ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
®Þnh téi danh vµ quyÕt ®Þnh h×nh ph¹t
®èi víi téi tham « tµi s¶n
Trong luËt h×nh sù viÖt nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
®Þnh téi danh vµ quyÕt ®Þnh h×nh ph¹t
®èi víi téi tham « tµi s¶n
Trong luËt h×nh sù viÖt nam
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN VĂN TUÂN
HÀ NỘI – 2015
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của định tội danh đối
với tội tham ô tài sản ............................................................................ 6
1.1.2. Những căn cứ pháp lý và căn cứ khoa học của việc định tội danh
đối với tội tham ô tài sản .................................................................... 16
1.2.
KHÁI NIỆM, NGUYÊN TẮC, CĂN CỨ CỦA QUYẾT ĐỊNH
HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN ............................. 22
1.2.1. Khái niệm quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản ................ 22
1.2.2. Nguyên tắc quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản .............. 23
1.2.3. Căn cứ quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản ..................... 26
1.3.
NHỮNG YẾU TỐ ĐẢM BẢO CHO VIỆC ĐỊNH TỘI DANH VÀ
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN ....... 33
1.3.1. Hệ thống pháp luật hình sự................................................................. 33
1.3.2. Đạo đức nghề nghiệp của chủ thể định tội danh, quyết định hình phạt .... 34
1.3.3. Năng lực chuyên môn của chủ thể định tội danh, quyết định hình phạt ... 36
Chương 2: THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH
HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN ......................... 38
2.1.
NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VỀ ĐỊNH TỘI DANH VÀ
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN ... 38
2.2.
3.2.
KIẾN NGHỊ BAN HÀNH VĂN BẢN HƯỚNG DẪN ..................... 82
3.3.
NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ, ĐẠO
ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CỦA CHỦ THỂ ĐỊNH TỘI DANH,
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ............................................................. 89
3.4.
TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC QUỐC TẾ TRONG ĐẤU TRANH,
XỬ LÝ TỘI PHẠM THAM Ô TÀI SẢN .......................................... 93
KẾT LUẬN .................................................................................................... 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 98
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Tương quan giữa tổng số vụ án tham nhũng đã phát hiện
khởi tố và tổng số vụ án tham ô tài sản đã phát hiện khởi tố
Bảng 2.6: Số liệu về hình phạt áp dụng của Tòa án nhân dân các cấp
đối với tội phạm tham ô tài sản từ năm 2010 đến năm 2014
51
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, trong nhóm tội phạm tham nhũng, tội phạm tham ô tài sản
đã và đang là một vấn đề được quan tâm không chỉ bởi một quốc gia, một khu
vực mà của cả thế giới. Loại tội phạm này không chỉ đe dọa đến sự ổn định
chính trị, kìm hãm sự phát triển kinh tế mà nó còn làm trầm trọng thêm những
vấn đề tiêu cực xã hội, hủy hoại những giá trị tốt đẹp của dân tộc và xâm hại
nghiêm trọng đến quyền con người. Vì vậy, tất cả các quốc gia trên thế giới
đều phải đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng nói chung và tội phạm
tham ô tài sản nói riêng, trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, trong những
năm gần đây, tội phạm tham ô tài sản cũng đang là một vấn nạn lớn của xã
hội. Theo đánh giá của Tổ chức Minh bạch quốc tế, Việt Nam thuộc nhóm
những nước tham nhũng nghiêm trọng, trong đó các tội phạm tham ô tài sản
chiếm tỉ lệ cao với nhiều thủ đoạn tinh vi. Tội phạm tham ô tài sản ở Việt
Nam vừa nghiêm trọng, vừa tinh vi, phức tạp, xảy ra phổ biến trên nhiều lĩnh
vực, nhiều cấp, nhiều ngành với nhiều cấp độ khác nhau. Đặc biệt, trong
những năm gần đây đã xảy ra nhiều vụ án tham ô phức tạp mang tính chất đặc
biệt nghiêm trọng, gây ra những thiệt hại to lớn như: Vụ án Dương Chí Dũng
- nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải tham nhũng số tiền gần 400 tỷ đồng, vụ án
Huỳnh Thị Huyền Như - nguyên cán bộ Viettinbank chi nhánh Thành phố Hồ
Chí Minh và đồng bọn tham nhũng gây thiệt hại hơn 4.000 tỷ đồng,… Số tài
sản các bị cáo đã chiếm đoạt là rất lớn như: vụ Lê Hoài Phương - cán bộ Ngân
hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Cầu Giấy (Hà Nội) tham ô 24
tỷ đồng; vụ Huỳnh Ngọc Sĩ - Giám đốc Ban quản lý dự án đại lộ Đông - Tây,
- Việc xác định tội tham ô tài sản trong cơ chế thị trường, của Đinh
Khắc Tiến, Tạp chí Kiểm sát, số 6/2006.
- Bàn về chủ thể của tội tham ô tài sản trong Bộ luật hình sự năm
1999, của Trương Thị Hằng, Tạp chí Kiểm sát, số /2006.
- Các tội phạm về tham nhũng có tính chất chiếm đoạt tài sản và đấu
2
tranh phòng chống các tội này ở Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế, Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2008.
- Tham nhũng ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của
Thái Thị Thu Hương, Tạp chí Cộng sản, số 4/2013.
Các công trình trên chủ yếu quan tâm nghiên cứu tới tội phạm tham
nhũng nói chung. Số lượng công trình nghiên cứu tội phạm tham ô tài sản
dưới góc độ toàn diện còn hạn chế. Cho tới nay, chưa có công trình nào ở cấp
độ thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề định tội danh và quyết định hình phạt đối với
tội phạm tham ô tài sản.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu các quy
định của pháp luật hình sự về định tội danh đối với tội phạm tham ô tài sản để
hoàn thiện hơn nữa quy định của Bộ luật hình sự về các tội này khi quy định
về vấn đề định tội danh, quyết định hình phạt và thông qua đó góp phần nâng
cao hiệu quả các hoạt động này trong thực tiễn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, trong quá trình nghiên cứu đề tài cần
thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu các quy định cụ thể của Bộ luật hình sự về dấu hiệu định
tội và các căn cứ quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản được quy
đối với tội phạm tham ô tài sản.
5. Ý nghĩa và những đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ nghiên cứu
về vấn đề định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội phạm tham ô tài
sản. Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về các quy
định liên quan đến định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài
sản. Luận văn đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề chung về định tội danh và
quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản, phân tích cụ thể các căn cứ
4
pháp lý của định tội danh và quyết định hình phạt đối với tôi tham ô tài sản
dựa trên kết quả công tác giải quyết vụ án hình sự của cơ quan tiến hành tố
tụng trong những năm gần đây để đánh giá tồn tại, hạn chế của việc định tội
danh và quyết định hình phạt đối với tội tham ô tài sản, từ đó tìm ra nguyên
nhân của những tồn tại, hạn chế này để có giải pháp khắc phục, nâng cao hiệu
quả áp dụng trong thực tiễn.
Luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận, có thể sử
dụng làm tài liệu nghiên cứu học tập và trong thực tiễn giải quyết vụ án
tham ô tài sản.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về định tội danh và quyết định hình
phạt đối với tội tham ô tài sản.
Chương 2: Thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội
tham ô tài sản.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả định tội danh và quyết
định hình phạt đối với tội tham ô tài sản.
6
của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật hình sự quy định,
hay nói cách khác là nhằm đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm
về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân
hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng
pháp luật [7, tr. 33].
Còn theo quan điểm của TS. Dương Tuyết Miên:
Định tội danh là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng
(Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án) và một số cơ quan khác
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một người
có phạm tội hay không, nếu phạm tội thì đó là tội gì, theo điều luật
nào của Bộ luật hình sự hay nói cách khác đây là quá trình xác định
tên tội cho hành vi nguy hiểm đã được thực hiện [20, tr. 7].
ThS. Đoàn Tất Minh cũng đưa ra quan điểm của mình về khái niệm
định tội danh như sau:
Định tội danh là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động của cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền trong
tố tụng hình sự nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế
của cấu thành tội phạm với các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội
phạm được mô tả (quy định) trong Luật hình sự để giải quyết án hình
sự bằng việc ra kết luận bằng văn bản áp dụng pháp luật [22, tr. 10].
Các tác giả trên đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về khái niệm
định tội danh. Tuy nhiên, nhìn chung các quan điểm trên đều thể hiện: định tội
danh là quá trình áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, được tiến hành
bởi các cơ quan tư pháp hình sự và một số cơ quan khác có thẩm quyền và việc
định tội danh phải được thực hiện trên cơ sở các quy định của luật hình sự.
Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm
năm 1999, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Chủ thể của tội phạm này
là những người có chức vụ, quyền hạn, vì những lợi ích khác nhau đã lợi dụng
8
chức vụ, quyền hạn mà mình có để chiếm đoạt tài sản, qua đó xâm phạm hoạt
động đúng đắn của cơ quan, tổ chức cũng như gây thiệt hại cho lợi ích của
Nhà nước, của xã hội hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Từ cơ sở lý luận cũng như các quy định của Bộ luật hình sự có thể
thấy định tội danh đối với tội tham ô tài sản là hoạt động thực tiễn áp dụng
quy phạm pháp luật hình sự được quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự. Đây
là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng có
thẩm quyền trong tố tụng hình sự nhằm đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu
hiệu thực tế của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu
hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm được mô tả tại Điều 278 Bộ luật hình sự,
tức là trên cơ sở các chứng cứ tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế
của vụ án hình sự cụ thể, các chủ thể có thẩm quyền xem xét, kiểm tra xem
các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đó có thỏa mãn các dấu hiệu
tương ứng của cấu thành tội phạm tội tham ô tài sản đã được quy định trong
luật hình sự hay không, để trên cơ sở đó xác định vấn đề trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội.
Vậy tác giả đưa ra khái niệm như sau: Định tội danh đối với tội tham ô
tài sản là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng
hình sự, do các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như một số cơ quan khác có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật thực hiện trên cơ sở các chứng cứ,
tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để nhằm đối
chiếu sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với
các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể đã được quy định trong Điều 278
Bộ luật hình sự, từ đó xác định người đã thực hiện hành vi đó có phạm tội
khác có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Đóng vai trò chính trong hoạt động định tội danh là các cơ quan tư
pháp hình sự, bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Các cơ
quan này trong quá trình thực hiện hoạt động điều tra, truy tố và xét xử đã áp
10
dụng các quy định của pháp luật hình sự vào thực tế đời sống, tức là lựa
chọn đúng quy phạm pháp luật hình sự để áp dụng đối với hành vi nguy
hiểm cho xã hội cụ thể nào đó đã được thực hiện trong thực tế. Và từ đó, đưa
ra kết luận là hành được xem xét ấy có đủ các dấu hiệu của tội tham ô tài sản
được quy định trong pháp luật hình sự thực định hay không [7, tr. 34]. Như
vậy, chủ thể của hoạt động định tội danh đối với tội tham ô tài sản chính là
các cơ quan tư pháp hình sự gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và
một số cơ quan khác có thẩm quyền. Các chủ thể này dựa trên các quy định
pháp luật hình sự tiến hành việc định tội danh đối với tội phạm tham ô tài
sản theo đúng trình tự, thủ tục được quy định trong luật tố tụng hình sự, trên
cơ sở đó định tội danh đúng để làm căn cứ cho việc quyết định hình phạt đối
với người phạm tội.
Thứ ba, định tội danh đối với tội tham ô tài sản được thực hiện trên cơ
sở áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự; đồng thời căn cứ vào
các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự.
Khi tiến hành định tội danh, dù ở bất kì giai đoạn tố tụng nào, các cơ
quan có thẩm quyền phải tuân thủ đầy đủ, chính xác các quy định của cả luật
hình sự (luật về nội dung) và luật tố tụng hình sự (luật về hình thức). Bởi lẽ
định tội danh là hoạt động đối chiếu sự phù hợp giữa các tình tiết thuộc về
hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trên thực tế với các dấu hiệu
pháp lý của cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự và hoạt
động đó được tiến hành trên cơ sở trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ
pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được nhà
nước ủy quyền thực hiện [7, tr. 35]. Định tội danh chính thức đối với tội tham
ô tài sản có những đặc điểm sau:
- Các chủ thể định tội danh chính thức đối với tội tham ô tài sản
phải là những người có thẩm quyền trực tiếp tiến hành tố tụng đối với vụ
án hình sự cụ thể, đó là, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm
nhân dân và hội thẩm quân nhân [7, tr. 35]. Từng chủ thể trên sẽ tiến hành
12
định tội danh đối với tội tham ô tài sản trong các giai đoạn tố tụng khác
nhau và tùy theo thẩm quyền, nhiệm vụ, trách nhiệm được quy định trong
Bộ luật tố tụng hình sự.
- Các hậu quả của việc định tội danh do các chủ thể đã nêu trên tiến
hành bao gồm các hậu quả pháp lý tố tụng hình sự như khởi tố vụ án hình
sự, bắt đầu quá trình điều tra, khởi tố bị can, truy tố, xét xử,... Vì sau khi
nhận được tin báo, tố giác tội phạm, cơ quan điều tra phải kiểm tra, xác
minh và quyết định việc khởi tố vụ án tham ô tài sản nếu có dấu hiệu của tội
phạm và, từ đó là cơ sở để tiến hành điều tra, giải quyết vụ án làm căn cứ để
quyết định truy tố, xét xử người phạm tội về tội tham ô tài sản. Ngoài ra, hậu
quả hoạt động định tội danh chính thức đối với tội tham ô tài sản còn là các
hậu quả pháp lý hình sự như miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc
ra bản án kết tội...
- Nếu người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự trong giai đoạn
trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì căn cứ vào Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2003, chỉ có tội danh cuối cùng trong bản án của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật mới được coi là tội danh chính thức mà người phạm tội
đã thực hiện [7, tr. 36]. Trong các giai đoạn khác nhau của tố tụng hình sự,
các chủ thể có thẩm quyền trong từng giai đoạn tiến hành hoạt động định tội
pháp luật hình sự hay pháp luật tố tụng hình sự của các chủ thể tham gia các
quan hệ đó mà chỉ là các quan điểm khoa học hay ý kiến riêng của các cá
nhân đó [7, tr. 36]. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn có những ý nghĩa thực tiễn
nhất định khi nó là tài liệu tham khảo cho các chủ thể có thẩm quyền khi tiến
hành hoạt động định tội danh chính thức, hạn chế thấp nhất các trường hợp
định tội danh sai.
1.1.1.4. Ý nghĩa của định tội danh đối với tội tham ô tài sản
Trong quá trình giải quyết vụ án tham ô tài sản, việc định tội danh đối
với tội phạm này có ý nghĩa rất quan trọng, cụ thể:
14
Thứ nhất, định tội danh đối với tội tham ô tài sản đúng là tiền đề cho
việc quyết định hình phạt chính xác, là cơ sở để áp dụng đúng các quy định tố
tụng hình sự, đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm hay làm oan người vô tội, từ đó
bảo vệ được quyền hợp pháp và tự do của công dân. Chỉ khi xác định đúng
người đó đã phạm tội tham ô tài sản, các chủ thể có thẩm quyền mới có thể áp
dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về tạm giam, thời hạn
tạm giam, khởi tố vụ án hình sự, thẩm quyền điều tra, thẩm quyền xét xử,…
và bằng cách đó, góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ quyền và tự do của công
dân trong lĩnh vực tư pháp hình sự [7, tr. 30].
Thứ hai, định tội danh đối với tội tham ô tài sản đúng thể hiện hoạt
động có hiệu quả, ý thức tuân thủ pháp luật, trình độ chuyên môn của các cơ
quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, góp phần nâng cao uy tín,
chất lượng hoạt động của các cơ quan này.
Thứ ba, định tội danh đối với tội tham ô tài sản đúng sẽ giúp cho việc
điều tra, xử lý tội phạm tham ô tài sản có căn cứ, từ đó góp phần quan trọng
vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm tham ô tài sản nói riêng và tội
Như vậy, theo quan điểm này, xét theo nghĩa hẹp thì chỉ có Bộ luật
hình sự là cơ sở pháp lý trực tiếp của việc định tội danh, còn theo nghĩa rộng
thì còn gồm cả Bộ luật tố tụng hình sự với tư cách là cơ sở pháp lý gián tiếp
của việc định tội danh.
TS. Dương Tuyết Miên đưa ra quan điểm của mình về vấn đề này như sau:
Hoạt động định tội danh suy cho cùng là việc so sánh, đối
chiếu các tình tiết của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện
trong thực tế có phù hợp với các dấu hiệu tương ứng của cấu thành
tội phạm cơ bản của một tội phạm cụ thể nào đó được quy định
trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Để có thể tiến hành
16
được việc định tội danh, nhà làm luật đã xây dựng những mẫu đặc
thù riêng cho từng tội cụ thể mà dựa vào đó những người có thẩm
quyền tiến hành việc định tội danh phải xác định có hay không có
sự phù hợp giữa các tình tiết của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ
thể được thực hiện trên thực tế với một trong những mẫu đặc thù
được quy định trong Bộ luật hình sự, từ đó tìm ra tên tội cho hành
vi nguy hiểm đã thực hiện [20, tr. 13].
Như vậy, quan điểm này cho rằng cơ sở pháp lý của việc định tội danh
chính là các quy định trong Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở nghiên cứu hai quan điểm về cơ sở pháp lý của việc định
tội danh nói chung, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về cơ sở pháp lý của
việc định tội danh đối với tội tham ô tài sản như sau: Căn cứ pháp lý của việc
định tội danh đối với tội tham ô tài sản là quy phạm pháp luật hình sự được
quy định tại Điều 278 Bộ luật hình sự với tính chất là cơ sở pháp lý duy nhất
(trực tiếp) cho toàn bộ quá trình xác định các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm
cho xã hội được thực hiện là tội phạm tham ô tài sản.
trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự
cấm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm
hình sự theo luật định.
Mặc chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của sự xâm hại
nguy hiểm đáng kể cho xã hội đến khách thể được bảo vệ bằng pháp
luật hình sự, tức là thái độ tâm lý của chủ thể được thể hiện dưới hình
thức cố ý hoặc vô ý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình
thực hiện và đối với hậu quả của hành vi đó (lỗi) [8, tr. 343-344].
Từ các yếu tố cấu thành của tội phạm nói chung trên, chúng ta có thể
thấy cơ sở khoa học của việc định tội danh đối với tội tham ô tài sản là cấu
thành tội phạm tội tham ô tài sản - tổng hợp các dấu hiệu pháp lý (khách quan
và chủ quan) do luật hình sự quy định thể hiện một hành vi nguy hiểm cho xã
hội cụ thể là tội phạm tham ô tài sản. Cụ thể:
18
* Chủ thể của tội tham ô tài sản: Tội tham ô tài sản là do người có chức
vụ, quyền hạn thực hiện và người phạm tội đã sử dụng chức vụ, quyền hạn đó
của mình để thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, tội tham ô tài sản có chủ thể
đặc biệt, hay nói cách khác, ngoài các yếu tố cần và đủ giống như các tội phạm
khác như: độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12, Điều 13
Bộ luật hình sự; chủ thể của tội tham ô tài sản còn cần phải là người có chức vụ
quyền hạn và có trách nhiệm đối với tài sản mà họ chiếm đoạt. Nhưng điều này
không có nghĩa là người không có chức vụ, quyền hạn không thể là chủ thể của
tội tham ô tài sản bởi người không có chức vụ quyền hạn vẫn có thể là đồng
phạm trong các vụ án tham ô tài sản. Trong trường hợp đồng phạm, chỉ có
người đồng phạm với vai trò là người thực hành đòi hỏi phải là người có chức
vụ, quyền hạn; những người đồng phạm khác trong vai trò người tổ chức,
người xúi giục, người giúp sức thì họ không nhất thiết phải có yếu tố này. Chủ