Đại học quốc gia hà nội
Khoa luật
Lê thị thu hà
tội c-ớp giật tài sản theo luật hình
sự việt nam: một số khía cạnh pháp
lý hình sự và tội phạm học
(trên cơ sở các số liệu ở thủ đô hà nội)
chuyên ngành: luật hình sự
mã số: 5.05.14
luận văn thạc sĩ luật học
ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TSKH. Lê Văn Cảm
Hà nội-năm 2004
1
mục lục luận văn
Trang
1
- Phần Mở đầu.
- Ch-ơng I: Những quy định chung của pháp luật hình sự
về tội c-ớp giật tài sản.
6
1.1. Vài nét về lịch sử phát triển của luật hình sự Việt Nam
về tội c-ớp giật tài sản
6
83
3.2. Giải pháp về giáo dục.
85
3.3. Giải pháp tăng c-ờng hiệu lực quản lý nhà n-ớc trên một số lĩnh vực
về an ninh trật tự.
86
3.4. Giải pháp tăng c-ờng cơ sở pháp lý cho công tác đấu tranh phòng,
chống tội c-ớp giật tài sản
90
3.5. Giải pháp tăng c-ờng các biện pháp phòng ngừa tội c-ớp giật tài sản
91
2
3.6. Gi¶i ph¸p n©ng cao hiÖu qu¶ c«ng t¸c ®iÒu tra, truy tè, xÐt xö
téi c-íp giËt tµi s¶n
- KÕt luËn
Danh môc tµi liÖu tham kh¶o.
3
93
99
101
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sở hữu là một quyền thiêng liêng đ-ợc Nhà n-ớc bảo hộ. Quyền sở hữu đ-ợc quy
1998- 2002).
2.Tình hình nghiên cứu.
Hành vi c-ớp giật tài sản đã đ-ợc đề cập trong một số công trình nghiên cứu khoa
học về luật hình sự, trong các tập bình luận khoa học về luật hình sự, các luận văn Thạc
sĩ, Tiến sĩ của một số tác giả nghiên cứu các nội dung liên quan đến đề tài các tội xâm
phạm sở hữu trên các ph-ơng diện khác nhau nh- đấu tranh phòng chống các tội c-ớp
tại Việt Nam, tội trộm cắp tài sản, như bài viết các tội x âm phạm sở hữu trong BLHS
năm 1999 của TS.Trương Quang Vinh, trên tạp chí Luật học (Trường Đại học Luật Hà
Nội) số 4/2000; Luận án Tiến sĩ Luật học của TS. Nguyễn Ngọc Chí, năm 2000 về
trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu; Luận văn thạc s ĩ của Thạc sĩ
Hoàng Ngọc Thanh, năm 2002 về đấu tranh phòng, chống tội "Trộm cắp tài sản" trên
địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế... Tuy nhiên chưa có một công trình khoa học nào ở cấp
luận văn Thạc sĩ đề cập đến vấn đề thuộc đề tài tội c-ớp giật tài sản một cá ch có hệ
thống, và cùng một lúc d-ới hai góc độ: pháp luật hình sự - tội phạm học.
Thủ đô Hà Nội là trung tâm kinh tế, chính trị của cả n-ớc. Trong bối cảnh chung
của nền kinh tế thị tr-ờng và xu thế hội nhập hiện nay, tình hình tội phạm c-ớp giật có
những diễn biến phức tạp và xu h-ớng ngày càng gia tăng không chỉ về số vụ mà cả về
tính chất, hậu quả thiệt hại về tài sản, về tính mạng sức khoẻ và tinh thần con ng-ời
ngày càng trầm trọng. Do đó luận văn này cần nghiên cứu về thực trạng và diễn biến
của loại tội phạm này ở Thủ đô Hà Nội, trên cơ sở đó rút ra những hạn chế từ thực tiễn
đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng nh- những nguyên nhân và điều kiện phạm tội,
từ đó đề xuất các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm một cách hữu hiệu nhằm
giảm bớt những thiệt hại đáng tiếc có thể xảy ra, đem lại sự bình yên trong cuộc sống
cho ng-ời dân trên địa bàn Thủ đô.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài.
5
Mục tiêu của đề tài: Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
BLHS năm 1999, đồng thời nó có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự.
5- Về mặt thực tiễn: Những đề xuất giải pháp nêu trong luận văn sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và
tội c-ớp giật tài sản nói riêng. Ngoài ra, đề tài có thể đ-ợc sử dụng làm tài
liệu tham khảo cho các lực l-ợng tham gia phòng, chống loại tội phạm này
không những ở Thủ đô Hà Nội mà còn trên những địa bàn tỉnh, thành phố
khác có điều kiện t-ơng tự.
6. Điểm mới về mặt khoa học của luận văn.
Lần đầu tiên nghiên cứu một cách t-ơng đối có hệ thống và t-ơng đối toàn diện
cùng một lúc d-ới hai góc độ pháp luật hình sự - tội phạm học, về tình hình tội phạm,
về công tác đấu tranh phòng, chống tội c-ớp giật tài sản, đồng thời đã đ-a ra các giải
pháp đấu tranh phòng ngừa hiệu quả đối với tội c-ớp giật tài sản trên địa bàn Thủ đô Hà
Nội.
7. Ph-ơng pháp luận và các ph-ơng pháp nghiên cứu.
Trên cơ sở ph-ơng pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lê nin và t- t-ởng Hồ Chí Minh
về vấn đề tội phạm nói chung, các văn kiện của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà
n-ớc về quan điểm đấu tranh chống tội phạm trong quá trình xây dựng nhà n-ớc pháp
quyền tại Việt Nam.
Đề tài đã sử dụng các ph-ơng pháp nghiên cứu của khoa học luật hình sự và tội
phạm học nh-: ph-ơng pháp thống kê hình sự, ph-ơng pháp phân tích và so sánh,
ph-ơng pháp tổng hợp. Ngoài ra còn một số ph-ơng pháp khác cũng đ-ợc áp dụng nh-:
ph-ơng pháp phân tích hệ thống, ph-ơng pháp chuyên gia ...
Trong quá trình nghiên cứu các ph-ơng pháp này đ-ợc vận dụng một cách linh hoạt
và đan xen lẫn nhau để tao ra kết quả nghiên cứu.
8. Cấu trúc của luận văn.
7
vẫn tiếp tục áp dụng hình luật An Nam, ở Trung kỳ vẫn áp dụng Hoàng Việt hình luật
và ở Nam Kỳ áp dụng luật pháp tu chính. Tội c-ớp giật tài sản cũng không nằm ngoài
bối cảnh đó.
Bên cạnh đó Nhà n-ớc ta đã ban hành những văn bản pháp luật mới quy định
những hành vi xâm phạm đến sở hữu của nhà n-ớc và sở hữu của công dân, góp phần
bảo vệ các quan hệ xã hội tiến bộ trong xã hội mới, thực hiện thắng lợi cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp. Tuy còn sơ khai nh-ng pháp luật hình sự thời kỳ này đã
khái quát đ-ợc những hành vi xâm hại sở hữu trong thực tế và quy định thành các tội
phạm cụ thể làm cơ sở cho Toà án xét xử. Đồng thời các văn bản này còn quy định
đ-ờng lối xử lý các tội xâm phạm sở hữu, trên nguyên tắc trừng trị kết hợp với khoan
hồng, trừng trị với giáo dục cải tạo. Đã có sự cá thể hoá hình phạt đối với các hành vi
phạm tội .
9
Việc phân loại tội phạm, đ-ợc quy định tại điều 3 Sắc lệnh 27 ngày 28/2/1946:
Những tội phạm kể ở các Điều 1, 2 trên đây sẽ bị truy tố và xét xử như những trọng
tội. Như vậy việc xử lý các tội xâm phạm sở hữu thời kỳ này chia thành 3 loại tội:
trọng tội, tội phạm th-ờng và tội vi cảnh dựa theo tính chất và mức độ của từng loại tội
phạm .
Trong thời kỳ này các quan hệ pháp luật phát sinh đ-ợc điều chỉnh bằng các văn
bản pháp luật khác nhau như: Pháp lệnh, Sắc lệnh, Nghị định, Thông tư, Chỉ Thị chứ
ch-a có đạo luật hình sự thống nhất. Vì vậy mà danh sách hình phạt chưa thoả mãn
những dấu hiệu đặc trưng của hệ thống hình phạt [43, tr.163], không được đánh giá và
sắp xếp theo một trật tự nhất định. Trong số các hình phạt chỉ có hình phạt quản chế có
quy định nội dung và điều kiện áp dụng.
Ngày 21/10/1970 Uỷ ban th-ờng vụ Quốc hội thông qua hai Pháp lệnh trừng trị
các tội xâm phạm tài sản XHCN (1) và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản
riêng của công dân (2).
3.
Phạm một trong những tội quy định ở các Điều 3,4,5,6,7,8,9,10,11,13 thì tuỳ
theo tính chất nghiêm trọng của tội phạm hoặc nguồn thu lợi bất chính mà có
thể bị phạt tiền từ 50 đồng đến 3000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hay toàn
bộ tài sản ( trong đó Điều 4 quy định về tội cướp giật tài sản ).
Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo toàn bộ đ-ờng lối xử lý các tội xâm phạm sở hữu XHCN
thể hiện ở Điều 2 Pháp lệnh (1) là: tài sản XHCN là thiêng liêng, tuyệt đối không ai
đ-ợc xâm phạm. Mọi ng-ời đều có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản đó.
Mọi hành động xâm phạm tài sản XHCN phải đ-ợc phá hiện kịp thời và x ử lý
nghiêm minh.
Nghiêm cấm mọi hành động bao che cho kẻ phạm tội ".
Các điều luật về hành vi c-ớp giật tài sản trong hai Pháp lệnh không mô tả hành vi
phạm tội mà chỉ nêu những nguyên tắc xử lý chung là: nghiêm trị bọn l-u manh chuyên
nghiệp, bọn tái phạm, bọn phạm tội có tổ chức, bọn cầm đầu, bọn lợi dụng chức quyền
để phạm tội , bọn gây thiệt hại nặng. Xử nhẹ hoặc giảm hình phạt cho những kẻ tự thú,
thật thà hối cải, tố cáo đồng bọn hoặc tự nguyện bồi th-ờng thiệt hại xảy ra. Những nội
dung này đ-ợc quy định rõ trong khoản 2 Điều 7 và Điều 22 Pháp lệnh (1) những tình
tiết cần xử lý nặng chung là:
1. Gây thiệt hại trực tiếp đến sản xuất, đời sống của nhân dân hoặc đến an
ninh, quốc phòng.
2. Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, nơi có chiến sự, có thiên tai hoặc có những
khó khăn khác để phạm tội .
12
3. Giả tạo hoặc cố ý làm sai lệch những số liệu, những kết quả thực hiện kế hoạch
không che dấu hành vi phạm pháp của mình, rồi chạy trốn hoặc bỏ đi mà không dùng
bạo lực. Kẻ phạm tội có thể có một vài hành vi xâm phạm nhẹ đến thân thể ng-ời giữ
14
tài sản không phải với ý thức làm tê liệt sức phản kháng mà chỉ nhằm tạo điều kiện cho
y dễ dàng và nhanh chóng giật đ-ợc tài sản rồi chạy trốn (nh- xô ngã, vặn tay cho rơi
hàng )"
Dự thảo Thông t- trong phần chính sách cụ thể cũng đã xác định rõ đối t-ợng cần
nghiêm trị là: Bọn l-u manh chuyên nghiệp, bọn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm
tội ; bọn tái phạm; bọn phạm tội có tổ chức đã đ-ợc xác định trong các điều luật cụ thể
của hai Pháp lệnh.
Ngoài ra trong ch-ơng các điều khoản chung Pháp lệnh còn quy định các tr-ờng
hợp áp dụng nguyên tắc t-ơng tự vì trong thực tế, sự việc phạm pháp còn xảy ra d-ới
những hình thức mà chúng ta khó l-ờng tr-ớc hết đ-ợc, nh-ng yêu cầu là phải với tinh
thần thận trọng; hành vi phạm pháp xảy ra phải cùng loại với h ành vi xâm phạm tài sản,
có cùng tính chất, có cùng mục đích chỉ khác về hình thức thể hiện với tội đã đ-ợc pháp
luật quy định.
Việc này xuất phát do việc chúng ta ch-a kịp ban hành các văn bản, Nhà n-ớc phải
có chủ tr-ơng dùng nguyên tắc t-ơng tự để xử lý về hình sự đối với những hành vi nguy
hiểm cho xã hội đáng coi là tội phạm. Nhờ áp dụng nguyên tắc này mà các cơ quan
pháp luật không bị bó tay trong hoạt động đấu tranh, xử lý các hành vi tội c-ớp giật tài
sản. Chẳng hạn, chúng ta đã xử lý đối với hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản XHCN
và tài sản riêng công dân t-ơng tự nh- hành vi đ-ợc quy định trong tội c-ớp giật tài sản
đ-ợc quy định ở hai Pháp lệnh (1) và (2). Sau này, hành vi công nhiên chiếm đoạt tài
sản đ-ợc Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1985 quy định là tội phạm (Điều 131, và Điều
154).
1.1.2. Giai đoạn từ 1985 đến nay.
Bộ luật hình sự đầu tiên của n-ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đ-ợc Quốc
1. Người nào cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác, nếu
không thuộc tr-ờng hợp quy định ở Điều 151, thì bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các tr-ờng hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến
m-ời năm:
a) Có tổ chức hoặc có tính chuyên nghiệp.
b) Dùng thủ đoạn nguy hiểm; hành hung để tẩu thoát.
16
c) Chiếm đoạt tài sản có giá rị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội trong tr-ờng hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến hai
mươi năm năm
Về hình phạt, so với hai Pháp lệnh (1) và (2), thì BLHS năm 1985 có mức phạt
tối đa cao hơn, ở BLHS năm 1985 mức phạt tối đa là 15 năm với tội c-ớp giật tài sản
riêng công dân và 20 năm với tội c-ớp giật tài sản XHCN. Mức hình phạt tối thiểu là
một năm với tội c-ớp giật tài sản XHCN và 3 tháng với tội c-ớp giật tài sản riêng công
dân là t-ơng đ-ơng với hai Pháp lệnh tr-ớc. Điều này thể hiện đ-ờng lối xử lý nghiêm
khắc hơn của nhà n-ớc ta với tội c-ớp giật tài sản. Thay vì có 2 khung hình phạt ở hai
Pháp lệnh, BLHS năm 1985 quy định 3 khung hình phạt và đối với các tình tiết định
khung tăng nặng, ngoài các quy định tại điều 38, 39 BLHS thì tại 2 Điều 131 và Điều
154 còn quy định thêm hai tình tiết mới là dùng thủ đoạn nguy hiểm và Chiếm đoạt
tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác. Khung 3 quy định chung
các tr-ờng hợp phạm tội có tính chất đặc biệt nghiêm trọng.
Đối với tội c-ớp giật tài sản ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt
bổ sung quy định tại khoản 2 và 3 Điều 142; khoản 2, 3 Điều 163 BLHS năm 1985
bao gồm hình phạt quản chế hoặc cấm c- trú từ một năm đến năm năm, hay bị tịch thu
một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Trong quá trình thi hành BLHS đã có những sửa đổi bổ sung các tội xâm phạm
còn phù hợp và cũng không thể điều chỉnh bằng hình thức sửa đổi bổ sung nh- tr-ớc
đây.
Xuất phát từ yêu cầu nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần phát triển theo cơ
chế thị tr-ờng có sự quản lý của nhà n-ớc, theo định h-ớng XHCN. Để đảm bảo và
thực hiện sự bình đẳng của các thành phần kinh tế đòi hỏi pháp luật hình sự cũng phải
xử lý dựa trên quan điểm này. Mặt khác việc quy định cụ thể hành vi xâm hại đối với
một quan hệ sở hữu nào để xác định chính xác tội danh là rất khó khăn có khi thiếu
chính xác nhất là có những hình thức sở hữu đan xen, khi đó nên xử một tội hay nhiều
tội cho phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Hoặc tr-ờng hợp phải xác
định tội danh theo ý thức chủ quan của ng-ời phạm tội có hành vi tội c-ớp giật tài sản
18
(sai lầm về khách thể) thì quan hệ sở hữu nào là có ý nghĩa trong việc định tội. Từ
những nội dung trên cho thấy việc tiếp tục hoàn thiện BLHS năm 1985 về các tội xâm
phạm sở hữu là không có tác dụng hữu hiệu.
Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời, đ-ợc Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999, có
hiệu lực ngày 1/7/2000 đánh dấu một b-ớc phát triển quan trọng trong quá trình xây
dựng và tr-ởng thành của luật pháp Việt Nam nói chung và pháp luật hình sự nói riêng.
Là sự đúc kết thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung trong gần 60 năm
cách mạng Việt Nam, thể hiện đ-ờng lối, chính sách hình sự của Đảng ta trong giai
đoạn phát triển mới của đất n-ớc.
BLHS năm 1999 đã nhập hai ch-ơng IV và VI của BLHS năm 1985 vào thành
một ch-ơng (Ch-ơng XIV) với 13 tội danh. Tội c-ớp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt
tài sản đ-ợc quy định thành hai tội ở hai điều luật khác nhau, tội c-ớp giật tài sản đ-ợc
quy định tại Điều 136 BLHS năm 1999 và tội công nhiên chiếm đoạt tài sản đ-ợc quy
định tại Điều 137 BLHS năm 1999.
1.2. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội c-ớp giật tài sản.
XHCN sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn.
Khi phân biệt tội c-ớp giật tài sản với các tội phạm sở hữu khác, chúng ta không
thể chỉ dựa vào yếu tố khách thể mà phải căn cứ vào các dấu hiệu khách quan và chủ
quan khác, đặc biệt là dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội. Yếu tố khách thể chỉ
giúp ta xác định một hành vi phạm tội có xâm phạm sở hữu hay không và phân biệt tội
c-ớp giật tài sản với một vài tội trong nhóm tội chiếm đoạt có nhiều khách thể trực tiếp
như: tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản vì ngoài quan hệ sở hữu,
những hành vi phạm các tội này còn xâm hại đến quan hệ nhân thân.
Tài sản là đối t-ợng tác động của hành vi c-ớp giật tài sản có những đặc điểm cơ
bản khác với tài sản là đối t-ợng tác động của các tội phạm khác. Tài sản phải đ-ợc thể
hiện d-ới dạng vật chất, có giá trị hoặc giá trị sử dụng, tài sản phải là th-ớc đo giá trị
lao động của con ng-ời đ-ợc kết tinh, đồng thời phải thoả mãn đ-ợc các nhu cầu về vật
chất hoặc tinh thần của con ng-ời. Những tài sản nh-: nguồn n-ớc tự nhiên, sinh vật
d-ới biển, chim thú trên rừng không là đối tượng của tội cướp giật tài sản. Hành vi
đánh bắt hoặc xâm hại đến các tài sản đó có thể bị truy cứu TNHS về tội vi phạm các
20
quy định huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản, vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang
dã quý hiếm (Điều 133, Điều 135 BLHS).
Nếu tài sản không có giá trị sử dụng nh-: thuốc quá hạn sử dụng, mang tiêu huỷ
thì không phải là đối t-ợng tội c-ớp giật tài sản. Theo Bộ luật dân sự Việt Nam, tài sản
thể hiện d-ới 3 hình thức: vật có thực, giấy tờ trị giá đ-ợc bằng tiền và quyền tài sản
(Điều 172 Bộ luật Dân sự). Một số vật do tính chất, đặc điểm và công dụng đặc biệt
không đ-ợc coi là đối t-ợng tác động của tội c-ớp giật tài sản mà là đối t-ợng của các
hành vi phạm tội khác. Ví dụ: Vũ khí, ph-ơng tiện kỹ thuật quân sự, chất phóng
xạkhông phải là đối tượng của tội cướp giật tài sản mà của các tội chiếm đoạt vũ khí,
chiếm đoạt chất phóng xạ (Điều 175, Điều177 BLHS).
Tài sản là đối t-ợng của tội c-ớp giật tài sản đòi hỏi phải có đặc điểm là còn
rất có ý nghĩa để phân biệt tội c-ớp giật tài sản với tội trộm cắp tài sản, tr-ờng hợp việc
chiếm đoạt tài sản mà chủ sở hữu không biết hoặc ng-ời phạm tội chỉ có ý thức công
khai với những ng-ời xung quanh còn có ý thức che dấu (lén lút) với chủ tài sản thì đó
lại là dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản.
Do đó dấu hiệu công khai của tội c-ớp giật tài sản đòi hỏi ng-ời phạm tội c-ớp
giật tài sản phải có ý thức công khai đối với ng-ời chịu trách nhiệm quản lý tài sản mà
đối t-ợng phạm tội chiếm đoạt. Ví dụ: vụ án anh Tr-ơng Văn Luật, đi xe máy chậm
qua khu nhà vệ sinh công cộng thuộc tổ 5 ph-ờng Thanh l-ơng Hai Bà Tr-ng Hà
nội, lúc đó Nguyễn Thị Bích Hạnh đang ngồi tr-ớc nhà vệ sinh, phát hiện túi quần sau
của anh Luật nhô lên một cục tiền, Hạnh chạy theo xe anh Luật, rồi dùng tay giật cục
tiền ở túi quần anh Luật, anh Luật phát hiện và dùng tay trái giữ cục tiền lại nh-ng tiền
bị rơi tung toé ra đ-ờng, mọi ng-ời xung quanh hô hoán, Hạnh nhặt đ-ợc 80.000đ và
bỏ chạy mất.
Trong tr-ờng hợp vụ án trên anh Luật đã ngay tức khắc nhận biết đ-ợc hành vi
giật tiền ở túi quần sau của mình, đã dùng tay giữ lại, do đó mà hành vi của Hạnh cấu
thành tội c-ớp giật tài sản, trong tr-ờng hợp anh Luật không nhận biết đ-ợc hành vi
Hạnh dùng tay giật tiền mà chỉ khi mọi ng-ời hô hoán mới biết thì hành vi của Hạnh
chỉ cấu thành tội trộm cắp tài sản.
22
Thực tế có những tr-ờng hợp ban đầu ng-ời phạm tội dùng thủ đoạn lén lút bí
mật, gian đối nhưng trong quá trình thực hiện tội phạm lại c huyển sang công khai
chiếm đoạt, Ví dụ: Nguyễn Hữu Nam theo dõi chị Lan vào chợ, trong túi xách có ví
đựng tiền, trong lúc chị Lan mua hoa quả Nam dùng dao banh xơ lam rạch túi lấy
chiếc ví, nh-ng vì vết rạch quá nhỏ không thể lấy ví ra, Nam dùng tay giậ t mạnh chiếc
túi xách, chị Lan hốt hoảng giằng nhau chiếc túi với Nam và hô hoán, Nam giật đ-ợc
chiếc túi rồi bỏ chạy nh-ng đã bị bảo vệ của chợ bắt giữ. Hành vi của Nam trong tr-ờng
hợp này đã cấu thành tội c-ớp giật tài sản, nh-ng thủ đoạn ban đầu Nam t hực hiện là
giật tài sản. Đó là thủ đoạn lợi dụng sơ hở của chủ tài sản (sơ hở này có t hể là có sẵn
hoặc do ng-ời phạm tội chủ động tạo ra), nhanh chóng tiếp cận, nhanh chóng chiếm
đoạt tài sản và nhanh chóng tẩu thoát... Thủ đoạn nhanh chóng này đ-ợc thực hiện d-ới
nhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm của tài sản, vị trí, cách thức giữ tài
sản cũng nh- những hoàn cảnh bên ngoài khác..., thông th-ờng đây là những tài sản
gọn nhẹ, dễ lấy, dễ mang đi. Thông th-ờng hình thức nhanh chóng chiếm đoạt có thể
giật lấy tài sản, giành lấy tài sản và nhanh chóng tẩu thoát (tẩu thoát không phải là dấu
hiệu bắt buộc mà chỉ là thủ đoạn nhanh chóng lẩn tránh của kẻ c-ớp giật) [21, tr.198].
Ví dụ: vụ 15h ngày 23/10/1998 Đào Văn Đức đi xe máy Viva đến đ-ờng Lê Duẩn,
Đức áp sát xe của chị Thuý và dùng tay trái giật chiếc điện thoại di động của ông Philip
Dephaler ngồi sau xe chị Thuý, sau khi bị bắt Đức khai tr-ớc đó 1 ngày Đức đã c-ớp
giật 01 điện thoại di động của anh Nguyễn Quý Thanh, Tại cơ quan công an anh Thanh
khai có thấy một xe máy áp sát và tên lái xe dùng tay trái giật điện thoại di động nh-ng
sự việc xảy ra quá nhanh nên anh Thanh không thể nhận biết đ-ợc đó là ai, nếu cho
nhận dạng thì anh Thanh không thể nhận dạng đ-ợc đối t-ợng đã c-ớp giật, anh Thanh
chỉ biết đối t-ợng đi chiếc xe màu xanh, và đối t-ợng ng-ời hơi gầy. Nhờ thủ đoạn
nhanh chóng mà kẻ phạm tội làm cho chủ sở hữu không đủ điều kiện để phản ứng và
ngăn cản hành vi của chúng.
Dấu hiệu nhanh chóng trong chiếm đoạt và tẩu thoát của tội c-ớp giật tài sản
giúp ta phân biệt đ-ợc hành vi tội c-ớp giật tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài
sản. Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không có dấu hiệu nhanh chóng, ng-ời
phạm tội không cần nhanh chóng chiếm đoạt, hay ng-ời phạm tội không cần nhanh
24
chóng chạy trốn, tẩu thoát, do ng-ời quản lý tài sản có v-ớng mắc không thể n găn cản
ng-ời phạm tội chiếm đoạt tài sản. ở đây ta cũng cần phân biệt sơ hở với v-ớng mắc.
Đối với tội c-ớp giật tài sản sơ hở chủ yếu do ng-ời quản lý tài sản tạo ra mà ng-ời bên
ngoài có thể quan sát và nhận biết đ-ợc nh- để túi xách trên giỏ xe, đeo d ây chuyền