Vai trò của Thanh tra Bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về thi hành án dân sự - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ XUÂN HÒA

VAI TRß CñA THANH TRA Bé T¦ PH¸P
TRONG QU¶N Lý NHµ N¦íC VÒ THI HµNH ¸N D¢N Sù

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2019


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ XUN HềA

VAI TRò CủA THANH TRA Bộ TƯ PHáP
TRONG QUảN Lý NHà NƯớC Về THI HàNH áN DÂN Sự
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 8380101.01

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS NGUYN HONG ANH

H NI - 2019


LỜI CAM ĐOAN

1.1.6. Nội dung quản lý nhà nước về thi hành án dân sự ............................. 23
1.1.7. Hình thức quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự ......... 29
Thanh tra Bộ Tƣ pháp và vai trò của Thanh tra Bộ Tƣ pháp
trong quản lý nhà nƣớc về thi hành án dân sự.............................. 31
1.2.1. Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh
tra Bộ Tư pháp.................................................................................... 31
1.2.2. Vai trò của Thanh tra Bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về thi
hành án dân sự .................................................................................... 42
1.2.

1.3.

Các điều kiện đảm bảo vai trò của Thanh tra Bộ Tƣ pháp
trong quản lý nhà nƣớc về thi hành án dân sự.............................. 56

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VAI TRÒ
CỦA THANH TRA BỘ TƢ PHÁP TRONG QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ............................................. 59
2.1.

Thực trạng quy định pháp luật về vai trò của Thanh tra Bộ
Tƣ pháp trong quản lý nhà nƣớc về thi hành án dân sự .............. 59


2.1.1.
2.1.2.
2.1.3.
2.1.4.

Về quản lý công tác tổ chức cán bộ ................................................... 60

quản lý nhà nước về thi hành án dân sự ............................................. 85
2.4.2. Mục tiêu bảo đảm vai trò của Thanh tra Bộ Tư pháp trong quản
lý nhà nước về thi hành án dân sự ...................................................... 89
2.4.

2.5.
2.5.1.
2.5.2.
2.5.3.
2.5.4.
2.5.5.

Giải pháp bảo đảm vai trò của Thanh tra Bộ Tƣ pháp trong
quản lý nhà nƣớc về thi hành án dân sự ........................................ 91
Hoàn thiện hệ thống pháp luật ........................................................... 91
Kiện toàn tổ chức bộ máy của Thanh tra Bộ Tư pháp ....................... 93
Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Thanh tra Bộ Tư pháp ....... 94
Đổi mới phương thức hoạt động ........................................................ 95
Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác thanh tra, giải
quyết khiếu nại, tố cáo ....................................................................... 95

KẾT LUẬN .................................................................................................... 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 100


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bàn về ý nghĩa, vị trí, vai trò của công tác thi hành án dân sự, Giáo sư
James F Harrigan, chuyên gia tư vấn pháp lý cho cơ quan thi hành án San
Francisco, California, Hoa Kỳ cho rằng:

Bộ Tư pháp (Sau đây gọi chung là Thanh tra Bộ) đóng vai trò quan trọng
trong việc giúp Bộ trưởng thực hiện việc quản lý nhà nước về thi hành án dân
sự; đảm bảo công tác này luôn theo đúng định hướng. Tuy nhiên, việc quản lý
nhà nước trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập dẫn đến tình trạng số lượng khiếu
nại, tố cáo trong lĩnh vực này chiếm 90% số lượng đơn, thư Bộ Tư pháp giải
quyết hàng năm. Công tác thanh tra trong lĩnh vực này cũng còn hạn chế, ví
dụ: Theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thi hành án
dân sự năm 2014, Thanh tra Bộ không tiến hành thanh tra theo kế hoạch đối
với lĩnh vực nghiệp vụ thi hành án dân sự, mà chỉ thực hiện chức năng này
thông quá việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và thanh tra đột xuất trong trường
hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật theo quy định tại khoản 2 Điều
19 Luật Thanh tra năm 2010. Như vậy, mặc dù Bộ Tư pháp là cơ quan giúp
Chính phủ quản lý nhà nước toàn diện trong lĩnh vực thi hành án dân sự
nhưng lại không có chức năng thực hiện công tác thanh tra theo kế hoạch đối
với nghiệp vụ thi hành án dân sự là một trong những bất cập lớn của việc
quản lý nhà nước. Thực tiễn cho thấy, từ việc không thực hiện chức năng
thanh tra theo kế hoạch đối với nghiệp vụ thi hành án dân sự dẫn đến tình
trạng khó khăn trong việc phòng ngừa, chấn chỉnh và xử lý đối với những vi
phạm của cơ quan thi hành án dân sự và các công chức làm công tác thi hành
án dân sự. Để công tác thi hành án dân sự có bước chuyển mình thật sự mạnh
mẽ, cần tăng cường công tác quản lý nhà nước về thi hành án dân sự; đặc biệt
cần nâng cao vai trò của Thanh tra Bộ. Về mặt lý luận, dù đã có các nghiên

2


cứu về thi hành án dân sự và về thanh tra, nhưng chưa có công trình nghiên
cứu kết hợp cả hai lĩnh vực này. Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Vai trò
của Thanh tra Bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về thi hành án dân sự”.
2. Tình hình nghiên cứu

2004). Bên cạnh đó, không thể không đề cập tới những bài viết, nghiên cứu
trao đổi đã được đăng tải trên các tạp chí có uy tín của ngành tư pháp như Tạp
chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Luật học,
Bản tin Thi hành án dân sự về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án
dân sự ở Việt Nam hiện nay.
Về cơ bản các Luận văn và bài viết nêu trên đã nêu toàn cảnh công tác
thi hành án dân sự, đã nêu lên được những khó khăn, vướng mắc qua đó đã
đóng góp một phần không nhỏ về vấn đề lý luận cũng như thực tiễn, giúp hoạt
động thi hành án dân sự dần đi vào nề nếp và tháo gỡ được những khó khăn
vướng mắc. Tuy nhiên, hầu hết các Luận văn nêu trên đều chưa nêu và đánh
giá về vai trò của Thanh tra Bộ trong quản lý nhà nước về thi hành án dân sự.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài nhằm đánh giá được thực trạng công tác
quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, qua đó làm rõ vai trò của Thanh tra
Bộ trong lĩnh vực này.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của
Thanh tra Bộ trong quản lý nhà nước về thi hành án dân sự, luận văn đưa ra
một số giải pháp nâng cao vai trò của Thanh tra Bộ trong quản lý nhà nước về
thi hành án dân sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về thi
hành án dân sự, vị trí, vai trò của Thanh tra Bộ trong quản lý nhà nước về thi
hành án dân sự.

4


- Đánh giá thực trạng của công tác quản lý nhà nước của Thanh tra Bộ

Phân tích các yêu cầu, quan điểm và đề xuất các giải pháp để nâng cao
hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự.
7. Bố cục của luận văn
Gồm có phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo,
luận văn bao gồm 2 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò của Thanh tra Bộ Tư pháp
trong quản lý nhà nước về thi hành án dân sự.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp bảo đảm vai trò của Thanh tra Bộ
Tư pháp trong quản lý nhà nước về thi hành án dân sự.

6


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA THANH TRA BỘ TƢ
PHÁP TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1. Thi hành án dân sự và quản lý nhà nƣớc về thi hành án dân sự
1.1.1. Định nghĩa thi hành án dân sự
Hiện nay, dựa trên các quan điểm, nhận thức pháp luật khác nhau, các
chuyên gia, các nhà nghiên cứu luật học đã đưa ra hai quan niệm cơ bản về
hoạt động thi hành án dân sự; cụ thể như sau:
Quan niệm thứ nhất cho rằng, thi hành án là một giai đoạn của tố tụng,
vì: “Có xét xử thì phải có thi hành án, thi hành án dựa trên cơ sở của của
công tác xét xử. Xét xử và thi hành án là hai mặt thống nhất của quá trình
bảo vệ lợi ích của đương sự” [2, tr.43-44]. Quan điểm này thừa nhận “không
phải mọi hoạt động trong quá trình thi hành án và quyết định của tòa án đều
nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật tố tụng...” nhưng lại cho rằng thi
hành án “thực chất là hoạt động tố tụng của tòa án, của các cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền nhằm bảo đảm cho bản án và quyết định của tòa án được thi
hành một cách chính xác, kịp thời” [53, tr.282].

chức thi hành chỉ thực hiện quyền lực nhà nước khi các bên đương sự không
tự nguyện thi hành. Vì vậy, có thể nói rằng quá trình tố tụng là quá trình đi
tìm sự thật để áp dụng pháp luật; còn thi hành án là quá trình có sự xen kẽ
giữa việc chấp hành pháp luật và áp dụng pháp luật.
- Thứ hai, trong lĩnh vực thi hành án dân sự có sự xen kẽ giữa các quan
hệ mang tính chất tố tụng và quan hệ mang tính hành chính - tư pháp nhưng
các quan hệ mang tính chất hành chính - tư pháp chiếm tỷ lệ cao hơn. Ngoài
ra, việc tổ chức thi hành án là hoạt động của cơ quan nhà nước và người có
thẩm quyền nhưng ở một số lĩnh vực Nhà nước có thể ban hành các quy định

8


để xã hội hóa hoạt động này. Các hoạt động liên quan đến lĩnh vực thừa phát
lại là ví dụ cụ thể cho luận điểm này. Đây cũng chính là một điểm khác biệt
cơ bản so với hoạt động tố tụng nói chung bởi hoạt động tố tụng mang tính
chất quyền lực nhà nước thuần túy. Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số
61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại
thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, Thừa phát lại được làm những
công việc sau đây:
1. Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc Cơ quan
thi hành án dân sự; 2. Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ
quan, tổ chức; 3. Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của
đương sự; 4. Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định
của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Thừa phát lại không tổ chức
thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng Cơ quan
thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.
Trên sự ghi nhận của Quốc hội về kết quả đạt được trong việc thực hiện
chế định thừa phát lại tại Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của
Quốc hội và sự phân công của Chính phủ, Bộ Tư pháp hiện đang xây dựng

Từ những căn cứ nêu trên, theo quan điểm cá nhân của tác giả: thi hành
án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có
thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định nhằm đảm bảo Bản án,
Quyết định của Tòa án hoặc các quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền
được thực thi trên thực tế.
1.1.2. Đặc trưng cơ bản của hoạt động thi hành án dân sự
- Thứ nhất, trong hoạt động thi hành án dân sự luôn luôn tồn tại ba
chủ thể bắt buộc; bao gồm: cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên trực
tiếp tổ chức thi hành và các đương sự. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
Luật Thi hành án dân sự năm 2014, đương sự bao gồm người được thi hành

10


án, người phải thi hành án và những người có quyền, nghĩa vụ liên quan.
Trong quan hệ này, cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên là những
chủ thể thực hiện quyền lực Nhà nước, có quyền áp dụng các biện pháp luật
định để đảm bảo các Bản án, Quyết định được thực thi trên thực tế một các
nghiêm chỉnh nhất nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp
pháp của các tổ chức, cá nhân.
- Thứ hai, trong hoạt động thi hành án dân sự, tính chủ động, độc lập
của Chấp hành viên trong quá trình tác nghiệp cũng được đề cao và tôn trọng.
Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chấp hành viên tuân
theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và được bảo vệ tính mạng,
sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Kể từ thời điểm được phân công tổ chức thi
hành án, Chấp hành viên có quyền chủ động đối với phần lớn các hoạt động
nghiệp vụ của mình trừ một số việc thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ
quan thi hành án dân sự như: ban hành quyết định ủy thác, quyết định trả đơn,
đình chỉ, tạm đình chỉ, hoãn thi hành án.

nhau về việc thi hành án nếu sự thỏa thuận đó không vi phạm pháp luật,
không trái đạo đức xã hội hay xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi
ích hợp pháp của người thứ ba.
1.1.3. Vai trò của hoạt động thi hành án dân sự
Thứ nhất, đảm bảo các Bản án, Quyết định được thi hành trên thực tế.
Điều 106 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Bản án, quyết định của Tòa
án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn
trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.
Tuy nhiên, như đã trình bày, việc thi hành án không chỉ dừng lại ở việc bảo
đảm các Bản án, Quyết định của Tòa án nhân dân được thực thi trên thực tế
mà còn bao gồm các Quyết định của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và
Trọng tài thương mại theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự:
“Những bản án, quyết định được thi hành theo Luật này bao gồm:

12


1. Bản án, quyết định quy định tại Điều 1 của Luật này đã có hiệu
lực pháp luật:
a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ
thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
b) Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm;
c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án;
d) Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của
Trọng tài nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam;
đ) Quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc
cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có hiệu lực pháp luật đương
sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại Toà án;
e) Quyết định của Trọng tài thương mại.

+ Thanh tra Bộ là cơ quan tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực
hiện việc thanh tra theo kế hoạch đối với các cơ quan thi hành án dân sự địa
phương (Kế hoạch thanh tra được Bộ trưởng phê duyệt trên cơ sở đề xuất của
Thanh tra Bộ). Trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật,
Thanh tra Bộ thực hiện việc thanh tra đột xuất đối với các cơ quan thi hành
án, Chấp hành viên, công chức làm công tác thi hành án theo quy định tại
khoản 2 Điều 19 Luật Thanh tra năm 2010. Ngoài ra, Thanh tra Bộ còn đóng
vai trò là cơ quan tham mưu cho Bộ trưởng trong việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo theo thẩm quyền và tham mưu cho Bộ trưởng trong việc xem xét lại đối
với các Quyết định giải quyết khiếu nại của Cục trưởng Cục Thi hành án dân
sự và Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự đã có hiệu lực thi hành
theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 142 Luật Thi hành án dân sự năm 2008
(Trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền xem xét lại quyết
định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực thi hành quy định tại khoản 2 và
khoản 3 Điều này).

14


Tuy nhiên, hiện nay theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, Thanh tra Bộ không còn thực
hiện chức năng thanh tra theo kế hoạch về lĩnh vực nghiệp vụ thi hành án.
Việc thanh tra về nghiệp vụ thi hành án chỉ được thực hiện trong trường hợp
thanh tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm hoặc theo yêu cầu của
công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Thứ hai, thi hành án dân sự là hoạt động bảo vệ quyền lợi của người
được thi hành án được xác định trong bản án, quyết định.
Quyền lợi của người được thi hành án được bảo vệ bằng dưới hai hình
thức: do các đương sự tự thỏa thuận thực hiện hoặc được nhà nước bảo đảm
bằng quyền lực nhà nước. Như đã trình bày ở phần trên, các quy định của

phải được tôn trọng và thi hành. Ngược lại, chính hoạt động thi hành án cũng
góp phần củng cố, hoàn thiện công tác xét xử. Thông qua việc áp dụng các
biện pháp thi hành án, nếu có sai sót trong bản án, quyết định được thi hành,
cơ quan thi hành án sẽ có những kiến nghị thích hợp, giúp cho cơ quan có
thẩm quyền có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm trong việc áp dụng
pháp luật, nhằm nâng cao chất lượng của bản án, quyết định. Điểm đ Khoản 1
Điều 23 Luật Thi hành án dân sự quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án
dân sự (gồm Cục trưởng và Chi cục trưởng) có nhiệm vụ, quyền hạn trong
việc “Kiến nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm đối với bản án, quyết định theo quy định của pháp luật”.
Thứ tư, nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân
Khác với thi hành án hình sự, cơ chế tự thỏa thuận trong thi hành án
dân sự có tác động tích cực đến quyền, lợi ích của các bên đương sự, cụ thể:
người được thi hành án sớm khôi phục lại quyền lợi của mình; người phải thi
hành án có thể giảm được một phần nghĩa vụ theo bản án, quyết định đặc biệt
giảm được các thiệt hại về vật chất so với trường hợp cơ quan thi hành án tổ
chức thi hành như chi phí cưỡng chế thi hành án, lãi suất chậm thi hành án.

16


Những quy định như vậy sẽ thúc đẩy các đương sự ý thức tự nguyện trong
việc thi hành án, cũng như thái độ, ý thức khi thỏa thuận với nhau trong việc
thực hiện quyền, nghĩa vụ trong bản án, quyết định. Việc quy định rõ ràng về
quyền tự thỏa thuận giữa các đương sự là một công cụ quan trọng trong việc
phổ biến, giáo dục pháp luật đồng thời nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
trong nhân dân.
1.1.4. Khái niệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động thực hiện chức
năng của Nhà nước với tư cách là một tổ chức đặc biệt do giai cấp thống trị

tất cả các hoạt động trong lĩnh vực thi hành án dân sự do các cơ quan thi hành
án dân sự tiến hành để hiện thực hoá những Bản án, Quyết định của Toà án và
quyết định của cơ quan có thẩm quyền khác theo quy định.
1.1.5. Chủ thể quản lý nhà nước về thi hành án dân sự
Ngày 13/3/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2013/NĐ-CP và
ngày 16/8/2017, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 96/2017/NĐ-CP,
quy định vị trí và chức năng của Bộ Tư pháp:
Bộ Tư pháp là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về: Xây dựng và thi hành pháp luật, kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, thi hành án dân sự, thi
hành án hành chính, bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, bồi thường
nhà nước; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công trong các lĩnh
vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ [29, Điều 1].
Việc xác định và hiểu rõ về hệ thống tổ chức cơ quan thi hành án dân
sự đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tăng cường, nâng cao hiệu quả
của công tác quản lý nhà nước về thi hành án dân sự.
Đồng thời, Điều 13 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật Sửa đổi,

18


bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, hệ thống các cơ
quan thi hành án dân sự được phân chia thành cơ quan quản lý thi hành dân sự
và các cơ quan thi hành án dân sự.
- Cơ quan quản lý thi hành án dân sự
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (có hiệu lực thi hành vào
ngày 01/7/2009) và Nghị định số 74/2009/NĐ-CP ngày 09/9/2009 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật
Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành

chất, phương tiện hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự; bảo
đảm biên chế, cơ sở vật chất, phương tiện cho công tác quản lý nhà
nước về thi hành án hành chính theo quy định của pháp luật;
+ Ban hành và thực hiện chế độ thống kê về thi hành án dân
sự, thi hành án hành chính;
+ Báo cáo về công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành
chính theo quy định của pháp luật [30, Điều 2, Khoản 13].
Về cơ cấu tổ chức, Tổng cục Thi hành án dân sự có 08 đơn vị trục
thuộc; trong đó có 07 tổ chức hành chính có nhiệm vụ giúp Tổng cục trưởng
thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 01 tổ chức sự nghiệp công lập. Cụ
thể như sau:
+ Vụ Quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành bản án, quyết định dân sự,
kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình, trọng tài thương mại (gọi tắt là Vụ
nghiệp vụ 1);
+ Vụ Quản lý, chỉ đạo nghiệp vụ thi hành bản án, quyết định phá sản; phần
dân sự, tiền, tài sản, vật chứng trong bản án, quyết định hình sự và quyết định xử
lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản (gọi tắt là Vụ Nghiệp vụ 2);
+ Vụ Quản lý Thi hành án hành chính (gọi tắt là Vụ Nghiệp vụ 3);
+ Vụ Giải quyết khiếu nại, tố cáo;

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status