tội cướp giật tài sản trong luật hình sự việt nam - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN TƯ PHÁP

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 31 (2005 - 2009)
ĐỀ TÀI:

TỘI
TÀIhọc
SẢN
Trung tâm Học liệu
ĐHCƯỚP
Cần ThơGIẬT
@ Tài liệu
tập và nghiên cứu
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Giáo viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

TS. PHẠM VĂN BEO

LÊ THỊ RÀNG
MSSV: 5054901
LỚP: TƯ PHÁP 01 - K31

Cần Thơ, 11/2008



1.6.1. Hành vi được xem là cướp giật tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự
Nhật Bản. ........................................................................................................... 13
1.6.2. Hành vi được xem là cướp giật tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự
Thụy Điển. ......................................................................................................... 14
CHƯƠNG 2: TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN........................................................... 16
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ................................................................ 16
2.1. Khái niệm về tội cướp giật tài sản theo quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam hiện hành....................................................................................................... 16
2.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản. .............................................. 17
2.2.1. Về mặt chủ thể của tội cướp giật tài sản.................................................. 17
2.2.2. Về mặt khách thể của tội cướp giật tài sản. ............................................. 17
2.2.3. Về mặt khách quan của tội cướp giật tài sản. .......................................... 18
2.2.4. Về mặt chủ quan của tội cướp giật tài sản. .............................................. 20
2.3. Các trường hợp phạm tội cụ thể. .................................................................... 21
2.3.1. Phạm tội cướp giât tài sản không có tình tiết định khung hình phạt. ...... 21
2.3.2. Cướp giật tài sản thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ
luật hình sự. ....................................................................................................... 22
2.3.3. Cướp giật tài sản thuộc các trường hợp quy định tai khoản 3 Điều 136 Bộ
luật hình sự. ....................................................................................................... 26
2.3.4. Cướp giật tài sản thuộc các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 136
Bộ luật hình sự. .................................................................................................. 27


Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam
2.3.5. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội cướp giật tài sản. ................. 29
2.4. So sánh tội cướp giật tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu khác. ............ 29
2.4.1. So sánh tội cướp giật tài sản với tội cướp tài sản. ................................... 29
2.4.2. So sánh tội cướp giật tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản. ......................... 31
2.4.3. So sánh tội cướp giật tài sản với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. ....... 33
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN VÀ CÁC GIẢI

...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................


Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh

1999.
Quahọc
đó, góp
vào công cứu
tác
tuyên truyền cho mọi người hiểu rõ hơn về phương pháp, thủ đoạn gây án của bọn
cướp giật tài sản. Từ đó, có thể nâng cao tinh thần cảnh giác và phòng, chống làm
cho bọn cướp giật tài sản khó có địa bàn hoạt động. Muốn thực hiện được như vậy,
thì mỗi chúng ta, không phải lúc nào cũng chỉ biết trông chờ vào sự bảo vệ, giúp đỡ
của các cơ quan chức năng mà tự bản thân mình cũng phải tìm hiểu để biết cách
phòng chống, ngăn ngừa, đối phó đối với tội phạm này, từ đó nâng cao tinh thần
cảnh giác để tự bảo vệ tài sản, tính mạng của bản thân và của toàn xã hội.

3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nội dung đề tài luận văn mang tính chất là nghiên cứu những vấn đề chuyên
sâu vào tội cướp giật tài sản, nên đòi hỏi phải có sự quan tâm và hiểu biết về loại tội
phạm này. Việc nghiên cứu dưới góc độ là luận văn nên chỉ tập trung, xoáy sâu vào
phân tích những vấn đề mang tính chất cơ bản, đi vào nội dung những quy định của
pháp luật hình sự về tội cướp giật tài sản. Trên cơ sở tham khảo thực trạng tội cướp
giật tài sản ở Việt Nam hiện nay, thấy được những hạn chế và từ đó đề ra những
giải pháp nhằm nâng cao công tác phòng, chống có hiệu quả đối với tội phạm này.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 1

SVTH: Lê Thị Ràng


Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam

Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam

CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
1.1. Khái quát chung về các tội xâm phạm sở hữu.
Điều 15 Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước phát triển kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức
kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân,
trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể làm nền tảng”. Quyền sở hữu đối với tài
sản là quyền quan trọng được pháp luật bảo vệ, Nhà nước ta cũng tôn trọng và bảo
vệ quyền sở hữu hợp pháp của Nhà nước, của các tổ chức và mọi công dân.
Ở Việt nam kể từ khi có Bộ luật hình sự 1985, tài sản của Nhà nước, tập thể và
của công dân được bảo vệ một cách hữu hiệu bằng các quy phạm pháp luật hình sự.
Bộ luật hình sự 1985 chia thành hai nhóm các hành vi xâm phạm sở hữu tài sản
gồm: các hành vi xâm phạm sở hữu tài sản xã hội chủ nghĩa, và các hành vi xâm
phạm đến tài sản của công dân. Thế nhưng, trước sự chuyển biến không ngừng của
tình hình kinh tế - xã hội trong nước và trên thế giới, Bộ luật hình sự 1985 mặt dù
đã qua bốn lần sửa đổi, bổ sung, một số điều của Bộ luật hình sự đã được Quốc hội
Trung
liệu
CầnViệt
ThơNam
@thông
Tài liệu
học28tập
nghiên
nướctâm
CộngHọc
hòa xã


Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam
được đề cập đến ở đây có thể là tiền, vàng, bạc, đá quý, các đồ vật cụ thể hoặc các
giá trị vật chất khác.
Hành vi khách quan của tội xâm phạm sở hữu được thể hiện ở các dạng sau:
- Hành vi chiếm đoạt tài sản: Người phạm tội cố ý dịch chuyển một cách
trái pháp luật tài sản đang thuộc quyền sở hữu của chủ thể khác thành tài sản “của
mình”…. Hành vi chiếm đoạt bao giờ cũng được thể hiện bằng hành động tích cực,
cụ thể là luôn cố ý trực tiếp, mong muốn biến tài sản của người khác thành tài sản
của mình.
- Hành vi chiếm giữ trái phép tài sản: Một hình thức thấp hơn, cũng được
thực hiện bằng sự chuyển dịch tài sản từ chủ thể khác, chủ thể quản lý tài sản mà
mất khả năng thực tế thực hiện quyền chiếm hữu đối với tài sản. Ở đây, chủ thể
phạm tội khẳng định sự mong muốn chiếm hữu tài sản không phải của mình bằng
cách thể hiện những thái độ định đoạt tài sản kể trên.
- Hành vi hủy hoại, làm hư hỏng, làm mất mát, lãng phí tài sản: Là những
hành vi được thực hiện thông qua các đối tượng tác động làm mất mát hoàn toàn
hoặc từng phần giá trị tài sản, làm thất thoát, gây thiệt hại cho chủ sở hữu.
Các hành vi xâm phạm sở hữu có thể được thực hiện bằng hành động hoặc
được thực hiện bằng không hành động. Riêng các tội có tính chất chiếm đoạt chỉ có
thể thực hiện dưới dạng hành động.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Đối với những tội phạm có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao, các điều luật
không quy định mức khởi điểm của giá trị tài sản để xử lý hình sự, chỉ quyết định
giá trị tài sản ở những cấu thành tăng nặng. Những tội phạm có tính chất nguy hiểm
cho xã hội khác nhau thì mức khởi điểm giá trị tài sản để xử lý hình sự cũng khác
nhau.
Ngoài ra, các dấu hiệu trong mặt khách quan của tội phạm như công cụ,
phương tiện, thời gian, địa điểm… không phải là dấu hiệu bắt buộc, trừ trường hợp
luật quy định ở những cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc giảm nhẹ.

khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát.
Điểm nổi bậc của tội cướp giật tài sản là ở thủ đoạn “nhanh chóng” và “tẩu
thoát”. Người phạm tội lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản mà người quản lý
đó khó có thể giữ được hoặc giằng lại được tài sản. Yếu tố bất ngờ trong tội cướp
giật tài sản cũng là một dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này. Hành vi phạm tội
đựợc thực hiện một cách công khai và trắng trợn, nhanh chóng.
Tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều 136 Bộ luật hình sự 1999 là tội
Trung
tâm
Họcquy
liệu
ĐH
Thơ
Tài
họchình
tậpsựvà
nghiên
phạm
đã được
định
tại Cần
Điều 131
và @
Điều
154liệu
Bộ luật
1985.
So với cứu
Bộ
luật hình sự 1985 thì Điều 136 Bộ luật hình sự 1999 có nhiều sửa đổi, bổ sung, nhất

càng gia tăng do chưa bị phát hiện và xử lý triệt để.
+ Mặt khác, tình trạng nghiện hút gia tăng và ngày càng trở nên nghiêm trọng
cũng làm gia tăng số vụ cướp giật, để có tiền hút hít, tiêm chít, bọn nghiện hút mất
hết lý trí, bất chấp pháp luật.
Ví dụ: Để có tiền hút, chít ma túy một số con nghiện đã đi tìm kiếm các đối
tượng đang lưu thông trên đường chờ khi có sơ hở của nạn nhân thì ra tay cướp giật
mà bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, thủ đoạn của bọn
chúng thường rất táo bạo, liều lĩnh.
+ Ngoài ra, phải nói đến việc quản lý con cái của một số gia đình còn lỏng lẻo
để chúng tự do liêu lổng, từ đó dễ bị bọn xấu lợi dụng, dụ dỗ đi vào con đường
phạm pháp.
Ví dụ: Xuất thân trong một gia đình thuần nông nhưng Hoàng và Huy là những
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thanh nên lười lao động… Do đua đòi, hai tên bỏ nhà ra Hà Nội thuê trọ tại ngõ 30,
đình Giáp Nhất, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân sống với bạn gái như vợ
chồng. Ngoài thú ăn chơi xa xỉ, cả hai còn nghiện hút và ham mê đánh bạc bằng
hình thức lô đề nên thường xuyên rơi vào tình trạng thiếu tiền.
Để đáp ứng những nhu cầu trên, bọn chúng đã bàn nhau thực hiện các vụ cướp
giật trên quốc lộ 5A. Đối tượng mà Hoàng và Huy nhằm vào là phụ nữ đi đường có
mang theo tài sản, để có tiền bọn chúng đã liên tục gây án. Điển hình như ngày
10/11. Vào khoảng 7h, trên quốc lộ 5A, hướng đi Hải Phòng, chúng cướp giật của
chị Nguyễn Thị Thu Hồng, lúc đó đang đèo chị Trịnh Thị Nguyên, điều trú tại
huyện Cẩm Giàng, một chiếc túi xách bên trong có nhiều giấy tờ cùng 1,2 triệu
đồng tiền mặt.
+ Thủ phạm các vụ cướp giật đa phần điều thuộc con nhà khá giả. Tuy nhiên,
do mải mê làm kinh tế các bậc phụ huynh không quan tâm đúng mực, cộng với lối
sống thích thụ hưởng của giới trẻ khiến tội phạm ở lứa tuổi vị thành niên ngày càng
gia tăng. Bên cạnh đó, còn có một số người phạm tội do cuộc sống gia đình khó
khăn, bị cha mẹ bỏ rơi, không còn cách nào khác để kiếm tiền nên buộc phải làm
liều.

Cần
Thơ
liệuđịnh
họcvàtập
cụ thể
củaHọc
quan liệu
hệ sởĐH
hữu là
những
loại@
tài Tài
sản nhất
trongvà
đờinghiên
sống xã cứu
hội
chúng có thể trở thành những đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản. Điều 163
Bộ luật dân sự Việt Nam 2005 quy định: “tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá
và các quyền tài sản”
+ Vật là hình thức tài sản và có thể trở thành đối tượng tác động của tội cướp
giật tài sản, khi là đối tượng của tội cướp giật tài sản vật phải nằm trong sự chiếm
hữu của con người. Những tài sản mà chủ sở hữu đã từ bỏ quyền sở hữu của mình
và chuyển tài sản ra khỏi phạm vi quản lý, tài sản này được coi là tài sản vô chủ và
hành vi lấy loại tài sản này không bị coi là phạm tội.
+ Tài sản là đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản ngoài vật ra còn có thể
là tiền, các loại giấy tờ trị giá được bằng tiền. Tiền bao gồm tiền Việt Nam và tiền
nước ngoài đang được lưu hành trên thị trường.
Đối tượng tác động của tội cướp giật tài sản thông thường là những tài sản hợp
pháp. Đây là những loại tài sản người chủ sở hữu có được hoàn toàn phù hợp với

việc xây dựng những văn bản pháp luật về hình sự và đã giúp Nhà nước ta quản lý
xã hội
đạtHọc
hiệu quả,
chế độThơ
xã hội
kinh
tế, và
vănnghiên
hóa mới của
Trung
tâm
liệubảo
ĐHvệCần
@chủ
Tàinghĩa,
liệunền
học
tập
cứu
Nhà nước.
Ngày nay, trong tiến trình xây dựng và đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước
đã đặt ra nhiều cách đổi mới trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung
và pháp luật hình sự nói riêng. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật
hình sự Việt Nam là một trong những vấn đề cần thiết, góp phần tiếp thu, phát huy
những thành quả quý báu của ông cha ta trong việc tìm giải pháp khả thi trước yêu
cầu và thách thức trong bối cảnh đổi mới.
1.5.1. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản trước
Cách Mạng Tháng Tám.
Trải qua các triều đại phong kiến khác nhau, pháp luật hình sự Việt Nam dần

có chủ thể thường, bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo Luật định và
đạt đến một độ tuổi nhất định cũng có thể trở thành chủ thể của tội cướp giật tài sản
và phải chịu hình phạt . Trong Bộ luật Hồng Đức còn cho phép dùng tiền để chuộc
tội trong một số hình phạt. Theo quan điểm của luật hình sự hiện đại, chuộc tội bằng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
tiền được coi là biện pháp chấp hành hình phạt. Ngoài quy định Điều 454 thì tại
Điều 435 Bộ luật Hồng Đức còn quy định : “Những người thừa cơ khi trộm, cướp,
lụt, cháy mà vơ vét tiền của người khác hay giữa ban ngày mà cướp giật tiền của
của người ta thì khi xử tội những người này sẽ được giảm một bực.
Trong luật hình sự hiện đại nếu người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khó khăn
đặc biệt của xã hội như chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai dịch bệnh…để
phạm tội thì trách nhiệm hình sự của người phạm tội bị tăng nặng. Ngoài việc quy
định hành vi của chủ thể thực hiện tội phạm thì Bộ luật Hồng Đức còn quy định
hình phạt đối với những chủ thể khác có liên quan đến tội được xem là cướp giật tài
sản như:
+ Các con ở chung nhà với cha mẹ mà đi ăn cướp thì cha bị xử đồ, nặng thì
thêm tội và phải bồi thường thay cho con những tang vật mà con đã cướp được. Nếu
con cái đã ra riêng thì cha, mẹ bị xử phạt hay biếm. Nếu cha đã báo quan thì không
bị tội, đã báo quan nhưng vẫn để con ở nhà thì cũng bị tội như chưa báo quan (Điều
457)
+ Bắt được cướp nhưng không ghi tiền, của do chúng lấy thì biếm ba tư, bồi
thường gấp hai. Quan xã ghi rồi mà lại lấy thì thêm một bực tội. (Điều 442).

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 9

SVTH: Lê Thị Ràng



ý hung hăng lấy của là sang đoạt), phàm giữa ban ngày mà sang đoạt tiền của người
ta, không kể tang vật, phạt 100 trượng, đồ 3 năm. Tùy theo số tang vật mà định tội,
hễ nặng thì thêm tội trộm cắp hai bực, nếu trong khi sang đoạt mà làm người khác
bị thương, thủ lãnh thì bị chém giam chờ, kẻ a tùng mỗi người giảm một bực so với
thủ lãnh, và bên cánh tay mặt xăm hai chữ “SANG ĐOẠT”, nếu nhân hỏa hoạn,
thuyền đi gặp gió, mắc cạn, thừa cơ hội sang đoạt tiền của, vật của người khác và
phá hủy thuyền thì tội như trên: tội sang đoạt, chờ khi người ta vô ý lấy cũng là
hành vi sang đoạt. Giống như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long cũng quy định

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 10

SVTH: Lê Thị Ràng


Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam
về nguyên tắc chịu trách nhiệm liên đới. Đây là nguyên tắc được áp dụng khá phổ
biến trong các xã hội phong kiến Việt Nam. Nội dung của nguyên tắc này là tuy một
người phạm tội nhưng họ hàng thân thích của người đó không liên quan đến việc
phạm tội nhưng vẫn bị đưa ra xét xử cùng với người phạm tội.
Theo quan điểm của luật hình sự hiện đại thì đây là nguyên tắc vô nhân đạo,
nó trái ngược với nguyên tắc trách nhiệm cá nhân – một nguyên tắc được ghi nhận
trong luật hình sự hiện đại.
1.5.2.Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản sau
Cách Mạng Tháng Tám (Trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985).
Sau cách mạng tháng tám 1945, Nhà nước Việt Nam kiểu mới được hình
thành, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam. Trong
giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành nhiều sắc lệnh nhằm đáp ứng yêu cầu giữ gìn
chính quyền nhân dân, góp phần xây dựng và chuẩn bị lực lượng sẵn sàng bước vào

1.5.3. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội cướp giật tài sản từ khi
ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1999.
Điều 70 Hiến pháp năm 1980 quy định: “công dân có quyền được pháp luật
bảo hộ tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm”. Như vậy, sở hữu của công dân về
tài sản là một trong những quyền cơ bản nhất được Hiến pháp quy định và được
pháp luật bảo hộ. Bộ luật hình sự 1985 quy định các tội xâm phạm sở hữu của công
dân là nhằm bảo vệ sở hữu của công dân về mặt hình sự.
Trong thời kì này nguồn duy nhất và trực tiếp của pháp luật hình sự là Bộ luật
hình sự 1985. Đây là Bộ luật hình sự của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 11

SVTH: Lê Thị Ràng


Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam
Nếu pháp luật hình sự thời kì trước đó là hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật hình sự đơn hành, thì Bộ luật hình sự 1985 đánh dấu bước tiến bộ vượt bậc về
kỹ thuật lập pháp hình sự ở nước ta.
Bộ luật hình sự 1985 gồm 2 phần: phần chung và phần các tội phạm, tổng
cộng 20 chương với 280 điều.Trong đó phần các tội phạm gồm 12 chương với 205
điều quy định 12 nhóm tội phạm . Trong đó, có các tội xâm phạm sở hữu công dân.
Theo Bộ luật hình sự 1985 thì tội cướp giật tài sản được quy định cụ thể tại Chương
IV các tội xâm phạm sở hữu xã hội chủ nghĩa thì tội cướp giật tài sản quy định tại
Điều 131. Với quy định tại điều luật này thì khung hình phạt cao nhất của tội cướp
giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa là tù đến 20 năm. Tại
Chương VI các tội xâm phạm sở hữu công dân thì tội cướp giật tài sản được quy
định tại Điều 154 về tội cướp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản của công dân

SVTH: Lê Thị Ràng


Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam
Nhìn chung, Bộ luật hình sự 1999 đã quy định tội phạm và hình phạt một cách
cụ thể, theo Bộ luật hình sự 1999 thì tội cướp giật tài sản được quy định tại Điều
136 và quy định thành năm khung với mức hình phạt nặng nhất là tù chung thân.
1.6. Quy định của một số nước trên thế giới về hành vi đuợc xem là cướp giật
tài sản.
Để có sự nhận thức thấu đáo về tình hình của mỗi quốc gia, chúng ta cần có
một quan điểm đứng trên sự đối chiếu, so sánh. Quan điểm so sánh hệ thống pháp
luật sẽ cho phép nhận thức đúng đắn hệ thống pháp luật của chính mình. Kết quả
nghiên cứu pháp luật hình sự của các quốc gia sẽ góp phần tích cực cho hoạt động
lập pháp hình sự của quốc gia. Các nhà làm luật sẽ tiếp cận được kinh nghiệm quý
báu trong hoạt động hình sự của các nước trên thế giới. Qua đó, đối chiếu, so sánh,
sửa đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự của quốc gia. Qua kết quả nghiên
cứu những vấn đề cơ bản của pháp luật hình sự của các quốc gia còn là nguồn tài
liệu quý báo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy của các quốc gia. Hơn nữa,
chúng ta đang trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, để có sự hiểu biết
sơ bộ giúp cho việc tiến hành hợp tác có hiệu quả, chúng ta cần có nhận thức đúng
đắn về hệ thống pháp luật hình sự các quốc gia khác nhau. Điều này thể hiện rõ lợi
ích toàn cầu của việc nghiên cứu (Phạm Văn Beo - Tập bài giảng Luật hình sự các
nướctâm
- Trang
2) liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trung
Học
1.6.1. Hành vi được xem là cướp giật tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự
Nhật Bản.
Tuy Bộ luật hình sự Nhật Bản không có điều, khoản, điểm nào quy định về tội cướp

1.6.2. Hành vi được xem là cướp giật tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự
Thụy Điển.
Giống như Bộ luật Nhật bản, Bộ luật Thụy Điển cũng không quy định tội cướp
giật tài sản một cách cụ thể, nhưng khi tìm hiểu Chương 8 Bộ luật hình sự Thụy
Điển ta có thể rút ra các kết luận như sau:
Chương 8 Bộ luật hình sự Thụy Điển có quy định về tội trộm, cướp và các tội
khác chiếm đoạt tài sản của công dân.
Điều 7 Bộ luật hình sự Thụy Điển quy định: “Người nào lấy đi hoặc sử dụng
bất hợp pháp xe gắn máy hoặc các loại phương tiện gắn máy có người điều khiển
của người khác thì trừ trường hợp bị xử về các tội quy định tại các điều khác của
chương
thì bịliệu
phạtĐH
tù đến
2 năm.
Trung
tâmnày
Học
Cần
Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Điều 8 Bộ luật hình sự Thụy Điển có đoạn quy định: “Người nào ngoài các tội
được quy định rõ tại chương này, lấy đi hoặc sử dụng bất hợp pháp hoặc dưới các
hình thức khác chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tiền hoặc phạt tù đến 6
tháng về tội chiếm giữ trái pháp luật tài sản.
Ngoài ra, tại Điều 9 Bộ luật hình sự Thụy Điển còn quy định rằng: Người nào
xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhằm sử dụng tài sản của người khác đó
thì bị phạt tiền hoặc phạt tù đến 6 tháng về tội tự ý sử dụng tài sản của người khác.
Trong Bộ luật hình sự của Thụy Điển, hệ thống hình phạt được thể hiện theo
hướng thể hiện rõ nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự với các loại hình phạt
có nội dung khác nhau phù hợp với việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự trong


Trang 15

SVTH: Lê Thị Ràng


Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam

CHƯƠNG 2
TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1. Khái niệm về tội cướp giật tài sản theo quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam hiện hành.
Cướp giật tài sản là hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một
cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát.
Điều 136 Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 quy định về tội cướp giật tài sản:
1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến
năm năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm
đến mười năm:
a) Có tổ chức.
b) Có tính chất chuyên nghiệp.
c) Tái phạm nguy hiểm.
d) Hành hung để tẩu thoát.
Dùngliệu
thủ đoạn
Trung tâme)Học
ĐH nguy
Cầnhiểm.
Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

2.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội cướp giật tài sản.
2.2.1. Về mặt chủ thể của tội cướp giật tài sản.
Đối với tội cướp giật tài sản, chủ thể của tội phạm này cũng tương tự như đối
với các tội xâm phạm sở hữu khác. Tuy nhiên, người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản thuộc
trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự, vì khoản 1 Điều 136 Bộ
luật hình sự là tội phạm nghiêm trọng và theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự,
thì người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, người
từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, chủ
thể của tội cướp giật tài sản quy định tại tất cả các khoản 1, 2, 3, 4 Điều 136 Bộ luật
hình sự là người từ đủ 16 tuổi trở lên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Người từ
đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi có đủ năng lực trách nhiệm hình sự chỉ là
chủ thể của tội cướp giật tài sản quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 136 Bộ luật
hình sự. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
trình điều tra, truy tố, xét xử đối với người phạm tội cướp giật tài sản cần chú ý độ
tuổi của người phạm tội và các tình tiết định khung hình phạt. Nếu người phạm tội
thuộc trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 136 Bộ luật hình
sự thì chỉ cần xác định người phạm tội đủ 14 tuổi là đã chịu trách nhiệm hình sự,
nhưng nếu người phạm tội thuộc quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự thì
người phạm tội phải đủ 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự. (ThS. Đinh Văn
Quế - Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm tập II bình luận chuyên
sâu - NXB Thành Phố Hồ Chí Minh - Trang 150)
2.2.2. Về mặt khách thể của tội cướp giật tài sản.
Khách thể của tội cướp giật tài sản là cùng một lúc xâm phạm đến hai khách
thể (quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân), nhưng chủ yếu là quan hệ tài sản. Tuy
nhiên, trong tình hình hiện nay, nhiều vụ cướp giật tài sản đã gây ra những hậu quả
rất nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của người bị hại như các vụ cướp giật của
người đang điều khiển xe đạp, xe máy làm cho những người này ngã xe gây ra tai

Thơ
@lý.Tài
học
tậpmột
vàsốnghiên
cứu
năngtâm
giữ được
sản ĐH
mà mình
quản
Tuyliệu
nhiên,
trong
trường hợp,
người phạm tội muốn tạo ra yếu tố bất ngờ đối với chủ sở hữu hoặc người có trách
nhiệm quản lý tài sản nhưng thủ đoạn phạm tội không làm cho chủ sở hữu hoặc
người có trách nhiệm quản lý tài sản bị bất ngờ nên người phạn tội không thực hiện
được hành vi giật tài sản.
Ví dụ: Khoảng 17h ngày 18/9 bị can Đào Trung Dũng đi xe máy một mình
trên đường Giải Phóng, khi đến gần cổng bệnh viện Bạch Mai, Dũng phát hiện thấy
một người đàn ông khoảng 50 tuổi đi xe máy Honda 82 màu xanh cùng chiều có
đeo điện thoại di động ở thắt lưng bên phải. Dũng liền bám theo, đi xe máy áp sát
bên phải của người đàn ông rồi dùng tay trái giật mạnh điện thoại nhưng do người
đàn ông phát hiện và dùng tay giữ lại nên Dũng không giật được tài sản. Người đàn
ông hô toán Dũng liền lái xe bỏ chạy. Tại cơ quan điều tra, Dũng đã khai nhận hành
vi phạm tội của mình.
Thực tiễn xét xử cho thấy có nhiều trường hợp lúc đầu người phạm tội chỉ có ý
định giật lấy tài sản nhưng trong quá trình thực hiện hành vi giật, bị chủ sở hữu
hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản chống cự giữ lại tài sản hoặc giằng lại tài

cũng là những dấu hiệu đặc trưng để phân biệt tội cướp giật tài sản với những tội
phạm gần kề khác thuộc về các tội xâm phạm sở hữu. Các thủ đoạn để phân biệt tội
cướp giật tài sản và các tội gần kề khác:
- Dùng thủ đoạn chen lấn, xô đẩy người giữ tài sản làm cho người này không
chú ý đến tài sản nên người phạm tội mới lấy được tài sản rồi tẩu thoát.
- Lợi dụng chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản vướng mắc,
không có khả năng đuổi bắt hoặc giằng giặt lại tài sản nên người phạm tội chiếm
đoạt tài sản. Như lợi dụng người bán hàng đang bán hàng cho khách, người phạm
tội đã lấy đi một món hàng rồi bỏ chạy.
- Người phạm tội còn có thể dùng thủ đoạn có vẻ như đe dọa chủ sở hữu hoặc
người quản lý tài sản như: giả làm cán bộ quản lý thị trường đến kiểm tra hàng rồi
bất ngờ giật lấy tài sản hoặc tạo điều kiện cho đồng bọn giật lấy tài sản rồi tẩu thoát.
- Người phạm tội cũng có thể dùng thủ đoạn gian dối để tiếp cận gần chủ sở
hữu hoặc người quản lý tài sản rồi giật lấy tài sản của họ.
- Ngoài các thủ đoạn nêu trên người phạm tội còn dùng thủ đoạn lén lút để
tiếp cận chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản rồi bất ngờ giật lấy tài sản của chủ sở
hữu hoặc người quản lý tài sản.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 19

SVTH: Lê Thị Ràng


Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam
Đặc trưng của hành vi cướp giật tài sản là sau khi giật lấy tài sản người phạm
tội sẽ tẩu thoát, thế nhưng hành vi chạy trốn nó chỉ là một đặc trưng của tội cướp
giật tài sản chứ không phải là dấu hiệu bắt buộc, người phạm tội có chạy trốn hay
không còn phải tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, nếu như trong hoàn cảnh nhất

158).

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 20

SVTH: Lê Thị Ràng


Tội cướp giật tài sản trong luật hình sự Việt Nam

2.3. Các trường hợp phạm tội cụ thể.
2.3.1. Phạm tội cướp giât tài sản không có tình tiết định khung hình phạt.
Đây là những trường hợp phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình
sự, là cấu thành cơ bản của tội cướp giật tài sản. So với tội cướp giật tài sản của
công dân quy định tại Điều 154 Bộ luật hình sự năm 1985 thì khoản 1 Điều 136 Bộ
luật hình sự 1999 nặng hơn khoản 1 Điều 154 Bộ luật hình sự 1985, nhưng không
nặng hơn và cũng không nhẹ hơn khoản 1 Điều 131 Bộ luật hình sự 1985 quy định
về tội cướp giật tài sản xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, đối với hành vi phạm tội cướp giật
tài sản của công dân xẩy ra trước 0 giờ 00 ngày 1/7/2000 mà sau ngày 4/1/2000 mới
phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử thì không được áp dụng khoản 1 Điều 136 Bộ luật
hình sự năm 1999. Đối với hành vi cướp giật tài sản xã hội chủ nghĩa xẩy ra trước 0
giờ 00 ngày 1/7/2000 mà sau 0 giờ 00 ngày 1/7/2000 mới phát hiện, xử lý thì cũng
không được áp dụng Điều 136 Bộ luật hình sự 1999 để điều tra, truy tố, xét xử đối
với người phạm tội mà phải áp dụng Điều 131 Bộ luật hình sự 1985, vì theo khoản
1 Điều 7 Bộ luật hình sự 1999 thì điều luật được áp dụng đối với hành vi phạm tội
là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực
hiện, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 7 Bộ luật
hình sự 1999.
Khi quyết

nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì cũng có thể được
hưởng án treo.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 21

SVTH: Lê Thị Ràng


Trích đoạn Phạm tội cướp giât tài sản không có tình tiết định khung hình phạt Cướp giật tài sản thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ Những bất cập và nguyên nhân của những bất cập trong giải quyết vụ án Các giải pháp nhằm phòng, chống tội cướp giật tài sản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status