THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU
TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN CỦA TỔNG CỤC HẢI
QUAN VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1. Tình hình thu thuế nhập khẩu giai đoạn 1998-2009
Thuế là một khoản thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Số thu ngân
hàng nhà nước luôn chiếm xấp xỉ 20% GDP; Trong đó số thu từ hàng hóa xuất
nhập khẩu chiếm khoảng 25% trong tổng thu ngân sách nhà nước; Riêng số thu
thuế nhập khẩu luôn chiếm khoảng 14% tổng thu ngân sách nhà nước. Chúng ta
xem Bảng 2.1 dưới đây:
Bảng 2.1: Tỷ trọng số thu thuế nhập khẩu trong tổng thu Ngân sách
Nhà nước giai đoạn 1998-2009
Năm
Tổng thu
NSNN so với
GDP
Tỷ trong số thu từ
hàng hóa XNK trong
tổng thu NSNN
Tỷ trọng số thu thuế
nhập khẩu trong
tổng thu NSNN
1998 19.60% 23.10% 19.60%
1999 19.60% 26.50% 16.95%
2000 20.50% 20.90% 12.18%
2001 21.60% 22.10% 14.60%
2002 23.10% 25.50% 16.77%
2003 23.20% 23.80% 14.31%
2004 23.40% 21.30% 11.07%
2005 23.70% 26.71% 8.45%
2006 21.20% 30.73% 7.68%
2007 25.20% 29.55% 9.13%
ngày 1/1/1999 nhằm thực hiện cải cách cơ bản chính sách thuế phù hợp với điều
kiện hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách thuế nhập khẩu cũng đã được sửa đổi, bổ
sung. Biểu thuế đã được xây dựng lại theo hướng đơn giản mức thuế suất, chi tiết
hơn dòng hàng theo danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu. Biểu thuế nhập khẩu từ
chỗ bao gồm 29 mức thuế suất, với mức thuế suất danh nghĩa là 16,11% xuống còn
18 mức thuế suất danh nghĩa là 15,3%. Vì vậy, tỷ trọng số thu thuế nhập khẩu
trong tổng thu ngân sách nhà nước trong giai đoạn này đã giảm xuống so với trước
song bình quân vẫn đạt 10,12%.Tuy nhiên, nếu tính chung cả số thu thuế giá trị gia
tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng nhập khẩu thì tỉ trọng số thuế từ hàng
hóa xuất, nhập khẩu vẫn không ngưng tăng lên, với mức huy động bình quân trong
giai đoạn này là 26,41% trong tổng số thu ngân sách nhà nước từ thuế, phí và lệ
phí.
Theo lộ trình cam kết song phương với các đối tác thương mại lớn như
AFTA, EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản và mức thuế suất trần theo cam kết khi
gia nhập WTO vai trò động viên nguồn thu cho ngân sách nhà nước của thuế nhập
khẩu tuy có giảm về thuế suất do thực hiện các cam kết cắt giảm thuế, nhưng do
kim ngạch nhập khẩu tăng, sự gia tăng về hoạt động giao dịch thương mại nên vẫn
sẽ tiếp tục là nguồn thu quan trọng.
2.2. Thực trạng hoạt động chống thất thu thuế
2.2.1. Tình hình gian lận về thuế nhập khẩu
* Với mục đích trốn thuế nhập khẩu bằng việc khai báo giá trị hàng hóa
thấp các đối tượng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi:
- Thông đồng với đối tác bán hàng để lập hóa đơn, hợp đồng hạ thấp trị giá
hàng hóa so với giá trị thực;
- Khai báo thấp về chất lượng hàng hóa hoặc đánh đồng tên hàng nhưng chất
lượng và phẩm cấp thương mại cao hơn;
- Khai báo mã hàng hóa có thuế suất bằng không, hàng thuộc diện không
phải nộp thuế như hàng cho tặng, hàng hỗ trợ tiếp thị quảng cáo, khuyến mại, hàng
viện trợ...
- Hiện nay, các tập đoàn kinh tế lớn sẽ tính toán chiến lược để thâm nhập sản
Để phân tích tình trạng thất thu thuế nhập khẩu, chứng ta hãy nghiên cứu sơ
qua số liệu về nợ đọng thuế nhập khẩu qua các năm:
Bảng 2.2: Tỷ trọng số thuế nợ đọng trong tống số thu thuế nhập khẩu
Năm Số thuế nợ đọng
Số thu từ hàng hóa nhập
khẩu
2001 3755 27800
2002 4709 34500
2003 3068 35105
2004 3207 42300
2005 2850 49800
2006 3200 58627
2007 3068 85700
2008 4380 125136
2009 5130 132000
Đơn vị: Tỷ VND
Nguồn: Cục Tin học và Thống kê - Tổng cục Hải quan, Tổng cục thuế
Hình 2.3 So sánh tình hình nợ đọng so với số thu từ thuế đối với hàng
nhập khẩu
Nguồn: Cục Tin Học và Thống kê- Tổng Cục Hải quan, Tổng cục Thuế.
Chi tiết về số nợ thuế nhập khẩu lũy kế tính đến cuối năm 2009 là 4365 tỷ
đồng, cụ thể như sau: [8]
-Nợ thuế của các doanh nghiệp thua lỗ là 760 tỷ đồng;
-Nợ thuế của các doanh nghiệp giải thể, phá sản là 615 tỷ đồng;
-Nợ thuế của các doanh nghiệp mất tích, bỏ trốn là 435 tỷ đồng;
-Nợ thuế do chính sách thay đổi là 875 tỷ đồng;
-Nợ thuế của các doanh nghiệp chây ỳ là 745 tỷ đồng;
-Nợ thuế của các doanh nghiệp chờ xóa nợ theo quy định 115 tỷ đồng;
-Nợ thuế của các doanh nghiệp chờ giải quyết miễn thuế, xét miễn thuế là
trong đó có pháp luật về thuế. Doanh nghiệp đăng ký và được phép đi vào hoạt
động, còn hoạt động, còn hoạt động tốt hay xấu như thế nào? hiệu quả ra sao? Quá
trình chấp hành pháp luật của doanh nghiệp... không có theo dõi đánh giá hoặc
đánh giá thiếu đầy đủ; mỗi cơ quan quản lý chỉ chịu trách nhiệm phần việc của
mình, ví dụ: cơ quan kế hoạch- đầu tư cấp phép chỉ biết cấp phép, cơ quan thuế, cơ
quan hải quan chỉ biết thu thuế,... Trong khi đó, có những doanh nghiệp từ khi bắt
đầu thành lập đã có sẵn ý đồ trốn thuế, nợ thuế, bán hóa đơn ra ngoài để thu lợi
hoặc trốn tránh nghĩa vụ thuế khi làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa. Do vậy, theo
điều tra thì cứ khoảng 100 doanh nghiệp được phép thành lập, đăng ký kinh doanh
thì có đến 35-40 doanh nghiệp thay đổi địa chỉ mà không thông báo cho cơ quan
thuế, cơ quan hải quan biết.
Qua phân tích số liệu thống kê, cho thấy số nợ đọng thuế như các khoản nợ
xấu, gồm nợ thuế do thô lỗ không có khẳ năng thanh toán, nợ thuế của doanh
nghiệp giải thể, nợ thuế của các doanh nghiệp không có địa chỉ đang có xu hướng
gia tăng, hiện chiếm khoảng 19% tổng số nợ thuế, nợ phạt; nợ có khả năng thu
chiếm trên 80%, nhưng phần nhiều lại rơi vào một số trường hợp phức tạp như nợ
do chứng từ chậm luân chuyển, nợ của một số doanh nghiệp chây ỳ nếu không thu
hồi được nợ đọng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu kịp thời sẽ còn ảnh hưởng đến
việc thực hiện kế hoạch thu ngân sách nhà nước.
Trên thực tế, việc thu hồi nợ đọng thuế là rất khó khăn. Sau nhiều đợt phát
động chiến dịch thu hồi nợ đọng thuế nhưng tình hình vẫn rất ít chuyển biến. Việc
thực hiện quyết liệt các biện pháp như phê phán trên báo, kiểm soát liên thông tài
khoản với ngân hàng, lập các đội đòi nợ đọng thuế... nhưng hiệu quả thu hồi nợ
đọng thuế của cơ quan hải quan là không đáng kể, số thuế nợ đọng cũ giải quyết
chưa xong thì số nợ đọng mới lại phát sinh. Ngoài ra, có nhiều doanh nghiệp lợi
dụng chính sách khoanh nợ, xóa nợ trong thời gian chờ cổ phần hóa để trốn tránh
nghĩa vụ thuế. Vì theo quyết định số 172/2001/QĐ- TTG ngày 05 tháng 11 năm
2001 về việc xử lý giãn nợ, khoanh nợ, xóa nợ thuế và các khoản phải nộp ngân
sách nhà nước đối với những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có khó khăn
nhà nước đối với những doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có khó khăn do
Ngoài ra,trong thực tế, để trốn thuế, doanh nghiệp cố tình khai báo sai mã số
của hàng hoá nhập khẩu; lợi dụng sự phức tạp trong cơ cấu sản phẩm cũng như tên
gọi, đặc biệt là những sản phẩm mới, là hỗn hợp của nhiều chất hoặc linh kiện khó
có thể phân biệt bằng cảm quan để kê khai vào mã số có thuế suất thấp.
Theo thống kê, gian lận, trốn thuế qua việc khai sai mã số thường xảy ra đối
với những mặt hàng có sự chênh lệch về thuế là hàng điện tử, điện lạnh, sắt thép,
thực phẩm, hàng tiêu dùng... Tình trạng doanh nghiệp gian lận trốn thuế bằng thủ
đoạn nhập nhằng trong khai báo hải quan, như: khai báo sai mặt hàng hoặc tính
chất mặt hàng để được áp mã số thuế thấp; nhập nhiều, khai ít… cũng diễn ra phổ
biến. Có những lô hàng, do khai báo sai mặt hàng dẫn đến chênh lệch thuế vài trăm
triệu đồng, thậm chí cả tỉ đồng. Điển hình có lô hàng thép, trị giá trên 550.000
USD của Công ty TNHH Thương mại- sản xuất Nguyễn Minh. Công ty này khai
báo nhập khẩu lô hàng thép lá có thuế suất 0%, thực tế kiểm tra, hàng thực nhập là
loại thép có thuế suất 4,5%, dẫn đến chênh lệch thuế trên 400 triệu đồng. Hay như
lô hàng gốm sứ nhập khẩu của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Huy Hân, Đội
kiểm soát Hải quan đã phát hiện công ty này nhập khẩu hàng sai khai báo và hàng
không khai báo với số lượng lớn, gồm tổng cộng 17.000 cái tách uống trà, 8.000
cái quần và hàng sai khai báo hải quan gồm gần 22.000 sản phẩm gốm sứ các loại.
Trị giá lô hàng vi phạm ước tính khoảng gần 270 triệu đồng, gian lận gần 200 triệu
đồng tiền thuế. Hay việc một doanh nghiệp tại Hà Nội nhập khẩu 26.000 tấn thép
cuộn chứa chất Bo từ Trung Quốc nhưng khai là thép hợp kim, nhằm hưởng thuế
nhập khẩu 0%. Việc gian lận thuế nhập khẩu thép này sẽ khiến giá thép nhập khẩu
rẻ hơn, doanh nghiệp sản xuất thép trong nước không thể cạnh tranh được, và nguy
cơ phải ngừng sản xuất rất có thể xảy ra. Trong khi đó, theo quy định, thép có chứa
chất Bo cũng giống như thép xây dựng nhập khẩu thông thường phải chịu thuế suất
nhập khẩu 12%. Vụ việc được Hiệp hội Thép Việt Nam phát hiện và trình báo cơ
quan chức năng điều tra, truy thu thuế. Ngay sau đó liên Bộ Tài chính và Công
thương đã kiểm tra, xác minh, phát hiện gian lận và thống nhất truy thu thuế loại
thép này ở mức 15% và truy thu cả những lô thép đã nhập khẩu.
Thậm chí nhiều trường hợp, doanh nghiệp đã cố tình tháo bỏ một số bộ phận
Việt Nam sử dụng bảng giá tối thiểu, bảng giá kiểm tra để làm công cụ chủ yếu
chống gian lận thương mại qua giá. Điều đó có nghĩa là hàng hoá nhập khẩu sẽ
được xác định giá tính thuế trên cơ sở so sánh với giá tối thiểu. Giá tính thuế sẽ
luôn luôn cao hơn hoặc bằng mức giá tối thiểu đã quy định. Trong trường hợp hàng
không có giá tối thiểu thì sẽ so sánh giá nhập khẩu với giá kiểm tra do cơ quan Hải
quan xây dựng. Như vậy, với quy định hiện hành, nếu doanh nghiệp nhập khẩu
hàng hoá với giá cao hơn giá tối thiểu thì họ sẽ tìm cách khai báo thấp hơn hoặc
bằng giá tối thiểu để giảm bớt số thuế phải nộp vào Ngân sách Nhà nước. Còn nếu
doanh nghiệp thực sự nhập khẩu hàng hoá với giá thấp hơn giá tối thiểu thì lại phải
nộp thêm một khoản nữa vào số thuế mà lẽ ra doanh nghiệp phải nộp cho Nhà
nước.
Để đạt được mục đích cục bộ, doanh nghiệp thường dàn xếp để ngụy tạo
hợp đồng nhập khẩu có đầy đủ các điều khoản như quy định nhưng với giá nhập
khẩu thấp hơn, thậm chí thấp hơn rất nhiều, so với giá thực tế mà họ phải trả.
Trong khi đó, với hệ thống pháp lý hiện hành, cơ quan Hải quan chưa có đủ thẩm
quyền kiểm tra tính chính xác, trung thực của hợp đồng mua bán hàng hóa. Do vậy,
mặc dù đảm nhận vai trò là “tấm lưới” sàng lọc và ngăn ngừa gian lận thương mại
qua giá nhưng hệ thống bảng giá tối thiểu, bảng giá kiểm tra hiện hành vô hình
chung lại trở thành lá chắn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp không trung thực
gian lận trị giá, và ngược lại trở thành rào cản đối với hoạt động kinh doanh của
những doanh nghiệp trung thực. Rõ ràng, cơ chế quản lý theo giá tối thiểu đã bộc
lộ những sơ hở và bất hợp lý, và vẫn không thể giải quyết được tình trạng gian lận
giá ngày càng phổ biến.
Từ ngày 01/01/2006, ngành Hải quan triển khai thực hiện Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Hải quan và Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa
đổi, bổ sung. Theo đó, phương pháp quản lý hàng hoá xuất, nhập khẩu chuyển từ
“tiền kiểm sang hậu kiểm” trên cơ sở phương pháp quản lý Hải quan hiện đại dựa
trên kỹ thuật quản lý rủi ro, hàng hoá được phân luồng kiểm tra căn cứ vào các tiêu
chí quản lý rủi ro và các thông tin thu thập được từ nhiều nguồn. Đây là sự chuyển
biến mang tính cách mạng của ngành Hải quan, vừa tạo thuận lợi cho hoạt động
độ của cơ quan Hải quan sau đó nhập khẩu ồ ạt liên tục trong một khoảng thời gian
ngắn theo mức giá thấp đã khai báo trước đó và khi cơ quan Hải quan chưa kịp xác
minh, xử lý, tiến hành thủ tục giải thể doanh nghiệp hoặc bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng
ký kinh doanh.
- Lợi dụng việc được trừ các khoản được trừ: Đây chính là điểm để các
doanh nghiệp lợi dụng tối đa khoản được trừ để khai báo hải quan. Không ít doanh
nghiệp lợi dụng quy định "việc giảm giá được lập thành văn bản trước khi xếp
hàng lên phương tiện vận chuyển và có số liệu, chứng từ hợp lệ" (Hiệp định trị giá
GATT) để tách khoản giảm giá này ra khỏi hóa đơn. Ví dụ: khi biết cơ sở dữ liệu
của hải quan chấp nhận trị giá tính thuế một chiếc xe máy X là 1.000 USD thì
doanh nghiệp sẽ hợp thức hóa hợp đồng ngoại thương, hóa đơn thương mại và tờ
khai trị giá đều có giá 1.000 USD. Việc khai báo trùng khớp này sẽ tránh được
nghi ngờ và tham vấn giá từ phía hải quan. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là các