Thực trạng và giải pháp chống thất thu thuế GTGT tại thị xã Phúc Yên - Pdf 11

Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Đối với bất kỳ một quốc gia nào thì thuế cũng đóng một vai trò hết
sức quan trọng và chiếm phần lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Việc
thực thi một số chính sách thuế có hiệu quả sẽ đảm bảo ổn định cho nguồn
thu này và từ đó tạo điều kiện để mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế xã
hội, đất nước. ở Việt Nam theo thống kê của Tổng cục thuế thì 80% đến
90% ngân sách Nhà nước là thu từ thuế nên cần phải có phương pháp,
chính sách hợp lý nhằm đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng có liên
quan như Nhà nước, DTNT, và toàn thể nhân dân nói chung.
Ta thấy rằng luật thuế GTGT sau gần 10 năm đưa vào sử dụng thay
thế cho thuế doanh thu đã phát huy được những mặt tích cực, như là
khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu và
đầu tư, thúc đẩy hạch toán kinh doanh của doanh nghiệp, tạo nguồn thu lớn
và ổn định cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên bên cạch những mặt tích
cực, những thành quả đã đạt được thì việc áp dụng, thực thi luật thuế
GTGT vẫn còn nhiều bất cập, số vụ vi phạm luật thuế GTGT ngày càng
tăng với số tiền chiếm dụng ngày càng lớn. Tình trạng này làm đau đầu các
nhà quản lý nói riêng và xã hội nói chung, có những kẻ đã lợi dụng những
kẽ hở trong luật và trong quản lý của nhà nước ta để bòn rút tiền từ ngân
sách nhà nước và đút túi cá nhân mình.
Nảy sinh từ các vấn đề đã được nêu ở trên thì sự cần thiết trong việc
nghiên cứu các mặt trái của việc thực thi thuế GTGT và đưa ra các biện
pháp để giảm thiểu những vấn đề đó là hết sức cần thiết. Xuất phát từ
những điều đó tôi đã mạnh dạn tham gia nghiên cứu đề tài: “ Thực trạng và
giải pháp chống thất thu thuế GTGT tại thị xã Phúc Yên”.
Tên của đề tài là: “Thực trạng và giải pháp chống thất thu thuế
GTGT tại thị xã Phúc Yên” nhưng trên thực tế tôi nghiên cứu tình hình áp
dụng thuế GTGT nói chung là trên cả nước, sau đó lấy ví dụ cụ thể là tại thị
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A
1

- Tìm hiểu các chính sách, quan điểm của nhà nước về chống thất thu
thuế, cũng như xem xét các giải pháp cụ thể của một địa phương.
* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tượng là thuế GTGT, cụ thể là tình trạng thất thu thuế GTGT
- Phạm vi không gian: trên cả nước nói chung và ở thị xã Phúc Yên
nói riêng
- Phạm vi thời gian: kể từ khi luật thuế GTGT được đưa vào áp dụng,
nhưng chủ yếu tập trung vào các năm gần đây, từ năm 2005.
* Phương pháp nghiên cứu: Để đánh giá đúng thực trạng thất thu
thuế để từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp người viết sử dụng phương pháp
luật của chủ nghĩa Mác- Lênin, chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, kết hợp với biện pháp so sánh, đối chiếu, phân tích dựa
trên số liệu, tài liệu sẵn có và nối tư duy thực chứng.
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A
3
Luận văn tốt nghiệp
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG
THẤT THU THUẾ GTGT
1.1, Nội dung cơ bản về thuế GTGT
1.1.1, Các điều khoản cơ bản về thuế GTGT
Điều 1. Thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của
hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu
dùng.
Điều 2. Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất,
kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam ( bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua
của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài ), trừ các đối tượng không chịu thuế
GTGT được nêu ở điều 4.
Điều 3. Đối tượng nộp thuế

vốn ngân sách Nhà nước.
- In, xuất bản và phát hành báo, tạp chí, bản tinh chuyên ngành, sách
chính trị, sách giáo khoa, giáo trình, sách văn bản pháp luật, sách in bằng
tiếng dân tộc thiểu số, tranh ảnh, áp phích tuyên truyền cổ động, in tiền.
Dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu
dân cư, duy trì vườn thú, vườn hoa, công viên, cây xanh đường phố, chiếu
sáng công cộng, phục vụ tang lễ v…v…( chi tiết tham khảo tại Luật thuế
GTGT ngày 3 tháng 6 năm 2008, Nghị định Chính Phủ số 123/2008/NĐ-
CP, Thông tư của Bộ Tài Chính số 129/2008/TT-BTC)
Điều 5. Nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện luật thuế GTGT
1. Cơ sở kinh doanh và người nhập khẩu có nghĩa vụ nộp thuế đầy
đủ, đúng hạn theo quy định của luật này.
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A
5
Luận văn tốt nghiệp
2. Cơ quan thuế trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình có
trách nhiệm thực hiện đúng các quy định của luật này.
3. Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân trong
phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình giám sát, phối hợp với
cơ quan thuế trong việc thi hành luật thuế GTGT.
4. Công dân Việt Nam có trách nhiệm giúp cơ quan thuế, cán bộ thuế
trong việc thi hành luật này.
1.1.2, Cách tính thuế GTGT
a, Căn cứ tính thuế
* Giá tính thuế:
Giá tính thuế GTGT được quy định như sau:
1. Đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế GTGT.
2. Đối với hàng hoá nhập khẩu là giá tại cửa khẩu cộng với thuế
nhập khẩu.

Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản chưa qua chế biến, trừ sản
phẩm quy định tại khoản 1 Điều 4 ở trên;
Mủ cao su sơ chế, nhựa thông sơ chế, lưới, dây giềng và sợi để đan
lưới đánh cá;
Thực phẩm tươi sống, lâm sản chưa qua chế biến, trừ gỗ, măng và
sản phẩm quy định tại khoản 1 điều 4 ở trên;
Đường, phụ phẩm trong sản xuất đường, bao gồm gỉ đường, bã mía,
bã bùn;
Sản phẩm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, rơm, vỏ dừa,…các sản phẩm
thủ công khác sản xuất bằng nguyên liệu tận dụng từ nông nghiệp, bông sơ
chế, giấy in báo;
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A
7
Luận văn tốt nghiệp
Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp,
bao gồm máy cày, máy bừa, máy cấy, máy gieo hạt, máy tuốt lúa, máy gặt,
máy gặt đập liên hợp, may thu hoạnh sản phẩm nông nghiệp,…;
Thiết bị, dụng cụ y tế, bông băng vệ sinh y tế, thuốc phòng bệnh,
chữa bệnh, sản phẩm hóa dược, dược liệu là nguyên liệu sản xuất thuốc
chữa bệnh, thuốc phòng bệnh;
Giáo cụ dùng để giảng dạy và học tập, bao gồm các mô hình, hình
vẽ, bảng, phấn, thước kẻ, compa,…;
Hoạt động văn hóa, triển lãm, thể dục, thể thao, biểu diễn nghệ thuật,
sản xuất phim, nhập khẩu, phát hành và chiếu phim;
Đồ chơi trẻ em, sách các loại trừ sách quy định tại khoản 15 điều 5
nói trên;
Dịch vụ khoa học, công nghệ theo quy định của Luật khoa học và
công nghệ;
3.Mức thuế suất 10% :
Được xác định theo phương pháp loại trừ, áp dụng đối với các hàng

+ Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao
thầu nguyên vật liệu: 30%.
- Hoạt động kinh doanh, hộ kinh doanh không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của
pháp luật thì nộp thuế GTGT theo phương pháp khoán thuế.
Những đối tượng áp dụng phương pháp tính thuế trực tiếp trên
GTGT:
- Cơ sở kinh doanh, cá nhân, hộ kinh doanh, không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định
của pháp luật.
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A
9
Luận văn tốt nghiệp
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo
Luật Đầu tư và các tổ chức khác không thực hiện hoặc thực hiện không đầy
đủ chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.
- Hoạt động kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý.
c, Khấu trừ và hoàn thuế GTGT
* Khấu trừ thuế GTGT:
Thuế GTGT mang bản chất liên hoàn vì vậy thuế GTGT đã được
nộp ở giai đoạn trước sẽ được khấu trừ ở giai đoạn sau thông qua cơ chế
giá cả khi thực hiện hành vi mua bán trao đổi sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.
Việc khấu trừ thuế đã nộp ở giai đoạn trước gọi là khấu trừ thuế GTGT đầu
vào.
Thuế GTGT đầu vào là tổng số thuế GTGT trên hoá đơn GTGT mua
hàng hoá, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hoá nhập khẩu.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì khấu trừ thuế được thực hiện
theo những nguyên tắc nhất định:
- Chỉ khấu trừ thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng vào sản xuất
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, cơ sở kinh doanh phải hạch

Theo quy định của điều 16 luật thuế GTGT thì đối tượng được xét
hoàn thuế GTGT trong các trường hợp sau:
- Cơ sở kinh doanh 3 tháng liên tục trở lên có số luỹ kế số thuế đầu
vào được khấu trừ lớn hơn số thuế đầu ra. Số thuế được hoàn là số thuế đầu
vào chưa được khấu trừ hết của thời gian xin hoàn thuế.
Ví dụ: Doanh nghiệp A kê khai thuế GTGT có số thuế GTGT đầu ra,
đầu vào như sau:
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A
11
Luận văn tốt nghiệp
ĐVT: triệu đồng
Tháng kê khai
thuế
Thuế đầu vào
được khấu trừ
trong tháng
Thuế đầu ra
phát sinh trong
tháng
Thuế phải
nộp
Luỹ kế số thuế
đầu vào chưa
được khấu trừ
Tháng 12/2000 200 100 -100 -100
Tháng 1/2001 300 350 +50 -50
Tháng 2/2001 300 200 -100 -150
Doanh nghiệp A có luỹ kế 3 tháng liên tục số thuế đầu vào lớn hơn
đầu ra. Doanh nghiệp A thuộc đối tượng được hoàn thuế GTGT với số thuế
là 150 triệu đồng.

thuộc loại thuế gián thu và được áp dụng rộng rãi đối với mọi tổ chức, cá
nhân có tiêu dùng sản phẩm hàng hoá hoặc được cung ứng dịch vụ, nên tạo
được nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước.
Thu ngân sách nhà nước & thu thuế GTGT từ năm 2001 đến
năm 2003
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm Thu ngân sách
nhà nước
Thu thuế
VAT
% thu VAT
2001 103.888 13.952 13,43%
2002 105.200 15.465 14,70%
2003 123.700 19.238 15,56%
Theo Bộ Tài chính, tỷ lệ đóng góp của thuế GTGT vào ngân sách
tăng liên tục trong bảy năm, từ mức 13,43% năm 2001 lên 22,1% năm
2007. Chính sự gia tăng của số thu thuế GTGT đã bù đắp cho sự sụt giảm
thuế xuất nhập khẩu do các cam kết về giảm thuế khi Việt Nam gia nhập
WTO. Theo WB, năng suất thuế GTGT (năng suất thuế được định nghĩa
bằng điểm phần trăm GDP trong thu nhập chia cho điểm phần trăm thuế
suất cơ bản) của Việt Nam gần bằng 0,6, cao hơn mức trung bình của các
quốc gia công nghiệp.
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A
13
Luận văn tốt nghiệp
-Thuế trị gia tăng đã góp phần ổn định giá cả, mở rộng lưu thông
hàng hoá:
Luật thuế doanh thu quy định doanh thu phát sinh là cơ sở để thực
hiện chế độ thu nộp thuế. Do đó Nhà nước đánh thuế trên toàn bộ doanh
thu phát sinh cuả sản phẩm qua mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản xuất, lưu

- Thuế GTGT góp phần thúc đẩy công tác quản lý của doanh nghiệp:
Thuế GTGT góp phần đến công tác quản lý của doanh nghiệp tạo
điều kiện cho cơ quan Nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp, tăng cường công tác hạch toán, kế toán và thúc đẩy
việc mua bán có hoá đơn GTGT ở các doanh nghiệp. Do yêu cầu của việc
kê khai thuế GTGT, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tính đúng thu nhập của
doanh nghiệp nên những người làm công tác quản lý kinh doanh đã bắt đầu
trú trọng đến công tác mở sổ kế toán, ghi chép, quản lý và sử dụng hoá đơn
chứng từ. Thông qua việc chấp hành công tác kế toán, hoá đơn chứng từ
của các doanh nghiệp, qua việc kê khai thuế, hoàn thuế, quyết toán thuế đã
giúp cơ quan chức năng và cơ quan thuế từng bước nắm được tình hình
kinh doanh của các doanh nghiệp.
- Việc khấu trừ thuế đã nộp ở đầu vào còn có tác dụng khuyến khích
hiện đại hoá, chuyên môn hoá sản xuất, tăng cường đầu tư mua sắm trang
thiết bị mới để hạ giá thành sản phẩm.
1.2, Cơ sở lý luận về thất thu thuế
1.2.1, Khái niệm thất thu thuế:
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu của các nhà kinh doanh là lợi
nhuận, chính vì vậy để đạt được lợi ích cục bộ tối đa, họ luôn tìm cách
giảm chi phí kinh doanh của mình, trong đó bao gồm cả khoản đóng góp
cho nhà nước. Như vậy trong bản chất của thuế luôn tồn tại mâu thuẫn giữa
lợi ích của nhà nước và người kinh doanh chính vì thế tình trạng thất thu
thuế là điều không thể tránh khỏi.
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A
15
Luận văn tốt nghiệp
Vậy thất thu thuế là gì? Thất thu thuế được hiểu là hiện tượng trong
đó những khoản tiền từ những tổ chức, cá nhân có tiến hành các hoạt động
sản xuất kinh doanh, hay có những điều kiện cơ sở vật chất nhất định so với
khả năng của họ cần phải được động viên vào NSNN, song vì những lý do

chây ỳ, dây dưa trong quá trình nộp thuế. Khi họ càng chiếm dụng được
thời gian dài thì họ càng được sinh lãi lớn trên những khoản tiền đó. Vì vậy
mà sinh ra nợ đọng thuế. Thất thu từ nợ đọng thuế chính là số tiền thuế mà
ĐTNT phải nộp trong kỳ tính thuế nhưng hết hạn nộp thuế vẫn chưa nộp cho
cơ quan thuế hoặc số thuế nộp thiếu.
+ Thất thu do gian lận thuế:
Gian lận thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật, thực hiện các hành
vi, thủ đoạn gian dối nhằm thu lợi bất chính bằng cách chiếm đoạt tiền thuế
của nhà nước.
* Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất thu thuế.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng thất thu thuế, trong đó có
các nguyên nhân khách quan và chủ quan xuất phát từ đối tượng nộp thuế,
từ cơ quan thuế, từ bản thân chính sách của nhà nước. Việc tìm ra nguyên
nhân của tình trạng thất thu thuế là hết sức quan trọng và cần thiết để có
căn cứ nghiên cứu, đề ra các biện pháp hữu hiệu, thiết thực nhằm khắc
phục tình trạng này.
Nguyên nhân của thất thu thuế:
- Thất thu thuế do trong chính sách chế độ còn nhiều kẻ hở, chưa bao
quát được hết các nguồn thu, một số qui định chưa cụ thể, rõ ràng có thể
hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau hoặc cách xác định thuế phức tạp và thuế
xuất cao là nguyên nhân thúc đẩy đối tượng nộp thuế trốn thuế hoặc liên
kết với nhau tạo ra các hoạt động kinh tế giả để được giảm thuế phải nộp
hay được hưởng lợi từ thuế. Nếu thuế suất được đưa ra một mức hợp lý
được xác định trên căn cứ khoa học sẽ đem lại số thu cao nhất. Ngoài ra
trong nền kinh tế thị trường hết sức sôi động, thay đổi từng giờ từng phút,
trong khi đó chính sách lại phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A
17
Luận văn tốt nghiệp
Nhà nước và tương đối ổn định. Do vậy, luôn có sự lệch pha giữa chính

Luận văn tốt nghiệp
vai trò quản lý, điều hành của nhà nước thông qua chi NSNN sẽ kéo theo
một loạt hậu quả nghiêm trọng khác đối với đời sống kinh tế, xã hội như:
gây ra lạm phát, giá cả biến động ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và tiêu
dùng trong nước.
b, Về mặt kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là cơ sở tồn tại và phát triển của thuế. Và ngược
lại, thuế được Nhà nước sử dụng làm công cụ để kích thích nền kinh tế phát
triển. Thất thu thuế làm giảm số thu NSNN đã gây không ít khó khăn cho
nhà nước trong việc thực hiện các nhu cầu đầu tư và phát triển kinh tế đồng
thời làm giảm vai trò của thuế là công cụ kích thích phát triển, bảo hộ nền
sản xuất nội địa. Thất thu thuế còn gây hậu quả xấu trong việc tạo nên một
cơ cấu kinh tế không hợp lý: Những ngành nghề không thật sự cần thiết
nhưng do trốn lậu thuế, thu được lợi nhuận cao thì phát triển mạnh; còn
những ngành nghề cần thiết, không trốn lậu thuế, lợi nhuận không cao thì
lại phát triển chậm. Tình trạng đó ảnh hưởng không tốt đến yêu cầu cạnh
tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp, giữa các thành phần kinh tế.
c, Về mặt xã hội:
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của thuế là góp phần thực
hiện công bằng xã hội trong động viên đóng góp. Tình trạng thất thu thuế
sẽ tạo điều kiện cho những hoạt động sản xuất kinh doanh trái pháp luật,
ảnh hưởng không tốt đến việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của những người
kinh doanh chính đáng. Thất thu thuế ảnh hưởng đến trật tự xã hội, vi phạm
pháp luật ngày càng tăng, những người trốn thuế lậu thì xem thường luật
pháp, coi nhẹ kỷ cương phép nước; còn những người chấp hành nghiêm
chỉnh luật pháp, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế với NSNN, thì ngày
càng mất lòng tin vào chính sách, chế độ, pháp luật về thuế và có thể gây ra
phản ứng tiêu cực của những đối tượng này. Như vậy, thất thu thuế có tác
động xấu tới mục tiêu thực hiện công bằng trong chính sách thuế.
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A

hàng thuộc DNNN) lợi dụng chủ trương thông thoáng về cấp đăng ký kinh
doanh để thành lập doanh nghiệp nhưng không đăng ký thuế, có nhiều
trường hợp đã tiêu thụ hàng hóa nhưng không kê khai nộp thuế.
+ Thuế GTGT đầu vào đã được khấu trừ ở kỳ trước, nhưng kỳ sau lại
kê khai để khấu trừ tiếp. Hay một cơ sở kinh doanh đăng ký nhiều chi
nhánh khác nhau nhằm mục đích hoàn thuế ở nhiều nơi với cùng một bộ hồ
sơ chứng từ.
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A
21
Luận văn tốt nghiệp
+ Không hạch toán rõ ràng, doanh số của từng loại hàng hóa, dịch vụ
chịu thuế suất GTGT khác nhau ở những công ty kinh doanh nhiều loại mặt
hàng. Doanh nghiệp thường kê khai hoạt động mua với mặt hàng có thuế
suất cao để được khấu trừ nhiều, hoặc đưa vào bán loại có thuế suất GTGT
thấp để nộp ít thuế. Một số đơn vị lại kê khai tổn thất, mất mát, hư hỏng
không đúng thực tế để giảm thuế GTGT phải nộp.
+ Về phương pháp tính thuế cũng bị lợi dụng. Đối tượng nộp thuế
theo phương pháp khấu trừ thường thông đồng và sử dụng hóa đơn bán
hàng của đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp( nhất là các hộ
nộp thuế khoán) để hợp thức hóa chứng từ thuế đầu vào đưa khấu trừ thuế.
Để quản lý chặt chẽ, cần tăng cường quản lý đối với hộ kinh doanh cá thể
trong việc sử dụng hóa đơn bán hàng, nếu phát hiện đột biến về doanh số
cao hơn nhiều so với mức khoán, phải kịp thời điều chỉnh và ấn định mức
thuế sát thực.
- Một số hình thức sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để gian lận
thuế:
Trong điều kiện thực hiện thuế GTGT, hoá đơn, chứng từ là cơ sở để
kiểm tra thuế GTGT, là căn cứ xác định thuế GTGT được khấu trừ, miễn
giảm, phải nộp hay được hoàn lại trong kỳ. Điều này đòi hỏi các doanh
nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ ở cả khâu

này số thuế đầu ra thu được ở người bán thì ít mà số thuế đầu vào phải
khấu trừ ở người mua thì nhiều.
+Dạng thứ tư: là cạo sửa hoá đơn mua hàng ghi số tiền cao hơn số
thực tế để khấu trừ, hoàn thuế, thanh toán, quyết toán thuế.
+Dạng thứ năm: lập hóa đơn khống, tức thực tế không mua bán
hàng hoá nhưng thông đồng với các đơn vị xuất khẩu để kê khai hoàn thuế
GTGT hàng xuất khẩu, hoặc mua bán hoá đơn hàng dùng để kê khai khấu
trừ khống thuế GTGT đầu vào.
+Dạng thứ sáu: khi bán hàng hoá, dịch vụ việc lập giao hoá đơn cho
khách hàng còn tuỳ tiện, không giao hoặc đòi nâng giá hàng khi giao hoặc
giao hoá đơn không hợp pháp để trốn thuế. Đối với khách hàng khi mua
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A
23
Luận văn tốt nghiệp
hàng cho tổ chức hoặc cá nhân tiêu dùng thường không quan tâm đến việc
đòi hoá đơn hợp pháp hoặc chủ động yêu cầu người bán lập hoá đơn.
- Về hoàn thuế :
Có đến 6 cách thức gian lận trong khâu hoàn thuế:
+Thứ nhất, tạo nguồn hàng khống, lập hợp đồng mua bán nội địa
khống với phương thức thanh toán trực tiếp.
+Thứ hai, hợp thức hóa nguồn tiền mua hàng xuất khẩu bằng cách
lập các hợp đồng vay khống, hoặc lập danh sách góp vốn kinh doanh bằng
hợp đồng giả.
+Thứ ba, làm giả hợp đồng vận chuyển, thanh toán cước vận chuyển
hàng hóa trong nội địa và ra cửa khẩu, tạo dựng hợp đồng mua bán ngoại
thương và thanh toán giả.
+Thứ tư, quay vòng nhiều lần hàng xuất khẩu.
+Thứ năm, móc nối với cán bộ hải quan cửa khẩu xác nhận khống
hồ sơ hoặc khai tăng giá và khối lượng hàng hóa.
+Thứ sáu, hình thành các đường dây với những chi nhánh, văn

Năm 2006 là năm đầu tiên công tác thanh tra, kiểm tra đối tượng nộp
thuế được thực hiện theo quy định mới ( theo quyết định 1166/QD-TTC),
thực hiện theo cơ chế tự khai, tự tính, tự nộp thuế. Theo báo cáo của các
Cục thuế địa phương, toàn ngành thuế đã tiến hành thanh tra, kiểm tra đối
với hơn 69.000 đối tượng nộp thuế các loại, bao gồm DNNN 2.682 đơn vị,
DN có vốn đầu tư nước ngoài 1.346 đơn vị, DN tư nhân 28.764, hộ cá thể
hơn 29.000 hộ và khoảng hơn 7.000 cơ sở khác. Qua kết quả thanh tra,
kiểm tra số thuế được ghi nhận theo biên bản phải nộp rất lớn. Tổng số thuế
ghi thu theo biên lai phải thu vào khoảng hơn 3.214 tỷ đồng, trong đó: có
hơn 1.774 tỷ đồng là thuế nợ đọng (chiếm 55,2% số thuế ghi thu); số thuế
truy thu thêm khoảng hơn 1.362 tỷ đồng (chiếm 42,4%); phạt hơn 77,5 tỷ
đồng (chiếm 2,4%). Theo phân tích của tổng cục Thuế, trong số truy thu
thêm (khoảng 1.362 tỷ đồng, thuế GTGT có số truy thu chiếm 19.7%, tức
là 268,3 tỷ, thuế TNDN 36,8%, thuế thu nhập cá nhân chiếm khoảng 1,5%.
Qua thanh tra kiểm tra số thuế GTGT truy thu là 268,3 tỷ, số tiền không
Lê Thị Ninh Giang Quản lý kinh tế 47A
25

Trích đoạn Một số biện pháp của chi cục thuế thị xã Phúc Yên Các biện pháp cụ thể: Một số kiến nghị:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status