triển sản xuất, củng cố tăng cường vị trí của doanh nghiệp trên thị
trường.
Theo đó lợi nhuận được định nghĩa một cách khái quát là phần chênh lệch giữa
tổng doanh thu và tổng chi phí:
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, doanh nghiệp có thể tiến hành
nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau, do đó hiệu quả mang lại cũng nhiều
loại. Theo chế độ kế toán mới đã điều chỉnh, theo 4 chuẩn mực kế toán đầu tiên hiện
nay người ta chia làm 3 bộ phận cấu thành nên nội dung lợi nhuận của doanh nghiệp là:
- Hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường tạo nên hiệu quả kinh doanh từ hoạt
động sản xuất kinh doanh.
- Hoạt động tài chính doanh nghiệp tạo nên hiệu quả kinh doanh từ hoạt động tài
chính.
- Hoạt động khác của doanh nghiệp tạo nên hiệu quả kinh doanh từ hoạt động bất
thường.
Tổng lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí
Nếu quan niệm hoạt động sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp là hoạt
động kinh doanh thông thường, còn các hoạt động tài chính và bất thường là hoạt động
khác, thì ta có công thức xác định lợi nhuận như sau:
Do hiệu quả kinh doanh được xác định là một trọng điểm của công tác quản lý
nên để đáp ứng các yêu cầu quản trị doanh nghiệp nếu chỉ có các thông tin kết quả kinh
doanh nói chung (tổng lãi hoặc lỗ) của doanh nghiệp thì chưa đủ. Người quản trị doanh
nghiệp cần nắm chắc các thông tin chi tiết về kết quả sản xuất kinh doanh của từng loại
hoạt động, từ đó mới có cách đánh giá đúng nhất, đưa ra các quyết sách hay nhất cho
công tác quản lý điều hành doanh nghiệp nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. Vì vậy cần
doanh nghiệp phấn đấu cải tiến hoạt động sản xuất, quản lý tốt các yếu tố chi phí làm
cho giá thành sản phẩm của doanh nghiệp hạ, doanh nghiệp có điều kiện hạ giá bán,
tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm hàng hóa của mình dẫn đến đẩy mạnh tiêu thụ, tăng
thu lợi nhuận một cách trực tiếp. Ngược lại, nếu giá thành tăng sẽ làm giảm lợi nhuận
của doanh nghiệp. Cho nên có thể nói, lợi nhuận có vai trò phản ánh chất lượng hoạt
động sản xuất - kinh doanh, là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xem xét điều
chỉnh hoạt động của mình đi đúng hướng .
Ngoài ra lợi nhuận còn có vai trò là nguồn tích luỹ để doanh nghiệp bổ sung vốn
vào quá trình sản xuất, trích lập các quỹ doanh nghiêp theo quy định như: Quỹ phát
triển kinh doanh, quỹ dự trữ, quỹ khen thường, phúc lợi... từ các quỹ này giúp doanh
nghiệp có điều kiện bổ sung vốn, thực hiện tái sản xuất mở rộng, đầu tư chiều sâu, đổi
mới hiện đại hoá máy móc thiết bị, tăng quy mô sản xuất, cũng như nâng cao đời sống
cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp...vv.
Đối với cá nhân người lao động:
Việc tăng được lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp bổ
sung vào các quỹ doanh nghiệp, tăng quỹ khen thưởng phúc lợi, trợ cấp mất việc
làm...vv từ đó giúp việc tái sản xuất sức lao động được tốt hơn, tăng được năng suất
lao động cũng như tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao
động.
1.1.4. Vai trò hiệu quả kinh doanh
1.1.4.1. Hiệu quả đối với doanh nghiệp
Doanh nghiệp được xem là hoạt động có hiệu quả khi doanh nghiệp làm ăn có
lãi, thu được nhiều lợi nhuận. Hiện nay mọi doanh nghiệp kinh doanh đều có mục tiêu
tổng quát, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận. Để đạt được mục tiêu này doanh nghiệp phải
xác định chiến lược kinh doanh trong mọi giai đoạn phát triển cho phù hợp với những
thay đổi của môi trường cạnh tranh như hiện nay, phải phân bổ và quản trị có hiệu quả.
1.1.4.2. Hiệu quả đối với nền kinh tế xã hội
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đối với nền kinh tế, xã hội là lợi ích sinh
ra từ hoạt động của nó đối với nền kinh tế như: tiết kiệm chi phí xã hội, thúc đẩy kinh tế
phát triển, hoạt động sản xuất không ô nhiễm môi trường, an toàn vệ sinh lao động, khả