PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN CỦA TỔNG CỤC HẢI QUAN - Pdf 75

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP
KHẨU TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN CỦA
TỔNG CỤC HẢI QUAN
3.1. Định hướng trong hoạt động chống thất thu thuế nhập khẩu của Việt
Nam
3.1.1. Các mục tiêu chống thất thu thuế nhập khẩu của Chính phủ
Năm 2009, mặc dù bị tác động bởi những điều chỉnh chính sách nhằm ngăn
chặn suy giảm kinh tế, song kết quả thu ngân sách qua hàng hóa XNK do ngành
Hải quan thực hiện vẫn đạt và vượt chỉ tiêu, đạt 132.000 tỷ đồng, tăng 5,5% so với
dự toán năm và tăng 3,4% so với năm 2008. Song nói gì thì nói những chính sách
điều hành hoạt động XNK, điều chỉnh thuế suất thuế XK, thuế NK của nhiều nhóm
mặt hàng; việc cho phép giãn, giảm thuế GTGT đối với một số hàng hóa, dịch vụ
DN kinh doanh gặp khó khăn... cũng phần nào tác động đến số thu ngân sách của
ngành Hải quan. Trong điều kiện đó việc đề ra các biện pháp tăng thu ngân sách
của ngành Hải quan có vai trò quan trọng.
Tăng cường chống thất thu, khai thác hiệu quả các nguồn thu là một trong
những biện pháp mà ngành Hải quan đã áp dụng trong năm 2009 nhằm tăng thu
ngân sách. Đó là thực hiện Chỉ thị của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về việc
tăng cường các biện pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại và chống thất thu
thuế, triển khai các biện pháp để tăng cường thu ngân sách, cải cách thủ tục hành
chính, tạo thuận lợi cho DN chủ động hoạt động XNK. Đồng thời công tác kiểm
tra sau thông quan đã hạn chế thấp nhất việc DN lợi dụng sơ hở tại các khâu trước
và trong thông quan nhằm gian lận, trốn thuế. Phát hiện, ngăn chặn kịp thời những
kẽ hở của chính sách pháp luật, những khoảng trống trong quản lý, kịp thời khắc
phục, truy thu thuế lớn. Công tác phân tích phân loại hàng hoá XNK chống gian
lận thương mại qua mã số HS cũng được tăng cường, góp phần thu đúng, thu đủ
thuế cho Nhà nước.Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế thì việc chống thất thu
thuế nhập khẩu là việc làm cấp bách, quan trọng không những của ngành hải quan
mà còn của các Bộ, Ngành liên quan.
Đến năm 2010 ngành hải quan sẽ tăng cường công tác thu hồi nợ đọng, giảm
nợ cũ, thu hồi nợ thuế trên 1.000 tỷ đồng. Chú trọng công tác kiểm tra sau thông

luật về thuế, về hải quan trong hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu để làm cơ sở cho
phép ân hạn thuế và ưu tiên làm thủ tục hải quan. Để làm được điều đó, cần phải
xấy dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá, trong đó các chỉ tiêu chủ yếu bao gồm: tình
hình chấp hành nghĩa vụ thuế, chấp hành pháp luật về hải quan, thực hiện chế độ
báo cáo tài chính. Các chỉ tiêu thông tin phải đảm bảo thống nhất, đồng bộ với việc
đánh giá chấp hành pháp luật của người khai hải quan và phải được kết nối trên tất
cả các điểm thông quan trong cả nước làm cơ sở để ra quyết định thông quan hàng
hóa.
Cơ quan hải quan phải tổ chức hệ thống kế toán để theo dõi, quản lý thuế
đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đến từng đối tượng nộp thuế nhằm ghi
chép, phản ánh chính xác các khoản nợ thuế phải trả của đối tượng nộp thuế;
thường xuyên đối chiếu các khoản nợ phải đến hạn phải trả, nợ phát sinh, nợ quá
hạn giữa cơ quan hải quan và đối tượng nộp thuế. Thông tin về nợ thuế quá hạn
phải được cập nhật thường xuyên trên hệ thống thông tin nghiệp vụ hải quan để
làm cơ sở cho các đơn vị hải quan các cấp kiểm soát kịp thời, chính xác để áp dụng
chế độ kiểm tra hải quan, ân hạn thuế đối với đối tượng nộp thuế có quá trình chấp
hành tốt pháp luật về thuế và hải quan.
3.1.2. Phương hướng chống thất thu thuế trong quản lý nhà nước về hải quan
- Hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động chống thất thu
thuế nhập khẩu của tổng cục hải quan. Theo dõi, nắm sát tình hình thực hiện luật
hải quan và các văn bản hướng dẫn thực hiện để có đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ
sung các qui định phù hợp với yêu cầu chống thất thu thuế trong điều kiện hiện nay
ở Việt nam và phù hợp với cam kết quốc tế.
- Quy hoạch và hoàn thiện thiết kế hạ tầng trong ngành Hải quan đảm bảo
kết nối các địa bàn, khâu nghệp vụ trong toàn ngành theo định hướng mô hình tập
trung xử lý dữ liệu điện tử, đảm bảo độ an ninh, an toàn trong quá trình truy cập,
khai thác, trao đổi thông tin với các đối tác của hải quan cũng các cơ quan của
chính phủ và Hải quan quốc tế
- Đổi mới qui trình thủ tục hải quan cho phù hợp cơ chế tự kê khai thuế, tự
nộp thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Vì vậy, cần làm tốt công tác xây

tình trạng khiếu nại của các doanh nghiệp. Trong tương lai cần giảm bớt các mức
thuế suất, đơn giản biểu thuế cả về số lượng mức thuế suất và khoảng cách giữa
các mức thuế suất. Đồng thời, gắn chính sách quản lý đối với hàng hóa xuất khẩu,
nhập khẩu với Biểu thuế để có cơ sở áp dụng mức thuế suất phù hợp với chính
sách thương mại giữa Việt nam với các nước.
Hoàn thiện Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo hướng tiếp tục đàm phán để
hoàn thiện danh mục hàng hóa chung ASEAN ( danh mục AHTN) làm căn cứ để
ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đảm bảo tính minh bạch của Biểu thuế; đồng
thời hoàn thiện hệ thống chú giải Biểu thuế để đảm bảo rõ ràng, minh bạch nhằm
tránh tình trạng lợi dụng hoặc tranh chấp mã số thuế giữa cơ quan hải quan và đối
tượng nộp thuế. Về mức thuế suất cụ thể cần hoàn thiện theo hướng đảm bảo phù
hợp với danh mục nhóm hàng chịu thuế và trong phạm vi khung thuế suất do ủy
ban thường vụ Quốc hội ban hành; góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà
nước và bình ổn thị trường; bảo hộ sản xuất trong nước có chọn lọc, có điều kiện,
có thời hạn phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hòa chủ nghĩa Việt nam là
thành viên. Đồng thời nghiên cứu áp dụng thuế tuyệt đối đối với một số mặt hàng
cần thiết nhằm hạn chế tình trạng gian lận thương mại qua giá tính thuế để đảm bảo
tính đơn giản và hữu hiệu trong việc chống gian lận thương mại và trốn thuế.
3.2.1.2. Xác định đúng trị giá tính thuế
Trong điều kiện phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, giá cả là yếu tố
thường xuyên biến động, sự tăng giảm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau.
Tôn trọng đặc điểm khách quan của sự hình thành và biến động của giá cả, hệ
thống trị giá tính thuế theo hiệp định trị giá GATT/WTO đưa ra một nguyên tắc ổn
định cho việc xác định trị giá tính thuế là chấp nhận ở phạm vi lớn nhất có thể việc
sử dụng trị giá giao dịch của hàng hóa làm trị giá tính thuế. Với 6 phương pháp xác
định trị giá tính thuế đòi hỏi phải được tuân thu nghiêm ngặt và thống nhất với
nguyên tắc chung, trị giá giao dịch hoặc một trị giá gần gũi nhất với trị giá giao
dịch có thể xác định được trong hầu hết các trường hợp hàng hóa nhập khẩu. Bên
cạnh đó, khi áp dụng Hiệp định, đòi hỏi các nước tham gia phải xây dựng được
hành lang pháp luật hoàn thiện, đầy đủ và chặt chẽ. Các điều luật, qui định, quyết

giá tính thuế thì số tiền thuế thu được sẽ giảm đáng kể dù thuế suất được ấn định ở
mức cao. Đồng thời, do mức thuế phải nộp thấp nên giá bán của các mặt hàng này
trên thị trường trong nước sẽ thấp, không đảm bảo công bằng trong sản xuất kinh
doanh. Thuế suất càng cao thì động cơ trốn thuế do khai thấp giá tính thuế càng
lớn.
Trong thời gian qua, khi triển khai áp dụng các phương pháp xác định trị giá
tính thuế hàng nhập khẩu theo hiệp định trị giá GATT/WTO đã phát sinh tình trạng
gian lận trốn thuế qua giá rất phổ biến. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải có một công cụ
quản lý mới nhằm chống gian lân thương mại mà không vi phạm các qui định của
WTO. Thuế tuyệt đối sẽ là công cụ phù hợp vì đánh thuế không dựa trên giá trị
hàng hóa. Thuế tuyệt đối sẽ phát huy vai trò của mình trong các trường hợp hàng
nhập khẩu được khai giá tính thuế thấp khiến thuế phần trăm giảm tác dụng. Ví dụ
như, một số mặt hàng nhập khẩu từ Trung quốc như gạch bộ vòi tắm, gạch ốp- lát,
kính xây dựng, sứ vệ sinh…, được khai báo giá nhập khẩu thấp và bán với giá thấp
hơn so với giá bình quân của các mặt hàng cùng chủng loại trên thị trường trong
nước. Đây cũng là những mặt hàng có mức độ bảo hộ cao và có khả năng cung ứng
của các doanh nghiệp trong nước nhìn chung đã đủ khả năng đáp ứng hoặc vượt
mức cầu trong nước. Các doanh nghiệp trong nước đã và đang bị ảnh hưởng không
nhỏ bởi tình trạng nhập khẩu và bán trên thị trường với giá thấp của các mặt hàng
nói trên. Vì vậy, áp dụng thuế tuyệt đối đối với các mặt hàng này sẽ có tác dụng
quan trọng trong việc bảo hộ sản xuất, tạo ra sự công bằng và ổn định trên thị
trường trong nước.
Ngoài ra, trong công tác quản lý nhập khẩu, có một số mặt hàng rất khó xác
định giá trị ngay cả khi đã áp dụng các phương pháp của hiệp đinh trị giá
GATT/WTO, chẳng hạn như hàng điện tử, ô tô nhập khẩu đã qua sử dụng… Đối
với nền kinh tế nước ta khi gia nhập WTO, việc nhập khẩu các mặt hàng này là tất
yếu và có khả năng mở rộng. Đối với những mặt hàng này, thuế phần trăm giảm
tác dụng vì mức thu được tính trên giá trị hàng hóa. Để quản lý và điều tiết hoạt
động nhập khẩu đối với những mặt hàng này, thuế tuyệt đối sẽ là một công cụ phù
hợp vì tính theo các tiêu chuẩn đo lường định hướng của hàng hóa. Ngoài ra, đối

các điều kiện ràng buộc như phải đảm bảo mức độ tín nhiệm hoặc có bảo lãnh, thế
chấp, tín chấp…; gắn với trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc nộp thuế, hạn
chế nợ đọng kéo dài, cần phải sửa đổi nội dung qui định về thời hạn nộp thuế, theo
hướng tiếp tục cho phép các doanh nghiệp được hưởng thời hạn nộp thuế tùy vào
mục đích nhập khẩu của hàng hóa.
Các điều kiện ràng buộc để được hưởng ân hạn nộp thuế, theo hướng đối
tượng nộp thuế đáp ứng được một trong hai điều kiện: đối tượng nộp thuế có hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu trong thời gian nhất định ít nhất là một năm tính đến
ngày đăng ký tờ khai hải quan mà được cơ quan hải quan xác nhận không có hành
vi gian lận thương mại, trốn thuế, không có nợ thuế quá hạn, không còn nợ tiền
phạt, chấp hành tốt chế độ báo cáo tài chính theo qui định của pháp luật hoặc được
tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác hoạt động theo qui định của Luật các tổ chức
tín dụng bảo lãnh về số tiền thuế phải nộp. Hết thời hạn bảo lãnh hoặc thời hạn nộp
thuế mà đối tượng nộp thuế chưa nộp thuế thì tổ chức bào lãnh có trách nhiệm nộp
số tiền thuế và số tiền phạt chậm nộp thay cho đối tượng nộp thuế. Trong trường
hợp đối tượng nộp thuế không có đủ hai điều kiện qui định tại khoản này thì phải
nộp xong thuế trước khi nhận hàng.
3.2.1.5. Đối với chính sách ưu đãi thuế
Việc miễn thuế, giảm thuế là một trong những bộ phận cấu thành trong
chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Mặc dù, theo chương trình cải cách hệ thống
thuế đến năm 2010, Chính phủ đã đặt ra mục tiêu giảm dần và tiến tới xóa bỏ các
ưu đãi thuế. Tuy nhiên, việc miễn thuế, giảm thuế là một trong những chính sách
để thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Do vậy, việc xóa bỏ những ưu đãi này cần
có thời gian, trong những năm trước mắt nên tiếp tục duy trì những ưu đãi này,
nhưng cần qui định rõ ràng, minh bạch và không phân biệt đối xử. Việc ưu đãi thuế
thực sự đến từng dự án, từng đối tượng ưu đãi nhằm góp phần thúc đẩy và nâng
cao hiệu quả đầu tư; hỗ trợ các ngành, lĩnh vực cần nhập khẩu để hiện đại hóa
trang thiết bị.
Để đảm bảo sự thống nhất, cần hệ thống hóa các qui định hiện hành về miễn
thuế nhập khẩu theo nguyên tắc chọn những qui định miễn thuế, xét miễn thuế ở

cụ thể cho cơ quan hải quan được quyền xem xét, cho phép đối tượng nộp thuế nộp
dần những khoản nợ thuế tồn tại phù hợp với khả năng tài chính của đối tượng nộp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status