ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
THIỀU THỊ THÚY NGÂN
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2013
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
THIỀU THỊ THÚY NGÂN
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY NỘI ĐỊA QUA THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số
: 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Đăng Dung
chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa
9
1.2.1.
Khái niệm
9
1.2.2.
Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường thủy nội địa
12
1.3.
Nội dung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa
15
1.3.1.
Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường thủy nội địa
15
30
2.1.1.
Thời hiệu xử phạt
30
2.1.2.
Thẩm quyền xử phạt
32
2.1.3.
Hình thức xử phạt vi phạm phạm hành chính trong giao
thông đường thủy nội địa
34
2.1.4.
Trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong giao
thông đường thủy nội địa
37
LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI
PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO
THÔNG ĐƢỜNG THỦY NỘI ĐỊA
3.1.
Phương hướng hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa
55
3.1.1.
Phù hợp với thực tế, nhu cầu khách quan của sự phát triển
kinh tế- xã hội của đất nước
55
3.1.2.
Đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa các văn bản pháp
luật và hội nhập với pháp luật quốc tế
56
3.1.3.
Bảo đảm quyền tự do, dân chủ, quyền lợi hợp pháp của cá
nhân, tổ chức vi phạm
3.2.4.
Đối với phương thức nộp phạt
60
3.2.5.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
61
3.2.6.
Cần tăng cường trong công tác quản lý nhà nước về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa
62
3.2.7.
Tăng cường công tác tuần tra kiểm soát của các chiến sĩ công
an đường thủy để nhanh chóng kịp thời phát hiện các hành vi
vi phạm hành chính
64
3.2.8.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
70
KẾT LUẬN
72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
74
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân các cấp (3 cấp) - quy định tại Điều 33
Nghị định 60/2011/NĐ-CP
22
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Cảnh sát
Biển- quy định tại điều 38 Nghị định 60/2011/NĐ-CP
26
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hơn hai mươi năm đổi mới, thực hiện chủ trương, đường lối của
đảng, pháp luật, chính sách của nhà nước từ năm 1986, Việt Nam đã từng
bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và đạt được những thành tựu to
lớn về tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững. Nền
kinh tế phát triển toàn diện và tích cực, tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định,
chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng được cải
thiện. Văn hóa xã hội có tiến bộ nhiều mặt; công tác giáo dục đào tạo, khoa
học công nghệ, giáo dục, y tế có những bước phát triển mới cả về chiều rộng và
chiều sâu; đặc biệt, lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo và lao động, việc làm được
quan tâm đầu tư và đạt được những thành tựu rất quan trọng và đáng khích lệ.
Đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt.
Tuy nhiên trong xã hội còn rất nhiều vấn đề cần phải được giải quyết,
thậm chí còn nan giải hơn trước đây. Đó là tình trạng vi phạm pháp luật, đặc
biệt trong lĩnh vực quản lý nhà nước không hề có hướng thuyên giảm, thậm
chí còn có khu vực bị gia tăng, tình trạng vi phạm hành chính và xử phạt vi
phạm hành chính ở Việt Nam hiện nay đang diễn ra một cách không có kiểm
soát hay sự kiểm soát của nhà nước tỏ ra kém kiệu quả ở chỗ giới hạn của xử
phạt vi phạm hành chính hiện nay không giới hạn được.
Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
Giảm tình trạng chồng chéo, trùng lặp, mâu thuẫn giữa các quy định trong hệ
thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính hiện hành.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quan của đề tài "Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường thủy nội địa - Qua thực tiễn thành phố Hà Nội" góp
phần vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam là đảm bảo tính
tương thích, từng bước hội nhập với pháp luật quốc tế, tạo những thuận lợi cơ
bản, giảm thiểu những rào cản về pháp lý trong quá trình Việt Nam tham gia
8
và trở thành quốc gia thành viên của các tổ chức quốc tế chủ yếu và quan
trọng trong cộng đồng quốc tế. Giảm tình trạng chồng chéo, trùng lặp, mâu
thuẫn giữa các quy định trong hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính hiện hành;
2.2. Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, đề tài thiết kế theo các mục tiêu
cụ thể sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về pháp luật xử phạt vi phạm hành
chính nói chung và pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường thủy nội địa nói riêng.
- Phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực trạng thực hiện pháp
luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội
địa, từ đó thấy được những bất cập, khó khăn cũng như vướng mắc trong thực
tế thi hành áp dụng.
- Đề ra phương hướng, giải pháp đổi mới, hoàn thiện pháp luật về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa đáp
ứng yêu cầu quản lý nhà nước ngày càng phức tạp trong giai đoạn hiện nay.
trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa để đề ra những giải pháp hợp lý.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường thủy nội địa.
Chương 2: Tình hình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường thủy nội địa (qua thực tiễn thành phố Hà Nội)
Chương 3: Kiến nghị phương hướng hoàn thiện pháp luật và thực hiện
pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường.
12
Chương 1
PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG THỦY NỘI ĐỊA
1.1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG, VẬN TẢI ĐƢỜNG THỦY
VIỆT NAM
Giao thông vận tải có tầm quan trọng đặc biệt với nền kinh tế quốc
dân. Tuy bản thân giao thông vận tải không tạo giá trị vật chất, song nó xúc
tiến quá trình tái sản xuất mở rộng, đưa nguyên liệu đến nơi sản xuất và sản
phẩm đến người tiêu thụ. Bời vậy, giao thông vận tải là một trong những
thành phần quan trọng không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân.
Cùng với giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, hàng không, giao
thông vận tải đường thủy góp phần làm cho hệ thống giao thông vận tải Việt
Nam hoàn chỉnh, tạo ra ưu thế cho nền kinh tế quốc dân.
Giao thông vận tải thủy bao gồm giao thông vận tải biển và giao thông
lớn nhất. Từ những điều kiện thuận lợi đó, trên hệ thống giao thông đường
thủy nội địa cả nước hiện thường xuyên có 1.062 tàu biển, 119.893 phương
tiện thủy nội địa, khoảng 95.000 tàu cá và trên 25.000 phương tiện cơ giới
nhỏ có trọng tải 5 tấn trở xuống hoạt động, tạo mật độ phương tiện hoạt động
lớn, phong phú, đa dạng, góp phần quan trọng và sự phát triển kinh tế của đất
nước và đời sống dân sinh. Chỉ tính riêng hiệu quả vận tải của đội tàu thủy nội
địa, cũng chỉ tính hàng hóa, hành khách vận chuyển thông qua các cảng, bến
có sự quản lý của cơ quan nhà nước, hàng năm vận chuyển được khoảng 4550 triệu tấn hàng, hàng chục triệu lượt khách, đạt khoảng 30% tỷ trọng vận tải
trong các loại hình vận tải của cả nước. Điều đó khẳng định vị trí, vai trò quan
trọng của hệ thống giao thông thủy nội địa Việt Nam và giao thông đường
thủy nội địa đang được phát huy tiềm năng, khai thác vận tải đạt hiệu quả cao.
Với tiềm năng giao thông to lớn nói trên, hàng năm tốc độ tăng trưởng
vận tải đạt bình quân 10%. Một số tuyến giao thông trọng điểm (Phả Lại-Hòn
14
Gai, Thành phố Hồ Chí Minh-Cà Mau...) đang được đầu tư nâng cấp và chuẩn
hóa để đảm bảo cho phương tiện hoạt động 24/24 giờ. Bên cạnh đó, ngành
giao thông vận tải đang tiếp tục thu hút đầu tư để mở rộng mạng lưới giao
thông đường thủy nội địa để tổ chức quản lý được trên 12.000 km sông, kênh.
Cùng với sự phát triển của phương tiện giao thông vận tải, hoạt động
của ngành kinh tế mũi nhọn hiện nay là khai thác thủy sản phục vụ xuất khẩu
được dự báo tốc độ tăng trưởng 12-15%/năm. Trong đó tập trung phát triển
Đội tàu đánh bắt xa bờ với hàng vạn phương tiện có công suất từ 150CV trở
lên. Ngoài ra, các ngành kinh tế khác, nhất là khai thác vật liệu xây dựng, du
lịch trên đường thủy nội địa cũng được dự báo phát triển mạnh với tốc độ tăng
trưởng 8-10%/năm.
Vì vậy, bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường thủy nói chung và
đường thủy nội địa nói riêng là yêu cầu tất yếu, khách quan. Là nhiệm vụ của
khá nhiều văn bản pháp luật quy định về xử phạt vi phạm hành chính và đang
có hiệu lực pháp lý thi hành như là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002,
được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 (gọi chung là Pháp lệnh). Bên cạnh
Pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành các nghị định quy định cụ thể việc xử lý
các vi phạm hành chính trên các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính
nhà nước như trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, lĩnh vực giáo
dục- đào tạo, lĩnh vực hải quan, lĩnh vực thuế…
Trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa định nghĩa về vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa cũng đã được ghi nhận
trong văn bản pháp luật. Tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định 60/2011/NĐ-CP quy định:
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy
nội địa là những hành vi của tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của
pháp luật về giao thông đường thủy nội địa một cách cố ý hoặc vô ý
mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm:
a) Vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ công trình thuộc
kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa;
b) Vi phạm quy định về phương tiện thủy nội địa;
16
c) Vi phạm quy định về thuyền viên, người lái phương tiện;
d) Vi phạm quy định về quy tắc giao thông và tín hiệu của
phương tiện;
đ) Vi phạm quy định về hoạt động của cảng, bến thủy nội
địa và vận tải đường thủy nội địa [9].
Như vậy, vi phạm hành chính trên đường thủy là hành vi của cá nhân,
tổ chức cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước
thuộc lĩnh vực đường thủy hoặc xảy ra trên đường thủy nội địa nhưng chưa đến
trách nhiệm một hành vi vi phạm hành chính, qua đó buộc chủ thể vi phạm
hành chính phải gánh chịu một biện pháp cưỡng chế hành chính tương ứng
với hành vi vi phạm của mình.
Bốn là: Đối tượng tác động của xử phạt vi phạm hành chính là cá
nhân hoặc tổ chức đã thực hiện vi phạm hành chính.
1.2.2. Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đƣờng thủy nội địa
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa là một
dạng của vi phạm pháp luật. Do đó, những vi phạm này cũng có các yếu tố cấu
thành pháp lý gồm: Mặt khách quan; mặt chủ quan; chủ thể và khách thể. Các
yếu tố cấu thành vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường thủy nội địa nói riêng nằm trong một thể thống nhất.
Thứ nhất: Mặt khách quan
Mặt khách quan của vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa nói riêng là tổng hợp các
dấu hiệu bên ngoài của vi phạm hành chính bao gồm: hành vi trái pháp luật,
tính nguy hiểm cho xã hội, hậu quả và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả;
các dấu hiệu khác như công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm vi phạm.
Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa là hành vi vi phạm hành chính.
18
Nói cách khác, hành vi mà tổ chức, cá nhân thực hiện là hành vi xâm phạm
các quy tắc quản lý nhà nước về giao thông đường thủy nội địa đã bị pháp
luật hành chính ngăn cấm hay không thực hiện những việc mà pháp luật bắt
buộc chủ thể phải làm.
Thứ hai: Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của vi phạm là dấu hiệu bên trong của vi phạm hành
hành chính do mình gây ra.
Đối với chủ thể của vi phạm hành chính là tổ chức bao gồm: các cơ
quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực
lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác có tư cách pháp nhân.
Bên cạnh đó, quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập
trung huấn luyện và những người thuộc lực lượng Công an nhân dân vi phạm
hành chính thì bị xử lý như đối với các công dân khác; trong trường hợp cần
áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng một số giấy phép hoạt động vì
mục đích quốc phòng, an ninh thì người xử phạt không trực tiếp xử lý mà đề
nghị cơ quan, đơn vị Quân đội, Công an có thẩm quyền xử lý theo Điều lệnh
kỷ luật.
Đối với cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm
vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thì bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật
Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác.
Ngoài ra, một số trường hợp cá nhân, tổ chức không bị xử lý vi phạm
hành chính đó là:
Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ
đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, quyền, lợi ích
chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là
phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người vì bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình
20
hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành
vi xâm phạm các lợi ích nói trên.
60/2011/NĐ-CP) có thể thấy xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường thủy nội địa phải tuân theo các nguyên tắc đó là:
Thứ nhất: Nguyên tắc kịp thời, nhanh chóng, triệt để
Mọi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy
nội địa phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông phải được tiến hành nhanh chóng,
triệt để, mọi hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra phải được khắc
phục theo đúng quy định của pháp luật.
Thứ hai: Chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm
hành chính do pháp luật quy định.
Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi
phạm hành chính được quy định cụ thể trong các văn bản luật của Quốc hội,
pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và nghị định của Chính phủ.
Các văn bản do Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ban hành để chỉ đạo,
hướng dẫn, tổ chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền
không được quy định hành vi vi phạm hành chính và hình thức, mức xử phạt.
Thứ ba: Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính
một lần.
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi
người vi phạm đều bị xử phạt. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm
hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.
Một hành vi vi phạm đã được người có thẩm quyền xử phạt ra quyết
định xử phạt hoặc đã lập biên bản để xử phạt thì không được lập biên bản, ra
quyết định xử phạt lần thứ hai đối với chính hành vi đó nữa. Trong trường
hợp hành vi vi phạm vẫn tiếp tục được thực hiện mặc dù đã bị người có thẩm
quyền xử phạt ra lệnh đình chỉ thì bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
22
23
Ngoài mục đích ngăn chặn hành vi vi phạm, các quy định này còn
mang tính giáo dục đối với các cá nhân, tổ chức bị xử phạt, góp phần nâng
cao ý thức của công dân trong việc chấp hành pháp luật và các quy tắc quản
lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa.
Theo Nghị định 60/2011/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa thì hình thức xử phạt vi phạm hành
chính bao gồm: hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung.
a. Hình thức xử phạt chính
• Hình thức phạt tiền
Đây là hình thức xử phạt phổ biến có tính chất kinh tế được áp dụng
với đa số hành vi vi phạm trong giao thông đường thủy nội địa. Phạt tiền là
việc tước bỏ của cá nhân, tổ chức vi phạm một khoản tiền nhất định để sung
quỹ nhà nước. Phạt tiền tác động trực tiếp đến vật chất, lợi ích kinh tế của cá
nhân, tổ chức vi phạm, gây cho họ những bất lợi về tài sản. Vì lý do đó, hình
thức xử phạt này có hiệu quả rất lớn trong việc phòng chống vi phạm hành
chính trong giao thông đường thủy nội địa, đồng thời thông qua đó giáo dục,
phổ biến pháp luật cho người tham gia vào lĩnh giao thông đường thủy nội
địa. Mức xử phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính trong giao thông
đường thủy nội địa theo Nghị định 60/2011/NĐ-CP được quy định mức tối
thiểu là 10.000 đồng và mức tối đa là 40.000.000 đồng. Khi áp dụng hình
thức phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành
chính là mức trung bình của khung tiền phạt quy định đối với hành vi đó;
nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống thấp
hơn mức trung bình nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung
tiền phạt; nếu vi phạm có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên
cao hơn mức trung bình nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung
tiền phạt.
hạn hoặc không thời hạn là hình phạt bổ sung được áp dụng đối với người
25