MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Thuế là công cụ chủ yếu được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô
nền kinh tế và huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Một trong
những yêu cầu quan trọng trong tổ chức thực thi chính sách thuế là phải thu
đúng, thu đủ và đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế. Chấp
hành tốt nghĩa vụ nộp thuế nhằm đảm bảo cân đối ngân sách quốc gia, cũng
như đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng nộp thuế.
Trong những năm qua, chính sách thuế nhập khẩu, cùng với cơ chế
vận hành đảm bảo công bằng minh bạch, không phân biệt đối xử và ổn định
đã tạo thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tăng cường thu hút
đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần huy động nguồn thu cho
ngân sách, bảo hộ sản xuất trong nước…Bên cạnh những kết quả đã đạt
được thì trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách thuế nhập khẩu cũng
đã nổi lên một vấn đề cần giải quyết đó là tình trạng thất thu thuế nhập khẩu.
Có thể nói tình trạng thất thu thuế nhập khẩu đã xảy ra trong thời gian dài,
số thuế thất thu không phải là nhỏ, làm ảnh hưởng xấu đến cân đối thu chi
của ngân sách nhà nước- một trong những cân đối lớn của nền kinh tế quốc
gia và tạo ra sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong việc thực hiện
nghĩa vụ về thuế.
Nguyên nhân của tình trạng thất thu thuế nhập khẩu có thể do khách
quan như chính sách chế độ thay đổi, đối tượng nộp thuế gặp tai nạn bất
ngờ…,cũng có thể do nguyên nhân chủ quan như đối tượng nộp thuế cố tình
gian lận trốn thuế…Vì vậy, cùng với việc tổ chức triển khai thực hiện chính
sách thuế nhập khẩu thì việc tìm ra giải pháp để chống thất thu thuế nhập
1
khẩu là một trong những nội dung hết sức quan trọng, cần thiết và cấp bách
nhằm đảm bảo việc thực hiện có hiệu quả chính sách thuế của nhà nước.Với
tháng 1 năm 2002.
1.1.1.2.Tóm tắt sự phát triển của Hải quan theo các thời kì
Ngày 10 tháng 9 năm 1945 theo sắc lệnh số 27-SL của Chủ tịch
Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ Cộng hoà, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ
2
Nguyên Giáp, thay mặt Chính phủ ký thành lập “Sở thuế quan và thuế
gián thu”. Với mục đích thiết lập chủ quyền thuế quan của nước Việt Nam
độc lập, đảm bảo việc kiểm soát hàng hoá XNK và duy trì nguồn thu ngân
sách từ hoạt động này.
Ngày 29 tháng 5 năm 1946 theo sắc lệnh số 75-SL của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về tổ chức của Bộ Tài chính, Sở Thuế quan và thuế gián thu được
đổi thành Nha Thuế quan và Thuế gián thu thuộc Bộ Tài chính.
Ngày 4 tháng 7 năm 1951 Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến đã
ký Nghị định số 54/NĐ quy định lại tổ chức của Bộ Tài chính và Nha Thuế
quan và Thuế gian thu được đổi thành Cơ quan Thuế XNK.
Ngày 14 tháng 12 năm 1954 Bộ trưởng Bộ Công thương Phan Anh
ký Nghị định số 136-BCT/KB/NĐ thành lập Sở Hải quan thay thế cơ quan
thuế XNK thuộc Bộ Công thương.
Ngày 17 tháng 2 năm 1962 để thực hiện Điều lệ Hải quan (ban hành
ngày 27/2/1960) Thứ trưởng Bộ Ngoại thương Lý Ban ký Quyết định số
490/BNT/QĐ-TCCB đổi tên Sở Hải quan thành Cục Hải quan. Lúc này
Cục Hải quan trực thuộc Bộ Ngoại thương.
Ngày 25 tháng 4 năm 1984 Thực hiện Nghị quyết số 68/HĐBT của
Hội đồng Bộ trưởng về đẩy mạnh chống buôn lậu và thành lập Tổng cục Hải
quan, và Nghị quyết số 547/NQ-HĐNN ngày 30/8/1984 Hội đồng Nhà nước
phê chuẩn thành lập Tổng Cục Hải quan và ngày 20/10/1984 Phó Chủ tịch
Hội đồng Bộ trưởng Tô Hữu ký Nghị định số 139/HĐBT quy định nhiệm
vụ, quyền hạn, tổ chức của Tổng cục Hải quan. Tổng cục Hải quan trực
thuộc Chính phủ
Ngày 4 tháng 9 năm 2002 theo Quyết định số 113/2002/QĐ-TTg của
Trung;
4. Trung tâm phân tích, phân loại hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu miền
Nam;
5. Trung tâm Đào tạo công chức Hải quan;
6. Báo Hải quan.
CÁC CỤC HẢI QUAN TỈNH, LIÊN TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC
THUỘC TRUNG ƯƠNG.
Các chi cục Hải quan cửa khẩu, đội kiểm soát Hải quan và đơn vị địa
phương trực thuộc cục hải quan địa phương
1.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của tổng cục Hải quan
* Chức năng:
Tổng cục hải quan là cơ quan trực thuộc Bộ tài chính, giúp Bộ trưởng
bộ tài chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước chuyên ngành về hải
quan; thực thi pháp luật hải quan trong phạm vi cả nước.
4
* Nhiệm vụ, quyền hạn:
Tổng cục hải quan thực hiện nhiệm vụ quyền hạn theo qui định của
Luật hải quan, các qui định khác của pháp luật có liên quan và những nhiệm
vụ quyền hạn cụ thể sau đây:
- Trình bộ trưởng bộ tài chính dự thảo các văn bản qui phạm pháp luật
về ngành hải quan; chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển ngành hải
quan và tổ chức thực hiện nghiêm túc sau khi được phê duyệt.
- Chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của ngành hải
quan:
+ Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu,
quá cảnh; phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.
+ Phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biện giới
trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan
+ Thực hiện các biện pháp phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái
phép hàng hóa qua biên giới ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan theo
và khai thác thông tin dữ liệu giá theo quy chế. Tăng cường công tác kiểm
tra giá tính thuế tại các địa phương.
Về công tác thuế, thực hiện đúng chính sách, chế độ về thuế, nhất là
cần tập trung xác định rõ ràng, rành mạch về thuế suất ở hai khâu: Văn bản
hướng dẫn, kiến nghị sửa đổi biểu thuế và Áp mã chính xác theo mặt hàng
xuất khẩu, nhập khẩu, khắc phục triệt để việc áp thuế suất không thống nhất
cho một mặt hàng, xác định sai thuế suất đối với mặt hàng xuất khẩu, nhập
khẩu. Đồng thời phải tăng cường công tác kiểm tra để phát hiện, chấn chỉnh
và kịp thời ngăn chặn sai phạm dẫn đến thất thu có thể xảy ra tại các đơn vị
hải quan trực tiếp thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách.
Về công tác kiểm hóa, cần chú trọng đến việc quyết định tỷ lệ kiểm
tra thực tế hàng hóa. Việc mô tả chủng loại hàng hóa nhập khẩu trên tờ khai
phải rõ ràng, cụ thể và chính xác để đảm bảo xác định đúng mã số, số lượng,
xuất xứ của hàng hóa thực tế xuất khẩu, nhập khẩu. Đối với những mặt hàng
xuất khẩu, nhập khẩu mới xuất hiện cần kịp thời báo cáo về Tổng cục Hải
quan để tập hợp và chỉ đạo áp mã thống nhất trong toàn ngành.
Về công tác kiểm tra sau thông quan, cần tập trung kiểm tra về giá
tính thuế theo khai báo của chủ hàng, đặc biệt chú trọng các mặt hàng trọng
tâm, trọng điểm dễ gian lận về giá tính thuế. Ngoài ra, tăng cường công tác
kiểm tra đối với các loại hình xuất khẩu, nhập khẩu nhạy cảm như nhập khẩu
linh kiện được hưởng chính sách nội địa hóa, nhận gia công, đầu tư, nhập
nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu.
Về công tác chống buôn lậu, ngoài những giải pháp thông thường cần
tập trung điều tra xác minh làm rõ những trường hợp nghi ngờ về giá tính
thuế; tăng cường kiểm tra, kiểm soát đối với những mặt hàng nhập khẩu
nhạy cảm, mặt hàng trọng tâm, trọng điểm.
Về công tác phân tích phân loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phải
bảo đảm kết luận chính xác và trả lời đơn vị yêu cầu với thời gian ngắn nhất
6
về mẫu hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gửi phân tích phân loại phục vụ đắc
tự nguyện chịu thuế. Nhà nhập khẩu khi bán hàng hóa sẽ thu thuế gián thu
cùng với giá bán hàng ( thu hộ nhà nước) và nộp khoản thuế này cho ngân
sách nhà nước ( nộp thay cho người tiêu dùng). Gọi là thuế gián thu là vì
Nhà nước thu thuế vào người tiêu dùng nhưng lại không thu trực tiếp đối với
người tiêu dùng( tức là người mua hàng hóa để sử dụng) mà lại thu gián tiếp
qua người bán hàng hóa nhập khẩu. Trên ý nghĩa đó, nhà nhập khẩu thu thuế
đối với người tiêu dùng sau khi bán hàng hóa, nếu không nộp đầy đủ số
7
thuế, nợ đọng thuế quá hạn thì coi là hành động tham ô, biển thủ công quĩ
của nhà nước.
Đối với những nước có nền kinh tế chưa phát triển, thu nhập còn thấp
thì thuế gián thu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số thu của ngân sách
Nhà nước. Mặt nhược điểm của thuế gián thu là tính lũy thoái của nó, vì
thuế gián thu đánh như nhau trên cùng một loại sản phẩm hàng hóa, nên
người giàu và người nghèo nếu tiêu dùng cùng một loại sản phẩm hàng hóa
và với số lượng như nhau thì chịu thuế như nhau, nhưng thực chất tỷ lệ động
viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu chịu thuế thấp hơn người
nghèo; người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế gián thu trên thu nhập
càng thấp.
1.2.1.2. Tính xung đột
Xuất phát từ những lợi ích khác nhau của các nhà nhập khẩu và các
nhà sản xuất trong nước, khi sử dụng chính sách thuế đối với hàng hóa nhập
khẩu luôn phát sinh các lợi ích xung đột sau đây:
- Chính sách thuế theo hướng bảo hộ sẽ hỗ trợ trực tiếp cho các nhà
đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thông qua việc đánh thuế đối
với hàng hóa nhập khẩu, giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ cao hơn vì phải
cộng thêm một khoản thuế vào giá bán của hàng hóa nhập khẩu cho nên đã
tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa sản xuất trong nước. Vì vậy, với xu
hướng này, các nhà đầu tư sản xuất trong nước thường ủng hộ duy trì hàng
rào thuế quan càng cao, càng lâu dài thì càng tốt.
hạch toán đầy đủ vào chi phí sản xuất, kinh doanh hoặc vào giá bán cho
người tiêu dùng nên không có nguồn vốn để nộp bổ sung tiền thuế cho nhà
nước. Vì vậy, trước khi thông quan hàng hóa, trách nhiệm của đối tượng nộp
thuế phải kê khai thuế đầy đủ, chính xác và tự mình xác định có thuộc đối
tượng được hưởng ân hạn nộp thuế hay không, hay phải nộp xong số thuế
trước khi nhận hàng; trong quá trình thông quan hàng hóa, cơ quan hải quan
phải kiểm tra đầy đủ, chính xác số thuế thực tế phải nộp trong phạm vi thông
tin đã thu thập được về hàng hóa, về đối tượng nộp thuế. Từ đó, làm rõ
quyền và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế, của cơ quan hải quan, nếu để
phát sinh nguyên nhân dẫn đến nợ đọng thuế ở khâu nào thì phải cá thể hóa
trách nhiệm ở khâu đó để xử lý.
1.2.2. Vai trò của hoạt động chống thất thu thuế trong quản lý nhà nước
về hải quan
1.2.2.1. Đối với cân đối ngân sách nhà nước.
Cân đối ngân sách nhà nước là một trong các chỉ tiêu cân đối lớn của
nền kinh tế. Ngân sách nhà nước được xác lập trên cơ sở dự toán nhu cầu chi
tiêu của Nhà nước, trong đó nguồn thu từ thuế có vai trò quan trọng. Nếu
việc nộp thuế bị chậm trễ hoặc doanh nghiệp cố tình trốn tránh nghĩa vụ nộp
thuế, thì việc thực hiện dự toán thu ngân sách sẽ không được đảm bảo. Như
vậy, việc đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên đảm bảo cho hoạt động của
bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và các đơn vị sự nghiệp, cũng
như nhu cầu về vốn cho quá trình đầu tư phát triển kinh tế- xã hội nói chung
được đáp ứng đầy đủ, kịp thời. Vì vậy, việc đảm bảo chi ngân sách cũng như
9
cân đối ngân sách nước sẽ bị tác động trực tiếp từ việc thực hiện kế hoạch
thu ngân sách từ thuế.
1.2.2.22. Đối với môi trường kinh doanh
Để đảm bảo môi trường kinh doanh được bỉnh đẳng, cùng sân chơi,
cùng hưởng lợi, đòi hỏi các doanh nghiệp tham gia vào quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh phải chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của
quan hải quan phải ra quyết định truy thu số thuế còn thiếu.
10
• Thất thu thuế do nguyên nhân chủ quan:
Đó là các khoản thất thu thuế phát sinh do đối tượng nộp thuế cố tình
trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp
đến hạn nộp thuế nhưng doanh nghiệp vẫn cố tình trây ỳ. Nợ đọng thuế phát
sinh do đối tượng nộp thuế không chấp hành nộp thuế đúng thời hạn hoặc
chưa thực hiện quyết toán nguyên liệu, vật tư tiêu hao vào quá trình sản xuất
hàng xuất khẩu để xác định số thuế còn phải nộp và số thuế được hoàn trả do
được hưởng chế độ miễn thuế nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất
hàng hóa xuất khẩu theo qui định. Đối tượng nộp thường sử dụng sai mục
đích để được hưởng ân hạn thuế, sau đó dùng mọi thủ đoạn có thể trốn thuế,
chây ỳ hoặc bỏ trốn. Ví dụ, doanh nghiệp đăng ký với cơ quan hải quan là
nhập khẩu vải để may xuất khẩu, nhưng không đưa vào sản xuất mà đưa ra
tiêu thụ trên thị trường, khi cơ quan hải quan kiểm tra thì đã bỏ trốn.
* Phân loại theo tính chất của khoản thuế bị thất thu
• Khoản tiền thuế thất thu có khả năng thu hồi:
Là các khoản nợ phát sinh trong quá trình ân hạn thuế đối với hàng
hóa nhập khẩu, trong đó nợ có khả năng thu hồi cao, do các doanh nghiệp nợ
thuế vẫn tiếp tục hoạt động bình thường hoặc chờ quyết định chính xác số
thuế phải nộp hoặc số nợ nhỏ của doanh nghiệp chây ỳ, có thể giải quyết dứt
điểm nếu tổ chức xử lý cương quyết.
• Khoản tiền thuế thất thu không có khả năng thu hồi:
Là các khoản nợ phát sinh do đối tượng nộp thuế chưa thực hiện nghĩa
vụ nộp thuế và khó có khả năng nộp thuế do các doanh nghiệp nợ thuế
không còn nguồn vốn để nộp( doanh nghiệp giải thể, phá sản hoặc làm ăn
thô lỗ) hoặc cũng có thể là số nợ mà cơ quan hải quan không thể kiểm soát
được( nợ của doanh nghiệp mất địa chỉ).
Tóm lại, cách thức phân loại thất thu thuế nhập khẩu cho chúng ta
thấy mỗi loại thất thu và nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế nhập khẩu là rất
Tránh tình trạng, cùng kinh doanh hàng nhập khẩu, nhưng có những doanh
nghiệp có ý thức tuân thủ cao, chấp hành tốt nghĩa vụ thuế, chi phí kinh
doanh được tính toán đầy đủ; bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ doanh
nghiệp cố tình chây ỳ, trốn thuế, chiếm dụng thuế thì chi phí kinh doanh
được giảm thiểu vì chưa phải tính các khoản thuế phải nộp, hoặc chiếm dụng
tiền thuế để quay vòng vốn nhờ đó sẽ tiết kiệm chi phí phải trả lãi suất tiền
vay. Như vậy, nếu kiểm soát chặt chẽ quá trình chấp hành nghĩa vụ thuế sẽ
giảm thiểu được tình trạng nợ đọng thuế, đồng thời góp phần làm cho môi
trường hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ bình đẳng hơn, tính kỷ
cương của chính sách thuế được thực thi có hiệu quả trên thực tế.
+ Phân công cụ thể trách nhiệm và thẩm quyền xử lý của cơ quan
hải quan trong công tác phòng, chống nợ đọng thuế:
Việc phân công trách nhiệm cụ thể cho cơ quan hải quan là phù hợp
với thông lệ quốc tế nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý thuế,
góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Do tính đặc thù của công tác thuế cần
thiết phải có qui định về phòng chống vi phạm pháp luật thuế nhằm qui định
rõ nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan hải quan và điều kiện trang bị kỹ thuật
trong phòng, chống trốn thuế, nợ đọng thuế.
12
Hiện nay, cơ quan Hải quan chưa có chức năng điều tra, khởi tố trốn
thuế như cơ quan hải quan các nước đang áp dụng( Luật hải quan qui định
cơ quan Hải quan chỉ có quyền điều tra, khởi tố buôn lậu qua biên giới) do
đó đã hạn chế việc ngăn chăn kịp thời các trường hợp cố ý trốn thuế với số
lượng lớn hoặc có hành vi làm tổn hại đến số thuế lớn như hành vi mua bán
hóa đơn để thu lợi bất chính, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để chiếm đoạt
tiền thuế của nhà nước do đó cần bổ sung quyền điều tra tội trốn thuế cho cơ
quan Hải quan và quyền này chỉ thực hiện được khi bổ sung quyền điều tra
cho cơ quan hải quan trong Bộ luật tố tụng hình sự. Vì vậy, nhiệm vụ phòng,
chống hành vi trốn thuế, nợ đọng thuế cần qui định cụ thể trách nhiệm cơ
quan hải quan các cấp được thành lập đơn vị chuyên trách để trong trường
kê khai hải quan chứ chưa kiểm tra các đối tượng tham gia gián tiếp vào
hoạt động thương mại quốc tế như các cơ quan ngân hàng, bảo hiểm, cơ
quan giám định hàng hóa…
Vì vậy, để thực hiện nghiệp vụ này theo đúng thông lệ quốc tế, trước
hết, cơ quan hải quan và các đối tượng nộp thuế phải có cách nhìn thật đúng
về công tác kiểm tra sau thông quan nhưu một hoạt động nghiệp vụ thường
xuyên của cơ quan Hải quan, thay vì chỉ kiểm tra đối tượng có dấu hiệu vi
phạm pháp luật như hiện nay. Tiếp theo, cơ quan Hải quan phải áp dụng kỹ
thuật quản lý rủi ro trong việc lưa chọn đối tượng kiểm tra để thích ứng với
điều kiện hạn chế về nguồn lực và phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực. Tuy nhiên, để việc áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro đạt
hiệu quả cao, đòi hỏi phải có thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về đối
tượng xuất nhập khẩu như: lịch sử hình thành và phát triển, qui mô, lĩnh vực
hoạt động, quá trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt
động kinh doanh; các thông tin về hàng hóa như: các mặt hàng nhạy cảm,
nguồn gốc xuất sứ, sự biến động về giá cả thị trường trong và ngoài nước,
tính thời vụ của hàng hóa, lộ trình của hàng hóa như tuyến tường đi, phương
thức vận tải, cửa khẩu đi, đến… Tất cả những thông tin trên sẽ được tổng
hợp, phân tích để xác định mức độ rủi ro về gian lận thương mại nhằm loại
trừ những doanh nghiệp, những hàng hóa ít hoặc không có dấu hiệu vi phạm
pháp luật. Công tác kiểm tra lúc này chỉ tập trung vào các doanh nghiệp, các
loại hàng hóa có mức độ rủi ro về gian lận thương mại cao. Áp dụng quản lý
rủi ro sẽ giúp nghành hải quan có thể dự báo được xu hướng của các hoạt
động kinh doanh xuất nhập khẩu, phục vụ cho việc phát hiện và ngăn chặn
các gian lận về trị giá hải quan, nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra sau
thông quan và có thể sử dụng kết quả này để áp dụng chính sách ân hạn nộp
thuế cho các đối tượng nộp thuế.
+ Tăng cường điều kiện vật chất- kỹ thuật và ứng dụng công nghệ
thông tin
Một hệ thống chính sách và cơ chế quản lý tốt với những con người
Cục hải quan, cần có các giải pháp để sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị
này. Ngoài ra, việc thiết kế những phần mềm chuyên nghiệp nhưng không
quá phức tạp cũng là một biện pháp để việc ứng dụng công nghệ thông tin
đạt hiệu quả cao nhất trong việc hỗ trợ đối tượng nộp thuế thực hiện cơ chế
tự tính, tự khai, tự nộp. Đồng thời, cần thiết phải có một hệ thống xử phạt
cưỡng chế, thu nợ thuế nghiêm minh cũng là điều kiện hết sức quan trọng
khi thực hiện cơ chế tự tính, tự khai, tụ nộp.
1.3. Kinh nghiệm một số nước trên thế giới về chống thất thu thuế nhập
khẩu
• Inđônêsia:
Số thuế phải nộp đối với hàng hóa nhập khẩu và tiền phạt hành chính
được thanh toán trong vòng 30 ngày, kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ nộp thuế.
Trường hợp đặc biệt được tạm hoãn nghĩa vụ nộp thuế do Bộ trưởng Bộ tài
chính hướng dẫn chi tiết. Đồng thời, các khoản nợ thuế mà chưa thanh toán
hoặc mới thanh toán một phần vào ngân sách nhà nước đều phải chịu lãi suất
hai phần trăm mỗi tháng trong một thời hạn tối đa là hai mưoi bốn tháng, kể
từ ngày phải thanh toán các khoản nợ phải trả đó cho đến khi đối tượng nộp
15
thuế thanh toán xong( trong đó một phần của một tháng được tính là một
tháng).
• Philippin:
Thuế quan được cơ quan hải quan trực tiếp tính và thu thông qua các
ngân hàng đại lý được ủy quyền của Ngân hàng Trung ương không quá 30
ngày, kể từ ngày thông quan hàng hóa. Trường hợp không nộp đủ thuế theo
thời hạn qui định định sẽ bị phạt tăng thêm 25% số tiền thiếu đó. Nếu số
thiếu hụt do khai báo hoặc xuất trình không đúng sự thật hoặc gian dối( gian
lận thương mại) có lợi cho doanh nghiệp, thì sẽ phải nộp phạt 50% số tiền
thuế phải nộp.
• Hàn quốc:
Tất cả các loại hàng hóa nhập khẩu phải chịu thuế quan và các loại
đăng thông báo về tài sản chờ bán trên báo địa phương hoặc tờ rơi và đợi
một thời gian nhất định trước khi bán. Tuy nhiên, để đảm bảo hiệu quả, việc
bán tài sản tịch biên này thường do một công ty công cộng chuyên hoạt động
bán các tài sản tịch biên thực hiện. Tại hàn quốc, Công Ty quản lý tài sản
Hàn quốc (KAMCO) đã được ký kết với cơ quan hải quan Hàn Quốc để
thực hiện công việc này.
Sau khi bán tài sản, cơ quan hải quan trước hết sẽ sử dụng số tiền thu
được trả cho các chi phí liên quan đến việc tịch biên và bán tài sản. Số tiền
con lại sẽ được sử dụng để nộp thuế.Nếu số thu được từ việc bán tài sản thấp
hơn tổng số thuế, chi phí của việc tịch biên, bán tài sản thì đối tượng nộp
thuế sẽ tiếp tục phải nộp số thuế còn thiếu. Ngược lại, cơ quan hải quan sẽ ra
thông báo cho đối tượng nộp thuế số tiền còn thừa và hướng dẫn để đối
tượng nộp thuế làm thủ tục xin hoàn thuế. Tuy nhiên, nếu có ai đó như người
cầm cố… có yêu cầu đòi tiền và được ưu tiên trước so với đề nghị của đối
tượng nộp thuế thì cơ quan hải quan sẽ trả khoản tiền nợ, số còn lại sẽ hoàn
cho đối tượng nộp thuế.
• Nhật Bản:
Thuế hải quan và các loại thuế khác đối với hàng hóa nhập khẩu,
người khai hải quan phải nộp trước khi thông quan hàng hóa hoặc phải có ký
quỹ, bảo lãnh về số thuế phải nộp. Do đặc điểm thuế quan của Nhật Bản
chiếm tỷ lệ rất thấp trong tổng thu ngân sách nhà nước( khoảng 1,65% tổng
thu), nên việc chấp hành nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế rất nghiêm.
Trường hợp phát hiện có sự gian lận, trốn thuế thì áp dụng các biện pháp xử
phạt rất nặng kể cả biện pháp kinh tế và biện pháp hành chính.
• Trung Quốc:
Người có nghĩa vụ nộp thuế đối với hàng hóa nhập khẩu phải nộp đủ
khoản thuế trong vòng 15 ngày, kể từ ngày cơ quan hải quan ra thông báo
thuế, nếu kéo dài trong thời hạn nộp thuế thì cơ quan hải quan phạt chậm
nộp thuế. Người có nghĩa vụ nộp thuế, người bảo lãnh nếu quá thời hạn ba
tháng mà chưa giao nộp tiền thuế sau khi được thủ trưởng cơ quan hải quan
về thuế luôn đảm bảo nghiêm minh, với bộ máy cưỡng chế thu nợ đọng thuế
hiệu quả. Vì vậy, tình trạng nợ đọng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu hầu
như ít xảy ra như Hàn Quốc, Trung Quốc.
Tóm lại, từ việc phân tích bản chất, chức năng, vai trò và vị trí của
chính sách thuế nhập khẩu trong hệ thống chính sách thuế, cũng như cơ sở lý
luận của việc quy định chính sách ân hạn thuế là cơ sở để đánh giá, phân tích
tình hình nợ đọng thuế và nguyên nhân dẫn đến nợ đọng thuế ở nước ta
trong thời gian qua. Kết quả nghiên cứu của chương này có ý nghĩa thiết
thực trong việc hình thành cơ sở lý luận về chính sách thuế nhập khẩu và các
điều kiện thực hiện. Ngoài ra, việc tham khảo kinh nghiệm và đưa ra những
khuyến nghị bổ ích từ việc nghiên cứu chính sách thuế và vấn đề tổ chức thu
18
nộp thuế của một số nước trong khu vực và trên thế giới cũng đã rút ra
những bài học quý giá có thể áp dụng cho Việt Nam
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP
KHẨU TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN CỦA TỔNG
CỤC HẢI QUAN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Tình hình thu thuế nhập khẩu giai đoạn 1998-2009
Thuế là một khoản thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Số thu
ngân hàng nhà nước luôn chiếm xấp xỉ 20% GDP; Trong đó số thu từ hàng
hóa xuất nhập khẩu chiếm khoảng 25% trong tổng thu ngân sách nhà nước;
Riêng số thu thuế nhập khẩu luôn chiếm khoảng 14% tổng thu ngân sách
nhà nước. Chúng ta xem Bảng 2.1 dưới đây:
Bảng 2.1: Tỷ trọng số thu thuế nhập khẩu trong tổng thu Ngân
sách Nhà nước giai đoạn 1998-2009
Năm
Tổng thu
NSNN so với
21.30%
26.70%
30.70%
29.60%
28.80%
27.80%
0.00%
5.00%
10.00%
15.00%
20.00%
25.00%
30.00%
35.00%
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
tỷ trọng
Hình 2.1: Tỷ trọng số thu từ hàng hóa xuất nhập khẩu trong tổng
thu ngân sách nhà nước
Nguồn: Cục Tin học và Thống kê - Tổng cục Hải quan, Tổng cục thuế
Từ Hình 2.1 ta có thể nhận thấy số thu từ hàng hóa xuất nhập khẩu
trong tổng thu ngân sách nhà nước liên tục có thay đổi; Thấp nhất là chiếm
20,9% vào năm 2000 và cao nhất lên tới 30.73% vào năm 2006. Dù có
những thay đổi nhưng số thu từ hàng hóa xuất nhập khẩu luôn giữ được ổn
định. Đóng góp đáng kể vào số thu chung của ngân sách nhà nước.
20
19.60%
17%
12.20%
14.60%
16.80%
khẩu sang điều tiết bằng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa nhập khẩu.
Cùng với việc ban hành các luật thuế mới được thực hiện từ ngày 1/1/1999
nhằm thực hiện cải cách cơ bản chính sách thuế phù hợp với điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế, chính sách thuế nhập khẩu cũng đã được sửa đổi, bổ
sung. Biểu thuế đã được xây dựng lại theo hướng đơn giản mức thuế suất,
chi tiết hơn dòng hàng theo danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu. Biểu thuế
nhập khẩu từ chỗ bao gồm 29 mức thuế suất, với mức thuế suất danh nghĩa
là 16,11% xuống còn 18 mức thuế suất danh nghĩa là 15,3%. Vì vậy, tỷ
trọng số thu thuế nhập khẩu trong tổng thu ngân sách nhà nước trong giai
đoạn này đã giảm xuống so với trước song bình quân vẫn đạt 10,12%.Tuy
21
nhiên, nếu tính chung cả số thu thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt
đối với hàng nhập khẩu thì tỉ trọng số thuế từ hàng hóa xuất, nhập khẩu vẫn
không ngưng tăng lên, với mức huy động bình quân trong giai đoạn này là
26,41% trong tổng số thu ngân sách nhà nước từ thuế, phí và lệ phí.
Theo lộ trình cam kết song phương với các đối tác thương mại lớn
như AFTA, EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và mức thuế suất trần theo
cam kết khi gia nhập WTO vai trò động viên nguồn thu cho ngân sách nhà
nước của thuế nhập khẩu tuy có giảm về thuế suất do thực hiện các cam kết
cắt giảm thuế, nhưng do kim ngạch nhập khẩu tăng, sự gia tăng về hoạt động
giao dịch thương mại nên vẫn sẽ tiếp tục là nguồn thu quan trọng.
2.2. Thực trạng hoạt động chống thất thu thuế
2.2.1. Tình hình gian lận về thuế nhập khẩu
* Với mục đích trốn thuế nhập khẩu bằng việc khai báo giá trị
hàng hóa thấp các đối tượng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi:
- Thông đồng với đối tác bán hàng để lập hóa đơn, hợp đồng hạ thấp
trị giá hàng hóa so với giá trị thực;
- Khai báo thấp về chất lượng hàng hóa hoặc đánh đồng tên hàng
nhưng chất lượng và phẩm cấp thương mại cao hơn;
- Khai báo mã hàng hóa có thuế suất bằng không, hàng thuộc diện
Thực tế thời gian qua cho thấy, đi đôi với nỗ lực của cơ quan Hải
quan và việc chấp hành tốt nghĩa vụ thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu của nhiều doanh nghiệp làm ăn chân chính, thì cũng có không ít doanh
nghiệp tìm đủ mọi cách để chây ỳ nợ thuế, trốn tránh nghĩa vụ thuế để rồi đi
tới xin xóa nợ hoặc bỏ trốn.
Để phân tích tình trạng thất thu thuế nhập khẩu, chứng ta hãy nghiên
cứu sơ qua số liệu về nợ đọng thuế nhập khẩu qua các năm:
Bảng 2.2: Tỷ trọng số thuế nợ đọng trong tống số thu thuế nhập
khẩu
Năm Số thuế nợ đọng
Số thu từ hàng hóa nhập
khẩu
2001 3755 27800
2002 4709 34500
2003 3068 35105
2004 3207 42300
2005 2850 49800
2006 3200 58627
2007 3068 85700
2008 4380 125136
2009 5130 132000
Đơn vị: Tỷ VND
Nguồn: Cục Tin học và Thống kê - Tổng cục Hải quan, Tổng cục thuế
23
0
20000
40000
60000
80000
76%; chiếm khoảng gần 50% số doanh nghiệp thường xuyên tham gia hoạt
động xuất nhập khẩu.
Theo số liệu thống kê của cơ quan hải quan, kể từ khi thực hiện luật
doanh nghiệp năm 1999, hàng năm số doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh
doanh không ngưng tăng lên, bình quân mỗi năm tăng lên khoảng 20% so
với năm trước. Trong đó, số doanh nghiệp đăng ký tham gia hoạt động xuất
nhập khẩu cũng tăng lên tương ứng. Trước năm 1999 cả nước mới có
khoảng hơn 2000 doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, thì đến cuối năm
2009 con số này lên đến gần 74000 doanh nghiệp. Trên thực tế chỉ có
khoảng 26.000 doanh nghiệp thương xuyên hoạt động xuất nhập khẩu, số
còn lại chỉ đăng ký để thực hiện chức năng xuất nhập khẩu khi tìm kiếm
được khách hàng hoặc có cơ hội nhập khẩu một lần để rồi nợ thuế, trốn thuế.
Sở dĩ có sự tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu như vậy là do điều kiện được phép kinh doanh xuất nhập khẩu
khá thông thoáng, doanh nghiệp được quyền sản xuất, kinh doanh những
mặt hàng mà nhà nước không cấm.
Sự thông thoáng nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia hoạt
động xuất nhập khẩu, tạo cơ hội cho mọi thành phần kinh tế tham gia tiếp
cận, tìm kiếm và mở rộng thị trường, tạo công ăn việc làm, góp phần giải
phóng sức sản xuất... Đó là tiền đề và động lực cho sự phát triển bền vững
của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế đã có sự thiếu phối hợp đồng bộ
trong việc tổ chức quản lý từ khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, đến quá
trình kinh doanh, chấp hành pháp luật, trong đó có pháp luật về thuế. Doanh
nghiệp đăng ký và được phép đi vào hoạt động, còn hoạt động, còn hoạt
động tốt hay xấu như thế nào? hiệu quả ra sao? Quá trình chấp hành pháp
luật của doanh nghiệp... không có theo dõi đánh giá hoặc đánh giá thiếu đầy
đủ; mỗi cơ quan quản lý chỉ chịu trách nhiệm phần việc của mình, ví dụ: cơ
quan kế hoạch- đầu tư cấp phép chỉ biết cấp phép, cơ quan thuế, cơ quan hải
quan chỉ biết thu thuế,... Trong khi đó, có những doanh nghiệp từ khi bắt đầu
thành lập đã có sẵn ý đồ trốn thuế, nợ thuế, bán hóa đơn ra ngoài để thu lợi