Giải pháp chống thất thu thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập - Pdf 25

LỜI MỞ ĐẦU
Thuế là công cụ kinh tế chủ yếu được Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ
mô nền kinh tế và huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Một trong
những yêu cầu quan trọng trong tổ chức thực thi chính sách thuế là phải thu
đúng, thu đủ và đúng thời hạn theo quy định của pháp luật về thuế. Chấp hành
tốt nghĩa vụ nộp thuế nhằm đảm bảo cân đối ngân sách quốc gia, cũng như
đảm bảo tính công bằng giữa các đối tượng nộp thuế.
Trong những năm qua, chính sách thuế nhập khẩu, cùng với cơ chế vận
hành đảm bảo công bằng, minh bạch, không phân biệt đối xử và ổn định đã
tạo thuận lợi hơn cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tăng cường thu hút đầu
tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần huy động nguồn thu cho ngân
sách, bảo hộ sản xuất trong nước… Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì
trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách thuế nhập khẩu. Có thê nói tình
trạng thất thu thuế nhập khẩu đã xảy ra trong thời gian dài, số thuế thất thu
không phải nhỏ, làm ảnh hưởng xấu đến cân đối thu chi của ngân sách nhà
nước- một trong những cân đối lớn của nền kinh tế quốc gia và tạo ra sự bất
bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ về thuế.
Nguyên nhân của tình trạng thất thu thuế nhập khẩu có thể do khách
quan như chính sách chế độ thay đổi, đối tượng nộp thuế gặp tai họa bất
ngờ…, cũng có thể do nguyên nhân chủ quan như đối tượng nộp thuế cố tình
gian lận, trốn thuế… Vì vậy, cùng với việc tổ chức, triển khai thực hiện chính
sách thuế nhập khẩu thì việc tìm ra giải pháp để chống thất thu thuế nhập
khẩu là một trong những nội dung hết sức quan trọng, cần thiết và cấp bách
nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả chính sách thuế của nhà nước. Với ý
nghĩa trên, tác giả đã chọn đề tài “ Giải pháp chống thất thu thuế nhập khẩu
trong điều kiện hội nhập” để nghiên cứu nhằm đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của
thực tiễn.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ VÀ CHỐNG
THẤT THU THUÊ NHẬP KHẨU
1.1. Một số vấn đề cơ bản về thuế nhập khẩu

Tùy thuộc vào tiêu thức và yêu cầu của công việc phân loại, có nhiều
cách phân loại thuế nhập khẩu, đó là:
1.1.3.1. Căn cứ vào mục đích của việc thu thuế
Nếu căn cứ vào mục đích của việc thu thuế thì thuế nhập khẩu được
chia thành các loại sau:
- Loại để tạo nguồn thu: Thuế nhập khẩu được quy định đối với tất
cả các mặt hàng để tạo lập nguồn thu cho chính phủ, không phân biệt khả
năng sản xuất, nhu cầu bảo hộ và chính sách thương mại của quốc gia đó.
- Loại để bảo hộ: Loại này thường được quy định có lựa chọn. Nếu
trong nước có sản xuất có khả năng sản xuất nhưng chưa đủ sức cạnh tranh,
cần sự bảo hộ của nhà nước thì xây dựng mức thuế bảo hộ để hàng sản xuất
trong nước đủ sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu.
- Loại để trừng phạt: Loại thuế này thường được sử dụng để trả
đũa lại những hành vi phân biệt đối xử của một quốc gia này đối với hàng hóa
của một quốc gia khác.
1.1.3.2. Căn cứ vào phạm vi tác dụng
Nếu căn cứ vào phạm vi tác dụng thì thuế nhập khẩu có các loại sau:
- Thuế nhập khẩu tự quản: là loại thuế thể hiện tính độc lập của
một quốc gia ( quy định tùy ý theo mục tiêu của quốc gia mình mà không phụ
thuộc vào bất kỳ một Hiệp định song phương hoặc đa phương nào đã ký kết).
- Thuế nhập khẩu theo các cam kết quốc tế: là loại thuế thục hiện
theo các cam kết trong các Hiệp định song phương hoặc đa phương đã ký kết.
1.1.3.3. Căn cứ vào cách thức đánh thuế
Nếu căn cứ vào cách thức đánh thuế thì thuế nhập khẩu được phân chia
thành các loại:
- Thuế nhập khẩu tính theo tỷ lệ phần trăm (%): Thuế nhập khẩu
tính thuế theo tỷ lệ phần trăm là hình thức tính thuế được quy định theo tỷ lệ
phần trăm (%) tính trên trị giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu.
- Thuế kết hợp giữa tính theo tỷ lệ phần trăm (%) và thuế tuyệt
đối: Thuế kết hợp giữa tính theo tỷ lệ phần trăm (%) và thuế tuyệt đối là sự

thành nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Khi thu thuế nhập khẩu ở mức cao
vừa bảo hộ sản xuất trong nước, vừa đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân
sách Nhà nước. Ngược lại, thu thuế nhập khẩu thấp, tức là khuyến khích nhập
khẩu, nhìn bên ngoài số thu đóng góp cho ngân sách thấp hoặc không đáng
kể, nhưng xét trong tổng thể quy trình sản xuất xã hội thì thu ngân sách sẽ
tăng lên ở khâu tiêu thụ sản phẩm thông qua các loại thuế như giá trị gia tăng,
thuế thu nhập doanh nghiệp...
1.1.4.3. Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu
Khi mở cửa thị trường, có thể nói rằng vì mục tiêu lợi nhuận mà việc
mua bán hàng hóa, dịch vụ có thể diễn ra ở bất cứ nơi nào và bất kỳ loại hàng
hóa gì. Có những hàng hóa phục vụ nhu cầu cơ bản cho con người, có những
hàng hóa, dich vụ là tư liệu sản xuất để sản xuất sản phẩm là động lực trực
tiếp nâng cao hiệu quả của nền kinh tế... Bên cạnh đó, cũng có những thứ
hàng hóa có thể thâm nhập vào bằng nhiều hình thức làm xâm hại đến chủ
quyền, an ninh quốc gia, đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Trên thế giới, nhiều nhà kinh tế học đã chứng minh rằng, có hai loại hàng hóa
có mức lợi nhuận siêu ngạch đó là vũ khí và ma túy. Ngoài ra, còn những vật
phẩm văn hóa đồi trụy cũng có thể xâm nhập vào thị trường nội địa làm
phương hại đến môi trường văn hóa – xã hội của nước nhập khẩu, là mầm
mống của nhiều tệ nạn xã hội có thể phát sinh. Mặc dù, với xu thế tự do hóa,
toàn cầu hóa đòi hỏi phải cắt giảm hàng rào thuế quan, thuế quan hóa các biện
pháp phi thuế quan, nhưng vai trò, vị trí của thuế quan vẫn còn quan trọng.
Chính vì vậy, thông qua việc kiểm tra thu thuế nhập khẩu, để biết được thực
chất hàng hóa, nhập khẩu qua cửa khẩu loại hàng hóa gì, với số lượng là bao
nhiêu, nhập khẩu từ nước nào.v.v... thì Nhà nước mới kiểm soát được tất cả
các loại hàng hóa nhập khẩu. Kết hợp với chính sách kinh tế đối ngoại thích
hợp, Nhà nước cho phép nhập những loại hàng hóa gì, cầm nhập những loại
hàng hóa nào để có biện pháp xử lý kịp thời, không để lọt vào thị trường trong
nước.
1.1.5. Nội dung thất thu thuế nhập khẩu

thường hoặc chờ xác định chính xác số thuế phải nộp hoặc số nợ nhỏ của các
doanh nghiệp chây ỳ, có thể giải quyết dứt điểm nếu tổ chức xử lý cương
quyết, doanh nghiệp đã ký biên bản truy thu và cam kết nộp...
Khoản tiên thuế thất thu không có khả năng thu hồi: Là các khoản thuế
phải truy thu mà đối tượng nộp thuế không có khả năng nộp thuế do các
doanh nghiệp nợ thuế không còn nguồn vốn để nộp, doanh nghiệp giải thể,
phá sản hoặc làm ăn thua lỗ; khoản tiền thuế cơ quan hải quan không thể kiểm
soát được do doanh nghiệp mất địa chỉ.
Cách thức phân loại thất thu thuế nhập khẩu cho chúng ta thấy mỗi loại
thất thu và nguyên nhân dẫn đến thất thu thuế nhập khẩu là rất khác nhau.
Việc phân loại thất thu thuế có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý và đề ra
các biện pháp quản lý, thu hồi thuế nhập khẩu cho phù hợp.
1.1.5.3 Ảnh hưởng của tình trạng thất thu thuế nhập khẩu
- Đối với ngân sách nhà nước: Một trong những mục đích cơ bản của
gian lận thuế là trốn thuế. Do đó, gian lận, trốn thuế càng tăng thì thất thu
ngân sách Nhà nước càng lớn. Nhà nước bị thất thu thuế lớn sẽ ảnh hưởng
không nhỏ đến quá trình tích lũy vốn để tiến hành cân đối thu chi và đầu tư
cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ngân sách nhà nước được xác lập dựa trên
cơ sở dự toán nhu cầu chi tiêu và khả năng đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà
nước, trong đó nguồn thu từ thuế nhập khẩu có vai trò rất quan trọng. Nếu
việc nộp thuế bị chậm trễ hoặc doanh nghiệp cố tình trốn tránh nghĩa vụ nộp
thuế, thì việc thực hiện dự toán thu ngân sách sẽ không được bảo đảm. Từ đó
ảnh hưởng tới nhu cầu chi tiêu của nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội và
các đơn vị sự nghiệp, cũng như nhu cầu về vốn cho quá trình đầu tư phát triển
kinh tế xã hội...
- Đối với môi trường kinh doanh: Để đảm bảo môi trường kinh doanh
được bình đẳng, đòi hỏi các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động xuất nhập
khẩu phải chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của nhà nước, trong
đó nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu cũng là một tiêu chí quan trọng. Thuế nhập
khẩu ngoài vai trò quan trọng là công cụ để Nhà nước kiểm soát hoạt động

Khi ngân sách bị thiếu hụt, chính phủ sẽ đánh thuế nhập khẩu cao vào
hàng nhập khẩu đặc biệt là hàng tiêu dung. Hạn chế các trường hợp được ưu
đãi miễn thuế, giảm thuế… Trường hợp ngược lại, Chính phủ có thể giảm
mức thuế nhập khẩu đánh vào hàng hóa nhập khẩu, mở rộng các trường hợp
ưu đãi miễn giảm thuế..
1.2.2. Yếu tố khách quan
1.2.2.1. Xu thế phát triển của thương mại quốc tế
Thuế nhập khẩu điều chỉnh vào hoạt động xuất nhập khẩu của một quốc
gia. Sự biến động của kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế trong
từng quốc thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới hàng hóa xuất nhập khẩu của các
quốc gia, nhất là trong xu thế tự do hóa thương mại, mở cửa và hội nhập kinh
tế như hiện nay. Từ đó, các yếu tố quốc gia sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chính
sách thuế nhập khẩu của từng quốc gia. Để đạt được những mục tiêu đặt ra,
đòi hỏi chính sách thuế nhập khẩu phải có tính linh hoạt cao, có sự thay đổi
phù hợp tùy theo sự biến động của kinh tế thế giới và thương mại quốc tế.
Ngoài ra, chính sách thuế nhập khẩu còn phải đảm bảo phù hợp với hiệp định,
cam kết quốc tế mà mỗi quốc gia ký kết, tham gia.
1.2.2.2 Những nguyên tắc hội nhập quốc tế chi phối chính sách thuế
nhập khẩu trong điều kiện hội nhập
- Nguyên tắc không phân biệt đôi xử: Đây là nguyên tắc bao trùm nhất
của WTO, nó cũng được áp dụng như một nguyên tắc cơ bản trong khối mậu
dịch khu vực và các hiệp định thương mại song phương. Nguyên tắc thể hiện
dưới dạng đó là nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc đãi ngộ quốc gia.
- Nguyên tắc có đi có lại: Nguyên tắc này quy định nếu một quốc gia có
một biện pháp mở cửa thị trường như hạ thấp thuế nhập khẩu, xóa bỏ một
phần hay toàn bộ hàng rào phi thuế quan đối với hàng nhập khẩu thì họ có
quyền đòi hỏi các nước thành viên khác có những nhượng bộ tương tự.
Nguyên tắc này đòi hỏi các nước phải luôn cân nhắc khi đưa ra các cam kết
để đảm bảo sự hài hòa giữa nghĩa vụ và quyền lợi trong đàm phán thuế song
phương hay đa phương, đồng thời phải tôn trọng việc thực hiện các cam kết

lĩnh vực mở cửa, mức độ rủi ro trong cam kết lớn hơn so với các nước đã phát
triển.
- Ràng buộc áp dụng các phương pháp xác định giá tính thuế theo Hiệp
định trị giá tính thuế GATT/WTO:
Hiệp định trị giá tính thuế GATT/WTO xác lập một hệ thống đầy đủ
các phương pháp xác định trị giá tính thuế, đảm bảo xác định được trị giá tính
thuế của hàng hóa gần sát nhất với trị giá tính thuế, đảm bảo xác định được trị
giá tính thuế của hàng hóa gấn sát nhất với trị giá của chính hàng hóa đó trong
giao dịch. Hiệp định này nền tảng cho sự ra đời của WTO, đồng thời ràng
buộc tất cả các thành viên của mình phải tuân thủ đầy đủ các nội dung quy
định của Hiệp định. Trong đó, Hiệp định yêu cầu các nước tham gia phải xây
dựng một hệ thống pháp luật quốc gia chặt chẽ, minh bạch, theo tinh thần tạo
điều kiện thuận lợi cho thương mại phát triển.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status