Tác động của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình nông thôn thành phố cần thơ - Pdf 68

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH ---------------

TRẦN THỊ THU PHƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH NÔNG
THÔN Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ THU PHƯƠNG
MSHV: 7701230019

TÁC ĐỘNG CỦA VỐN XÃ HỘI ĐẾN KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
TÍN DỤNG CHÍNH THỨC CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH NÔNG
THÔN Ở THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CHUYÊN NGÀNH CHÍNH SÁCH CÔNG
MÃ SỐ: 603.40402

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN HOÀNG BẢO



Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .....................................

1.5 Phương pháp nghiên cứu ..............................................................................
1.6

Kết cấu đề tài......................................................................

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT ....................................................................
2.1

Lý thuyết về vốn xã hội .....................................................

2.1.1

Các quan điểm về định nghĩa

2.1.2

Đo lường vốn xã hội trong n

2.2

Tín dụng chính thức và khả năng tiếp cận tín dụng ..........

2.2.1

Phân biệt tổ chức tín dụng c

2.2.2


CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................
3.1

Khung phân tích của nghiên cứu ......................................

3.3

Phương pháp chọn mẫu .....................................................

3.4

Mô hình nghiên cứu ..........................................................

3.4.1

Các biến trong mô hình ......

3.4.2

Mô hình nghiên cứu ............


CHƯƠNG 4: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU....................................... 28
4.1 Vốn xã hội ở nông thôn Việt Nam.................................................................................. 28
4.2 Thị trường tín dụng nông thôn Việt Nam.................................................................... 30
4.3 Tổng quan về địa bàn TP Cần Thơ................................................................................. 31
4.4 Thị trường tín dụng trên địa bàn TP Cần Thơ........................................................... 31
Chương 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN............................................ 34
5.1.



DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng...............17
Bảng 2.2. Tóm tắt cách thức đo lường vốn xã hội.............................................................. 19
Bảng 3.1. Tổng hợp các mẫu được phỏng vấn và số mẫu tương ứng.......................23
Bảng 3.2. Tóm tắt và mô tả các biến.......................................................................................... 25
Bảng 5.1. khả năng tiếp cận tín dụng chính thức................................................................. 34
Bảng 5.2. Vốn xã hội của các hộ gia đình............................................................................... 35
Bảng 5.3. Vốn xã hội với khả năng tiếp cận tín dụng....................................................... 36
Bảng 5.4. Đặc điểm các khoản vay............................................................................................. 37
Bảng 5.5. Đặc điểm cá nhân người đi vay.............................................................................. 38
Bảng 5.6. Đặc điểm người đi vay và khả năng tiếp cận tín dụng................................38
Bảng 5.7. Đặc điểm hộ gia đình................................................................................................... 40
Bảng 5.8. Đặc điểm hộ gia đình và khả năng tiếp cận tín dụng................................... 40
Bảng 5.9. Kiểm định Ttest giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc về tiếp cận
tín dụng chính thức.............................................................................................................................. 41
Bảng 5.10. Kiểm định chi-test giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc về tiếp
cận tín dụng chính thức..................................................................................................................... 44
Bảng 5.11. Kết quả mô hình hồi quy Logistic....................................................................... 47
Bảng 5.12. Kết quả mô hình hồi quy tác động của các nhân tố đến độ lớn khoảng

vay................................................................................................................................................................ 53


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CSXH:

Chính sách xã hội

TPCT:

Thành phố Cần Thơ


1

TÓM TẮT
Mục tiêu tổng quát của đề là phân tích tác động của vốn xã hội đến khả
năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình nông thôn tại TP Cần Thơ.
Với mục tiêu tổng quát trên, bài viết đặt ra hai mục tiêu cụ thể là: (1) phân tích
tác động của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia
đình nông thôn trên địa bàn TP Cần Thơ và (2) đánh giá ảnh hưởng của vốn xã
hội đến giá trị khoản vốn vay được từ nguồn tín dụng chính thức của các hộ gia
đình nông thôn. Nguồn số liệu phục vụ cho nghiên cứu được phỏng vấn trực tiếp
từ các hộ gia đình có vay vốn và không có vay vốn tại TP Cần Thơ. Để trả lời cho
hai mục tiêu nghiên cứu, bài viết sử dụng mô hình hồi quy binary logit và mô
hình hồi quy bội theo phương pháp bình phương nhỏ nhất. Với mục tiêu thứ nhất
tác giả sử dụng mô hình hồi quy logit với biến phụ thuộc là xác suất tiếp cận tín
dụng chính thức của các hộ gia đình. Sau khi ước lượng mô hình logit, nghiên
cứu nhận thấy rằng vốn xã hội cụ thể là mạng lưới xã hội chính thức, niềm tin và
người bảo lãnh có ảnh hưởng tích cực đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức
của các nông hộ. Từ kết quả của mục tiêu thứ nhất tác giả tiếp tục nghiên cứu giải
quyết mục tiêu thứ hai. Bài viết sử dụng mô hình hồi quy bội theo phương pháp
bình phương nhỏ nhất để đánh giá ảnh hưởng của vốn xã hội đến giá trị khoản
vốn vay. Kết quả hồi quy cho thấy, các yếu tố của vốn xã hội là mạng lưới xã hội
chính thức, niềm tin và sự hợp tác có quan hệ cùng chiều với lượng vốn vay từ
nguồn tín dụng chính thức. Ngoài ra, bài viết còn chứng minh rằng ngoài vốn xã
hội còn có các yếu tố khác tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức và
giá trị khoản vốn vay là lãi suất và tài sản thế chấp. Kết quả của bài nghiên cứu

không ít khó khăn trở ngại. Ở Việt Nam, Phạm và Izumida (2002) chỉ ra rằng hơn
30% hộ nông dân không thể vay từ người cho vay chính thức. Trong việc cung
cấp tín dụng chính thức cho các hộ gia đình, một số tổ chức tín dụng chính thức
duy trì các thủ tục rườm rà và tốn thời gian cũng góp phần giới hạn các hộ gia
đình nông thôn, đặc biệt là hộ nghèo và hộ có thu nhập thấp. Bên cạnh đó hộ gia
đình phải đối mặt với hai vấn đề chính trong việc vay mượn từ các ngân hàng
thương mại: tài sản thế chấp và không thể vay dựa trên mức thu nhập của họ. Do


3

đó, khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức bị hạn chế đã làm cho các
hộ gia đình phụ thuộc nhiều hơn vào các nguồn tín dụng phi chính thức.
Để tiếp cận được các nguồn tín dụng chính thức, ngoài các loại tài sản dùng
thế chấp như đất đai, nhà cửa, máy móc còn có một loại tài sản khác đó là lòng
tin, mạng lưới xã hội, sự hợp tác và gắn bó của hộ gia đình với cộng đồng mà gọi
chung là vốn xã hội. Ngày càng có nhiều bằng chứng thực nghiệm cho rằng vốn
xã hội có thể giúp các hộ gia đình hoặc những doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông
thôn khắc phục được sự thiếu hụt các loại vốn khác (Annen, 2001; Fafchamps và
Minten, 2002 ). Vậy, thực tế vốn xã hội có tác động như thế nào đến khả năng
tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở khu vực nông thôn? Để trả lời
câu hỏi này, tôi thực hiện đề tài “Tác động của vốn xã hội đến khả năng tiếp
cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình nông thôn ở TP Cần Thơ” dựa
trên số liệu sơ cấp được phỏng vấn từ các hộ gia đình có vay vốn và không có
vay vốn.
Mục tiêu nghiên cứu này là nhằm tìm ra mối quan hệ giữa vốn xã hội và khả
năng tiếp cận tín dụng chính thức của các hộ gia đình ở nông thôn TP Cần Thơ
dựa trên những cơ sở và bằng chứng thuyết phục. Trên cơ sở đó, đề xuất những
gợi ý chính sách giúp cải thiện đời sống của các hộ gia đình nông thôn.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện để trả lời những câu hỏi sau:
(1)

Vốn xã hội có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức của

các nông hộ tại TP Cần Thơ không?
(2)

Vốn xã hội, đặc điểm khoản vay và đặc điểm nông hộ tác động như thế nào

đến khả năng vay vốn của các hộ gia đình nông thôn tại TP Cần Thơ?
(3)

Các yếu tố nào có thể ảnh hưởng đến lượng vốn mà hộ gia đình vay ở các

tổ chức tín dụng chính thức?
(4)

Các giải pháp nào để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng chính thức cho

các hộ gia đình nông thôn tại TP Cần Thơ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-

Không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi địa bàn TP Cần

Thơ.
-

Thời gian: Đề tài sử dụng số liệu sơ cấp được phỏng vấn từ các hộ gia đình

khái quát về vốn xã hội, thị trường tín dụng nông thôn của Việt Nam và tổng
quan về địa bàn nghiên cứu. Chương năm trình bày thống kê mô tả và kết quả
phân tích. Chương sáu rút ra kết luận từ kết quả nghiên cứu, hàm ý chính sách về
cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình nông thôn.


6

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Lý thuyết về vốn xã hội
2.1.1 Các quan điểm về định nghĩa vốn xã hội (social capital)
Vốn xã hội được quan niệm là một loại vốn, bên cạnh các loại vốn khác như
vốn kinh tế vốn văn hóa, vốn con người. Một trong những người đầu tiên tiên
phong trong việc nghiên cứu vốn xã hội là Lyda Judson Hanifan (1916), cho đến
nay khái niệm vốn xã hội (VXH) đã được phát triển với nhiều định nghĩa và cách
giải thích khác nhau. Theo Hanifan (1916), dùng khái niệm vốn xã hội để chỉ tình
thân hữu, sự thông cảm lẫn nhau, cũng như sự tương tác giữa các cá nhân hay gia
đình – những người tạo nên một đơn vị xã hội. Khái niệm này đã được Pierre
Bourdieu mở rộng vào năm 1986: vốn xã hội là toàn bộ nguồn lực (hiện hữu
hoặc tiềm ẩn) xuất phát từ mạng lưới quen biết trực tiếp hay gián tiếp (chẳng hạn
cùng thành viên của một tôn giáo, hoặc cùng sinh quán hay đồng môn) và là một
mạng lưới lâu bền bao gồm các mối liên hệ quen biết nhau và nhận ra nhau.
Bourdieu cho rằng khối lượng vốn xã hội của một cá nhân chính là mối quan hệ
và danh tiếng của cá nhân đó trong xã hội và thực chất nó là mạng lưới xã hội
của cá nhân. Một cá nhân có mạng lưới quen biết (trực tiếp hoặc gián tiếp) lớn thì
sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tìm kiếm và khẳng định vị thế của họ trong xã
hội. Năm 1988, nhà xã hội học người Mỹ James Coleman đưa ra một cách định
nghĩa về vốn xã hội khác với Bourdieu, ông hiểu vốn xã hội bao gồm những đặc
trưng trong đời sống xã hội như sau: các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự
tin cậy trong xã hội (scoail trust) là những cái giúp cho các thành viên có thể

trình nghiên cứu về vốn xã hội gần đây nhất của Durlauf và Fafchamps (2005)
đưa ra một cách định nghĩa về vốn xã hội khác với Bourdieu, ông cho rằng vốn
xã hội là một dạng không chính thức của các tổ chức và các tổ chức dựa trên mối
quan hệ xã hội, mạng lưới, các hiệp hội tạo ra sự chia sẻ kiến thức, tin tưởng lẫn
nhau các chuẩn mực xã hội và các quy tắc bất thành văn.
Mặc dù có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau, tuy nhiên các định
nghĩa và giải thích đều xoay quanh bốn yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau: hệ
thống các mạng lưới xã hội; niềm tin của con người trong xã hội; sự hợp tác và
sự gắn bó với mọi người. Trên cơ sở của các nhà nghiên cứu trước, các yếu tố tạo
thành vốn xã hội được xác định trong bài viết này là mạng lưới xã hội (bao gồm
mạng lưới chính thức và không chính thức), sự tin cậy và sự hợp tác với nhau.
Theo đó, có thể hiểu rằng sự liên kết thực tế giữa các mạng lưới xã hội như các
cá nhân, các nhóm, các tổ chức các hiệp hội với nhau sẽ tạo ra sự hiểu biết lẫn


8

nhau. Lợi ích mà các hộ gia đình nhận được từ vốn xã hội của mình là những
điều kiện thuận lợi để chủ thể tham gia huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn
lực tài chính.
2.1.2 Đo lường vốn xã hội trong nghiên cứu
Đã có nhiều tài liệu thảo luận về các phương pháp tiếp cận khác nhau để đo
lường vốn xã hội. Phải thừa nhận rằng, đo lường vốn xã hội là một công việc rất khó
khăn. Thứ nhất, do sự cùng tồn tại của nhiều định nghĩa về vốn xã hội. Thứ hai, vì
vốn xã hội được dựa trên các chỉ số đại diện vô hình, khó định lượng. Thứ ba, đo
lường vốn xã hội không chỉ đo lường số lượng mà còn đo lường chất lượng của
nguồn vốn xã hội trên nhiều quy mô khác nhau. Trong nghiên cứu này, vốn xã hội
được đo lường bằng các yếu tố hợp thành vốn xã hội bao gồm: mạng lưới xã hội
(mạng lưới chính thức và phi chính thức), niềm tin vào sự hợp tác.


nhóm nào ?” (World Bank, 2003), hay “Bạn đã tham gia (tất cả) các nhóm, câu
lạc bộ, tổ chức nào trong 12 tháng qua ?” (Dave Ruston và Lola Akinrodove,
2002). Chỉ số này cho phép đánh giá sức mạnh và sự đa dạng của mạng lưới các
tổ chức chính thức tại địa phương.
Đo lường mạng lưới xã hội còn sử dụng chỉ số tham gia vào các tổ chức
chính thức, chỉ số tham gia hoạt động xã hội hay sử dụng các chỉ tiêu liên quan
đến sự tương tác và mối liên hệ giữa các cá nhân được thực hiện thông qua việc
gặp gỡ giữa mọi người trong các câu lạc bộ, nhà thờ, các tổ chức và các hiệp hội
khác nhau. Để đánh giá tư cách thành viên của các tổ chức, có thể sử dụng các
chỉ số như tần suất tham gia vào các hoạt động, các cuộc họp ở các tổ chức xã hội
hay cam kết tham gia vào các nhóm địa phương, các nhóm tự nguyện, các tổ
chức, câu lạc bộ, hành động về một vấn đề ở địa phương (Woolcock, 2000). Để
đo lường các chỉ tiêu này có thể sử dụng những câu hỏi như “Bao nhiêu lần trong
12 tháng qua, bất cứ người nào trong gia đình bạn tham gia vào các hoạt động
của nhóm này, ví dụ như tham gia bằng các cuộc họp hoặc làm việc nhóm ?”
(World Bank, 2003), hay “Những ngày này, bạn bỏ ra bao nhiêu thời gian để
giúp đỡ người khác với tư cách là tình nguyện viên hoặc một tổ chức cho bất kỳ
tổ chức từ thiện, câu lạc bộ hay tổ chức khác? (Dave Ruston, 2002). Bên cạnh
đó, các nghiên cứu thực nghiệm về vốn xã hội trong các hoạt động xã hội còn sử
dụng thang đo mức độ về sự kỳ vọng hoặc cảm nhận về mức độ đồng ý, mức độ
quan trọng, mức độ quan tâm, mức độ tình nguyện của các cá nhân tham gia
mạng lưới xã hội để đánh giá chỉ số tham gia hoạt động xã hội.


10

Đối với mạng lưới xã hội chính thức dựa trên quan hệ dân sự, để đo lường
Stone (2001) sử dụng chỉ số tham gia của công dân, chỉ số này được đo lường
bằng mức độ tham gia của cá nhân trong các vấn đề địa phương, nhận thức về
khả năng ảnh hưởng đến các vấn đề về địa phương, và sự tin tưởng trong các tổ

1995). Theo quan niệm của tác giả, các mối quan hệ xã hội tạo ra niềm tin giữa
các cá nhân và các nhóm. Niềm tin tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác, mức
độ tin tưởng trong một cộng đồng càng lớn, khả năng hợp tác càng cao. Coleman
(1988) chỉ ra rằng niềm tin được hình thành bởi sự tương tác lặp đi lặp lại giữa
các cá nhân thông qua uy tín, mạng lưới hoặc sự hiểu biết về cơ chế hình thành
các hành vi và những hành động của những người khác. Như vậy, tin tưởng là
một yếu tố quan trọng của vốn xã hội ở chỗ nó là một nguồn lực mà chúng ta sử
dụng khi xây dựng các mối quan hệ với những người khác và tương trợ lẫn nhau.
Tuy nhiên, niềm tin, sự hợp tác là những khái niệm mang tính chất trừu tượng, vì
vậy, rất khó để đo lường hai yếu tố này.
2.2 Tín dụng chính thức và khả năng tiếp cận tín dụng
2.2.1 Phân biệt tổ chức tín dụng chính thức
Bài viết phân biệt các tổ chức tín dụng chính thức là các Ngân hàng được
quy định tại Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/210. Theo
đó, Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể thực hiện được tất cả các hoạt
động ngân hàng theo quy định của Luật này. Hoạt động ngân hàng là việc kinh
doanh, cung ứng thường xuyên một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi, cấp
tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm
ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã, các tổ chức
tín dụng chính thức là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt
động ngân hàng. Trong bày viết này, các tổ chức tín dụng chính thức bao gồm:
ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, ngân hàng Chính sách Xã hội,
các ngân hàng thương mại nhà nước, và các ngân hàng tư nhân.
Những cá nhân và tổ chức cho vay khác không thuộc nhóm các ngân hàng
quy định trong luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/210 sẽ
không thuộc khu vực tín dụng chính thức.


12

nữ, hay bao gồm những người có trình độ học vấn khác nhau có thể tiếp cận tín


13

dụng tốt hơn bằng cách cung cấp thông tin khác nhau giữa các thành viên về các
nguồn tín dụng sẵn có rộng rãi hơn. Kilpatrick (2002) chỉ ra rằng, vốn xã hội
đóng vai trò tạo điều kiện cũng như là chất xúc tác của quá trình học tập và chia
sẽ trong cộng đồng thông qua sự hỗ trợ của truyền thông. Việc trao đổi kiến thức
được coi là trao đổi thông tin và kỹ năng giữa các bạn bè, hàng xóm, giữa các
thành viên trong gia đình và các thành viên trong nhóm. Sự chia sẻ thông tin kỹ
năng có thể tạo điều kiện cho các cá nhân tham gia đầy đủ các hoạt động trong xã
hội và tạo ra cơ hội tiếp cận các nguồn lực bao gồm các nguồn tín dụng. Bên
cạnh đó, nhờ các giao dịch chia sẻ thông tin và sự tương tác giữa các thành viên
trong cộng đồng, các tổ chức tín dụng có thể giảm được những rủi ro về thông tin
bất cân xứng trong hoạt động cấp vốn vay cho khách hàng. Mặc khác, bên trong
mạng lưới, các mối liên kết, tương tác và đặc biệt là sự tin tưởng giữa các thành
viên giúp những thành viên là khách hàng vay có thể tiếp cận được nguồn tín
dụng dễ dàng hơn. Guiso (2004) khẳng định rằng vốn xã hội thể hiện niềm tin
được coi là có ảnh hưởng mạnh ở nơi mà hành lang pháp lý yếu và người dân có
trình độ thấp. Thêm vào đó, ở nơi có vốn xã hội cao, có thể có nhiều điều kiện
thuận lợi cho việc tiếp cận nhiều thông tin và hiểu rõ về các quy định, cách thức
giao dịch đối với từng tổ chức tín dụng khác nhau. Niềm tin có thể đóng một vai
trò quan trọng trong việc giảm chi phí giao dịch thông qua cung cấp thông tin và
các phương tiện để thực hiện hợp đồng. Bởi vì mọi giao dịch xã hội và kinh tế sẽ
ít rủi ro hơn nếu những đối tác liên hệ ngầm hiểu với nhau theo một chuẩn tắc cư
xử (như tự trọng, sợ mất uy tín gia đình, giữ lời hứa), do vậy những cá nhân trong
các mối quan hệ sẽ không tốn nhiều thời gian và chi phí để có những ràng buộc
bảo đảm cho những mục đích của những quan hệ đạt được theo mong đợi.
Tóm lại, mỗi dạng của vốn xã hội (mạng lưới xã hội, sự hợp tác, lòng tin và

một nơi để vay, cũng như các tổ chức tín dụng ra quyết định chấp nhận cho vay.
Nghiên cứu một trường hợp ở Uganda, Heikkilaa và cộng sự (2009) đã khẳng
định vốn xã hội có tác động tích cực đối với khả năng tiếp cận tín dụng nhưng
nhận thấy mối liên hệ giữa lòng tin của mọi người với nhau và sự tiếp cận các
khoản vay thì không có ý nghĩa. Ajam (2009) khi xem vai trò của vốn xã hội
trong tiếp cận tín dụng vi mô ở Ekiti State đã cho thấy vốn xã hội có ảnh hưởng
tích cực đến khả năng tiếp cận tín dụng vi mô. Trong chỉ số vốn xã hội, các yếu
tố ảnh hưởng mạnh tới khả năng tiếp cận tín dụng vi mô bao gồm các biến là số
lượng hiệp hội mà hộ gia đình là thành viên, lượng tiền mặt và các khoản đóng
góp lao động của các hộ gia đình khi tham gia vào các hiệp hội khác nhau.
Nghiên cứu kết luận rằng, việc tham gia vào các mạng lưới xã hội hay các hiệp


15

hội sẽ giúp các hộ gia đình cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng. Kết quả phân
tích ảnh hưởng của vốn xã hội đến khả năng tiếp cận tín dụng chính thức ở các
nông thôn Thái Lan của Heikkilaa (2009) chỉ ra rằng vốn xã hội ràng buộc, kết
nối có tác động ngược chiều với khả năng bị ràng buộc tiếp cận tín dụng chính
thức. Điều này có nghĩa là một cá nhân thuộc một mạng lưới cá nhân có quan hệ
mạnh và trong mạng lưới này có nhiều thành viên có địa vị xã hội cao thì cá nhân
đó ít có khả năng bị từ chối tiếp cận tín dụng. Lin Xiong và các cộng sự (2010)
nghiên cứu những ảnh hưởng của vốn xã hội về tiếp cận tài chính ngân hàng ở
Trung Quốc. Dựa trên một cuộc khảo sát toàn quốc, phân tích của nhóm tác giả
đã cho thấy các doanh nhân dành nhiều thời gian cho các hoạt động xã hội thì có
nhiều khả năng nhận được một khoản vay từ các ngân hàng thương mại. Ngoài
ra, các tác giả đã chỉ ra rằng những người là thành viên của các đảng chính trị sẽ
có nhiều khả năng tiếp cận các ngân hàng nhà nước hơn. Để có được một khoản
vay từ một loại hình cụ thể của ngân hàng, một thương nhân cần tham gia vào
mạng xã hội có liên quan. Qua nghiên cứu “Vai trò của vốn xã hội trong phát

hướng chọn lựa khu vực tín dụng chính thức để vay. Trong khi Lawal (2009) chỉ
ra rằng kích thước hộ lớn thì khả năng tiếp cận tín dụng của hộ sẽ thấp hơn, còn
Marge (2003, trích bởi Isaac, 2012) kết luận tuổi của một người càng lớn thì uy
tín càng cao, do đó khả năng vay được vốn càng lớn, tuy nhiên khi tuổi của người
đó tăng đến một thời điểm nhất định thì xác suất cho vay vốn sẽ giảm.
Kết quả nghiên cứu củaTrần Thọ Đạt (1998) cho rằng nếu giới tính của
người đi vay là nữ thường ít thích tiếp cận tín dụng chính thức. Họ thích vay từ
những chương trình hỗ trợ vốn của phụ nữ hơn vì thủ tục đơn giản và không cần
phải thế chấp tài sản. Dufhues (2012) khẳng định dân tộc của người đi vay có ý
nghĩa trong nghiên cứu về khả năng vay tín dụng. Nghiên cứu của Issac (2012),
Okten (2004) cho rằng tình trạng hôn nhân và người đi vay là chủ hộ có ảnh
hưởng cùng chiều đến tiếp cận tín dụng nhưng không mạnh. Campbel và
Mankiw (1989) khẳng định rằng thu nhập có tác động dương đến khả năng tiếp
cận tín dụng bởi vì thu nhập cao sẽ đảm bảo được khả năng trả nợ vay. Okent
(2004) đã chứng minh trong nghiên cứu của mình rằng khoảng cách từ nhà đến
tổ chức tín dụng có tác động âm đến khả năng tiếp cận tín dụng bởi vì khoảng
cách càng xa thì sẽ càng làm tăng chi phí giám sát và sàn lọc của các tổ chức tín
dụng. Kết quả nghiên cứu của Ha (1999) chỉ ra rằng tổng diện tích đất sở hữu bởi
nông hộ có quan hệ thuận chiều với khả năng tiếp cận tín dụng của nông hộ,


17

nghĩa là tổng diện tích đất của nông hộ tăng 1 đơn vị thì việc tiếp cận vốn tín
dụng tăng 1 đơn vị.
Bảng 2.1 Tóm tắt các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng
Biến
Vốn xã hội
Mạng lưới xã hội
Niềm tin

dụng (Marge, 2003, trích bởi Isaac,
2012)
Kích thước hộ gia đình lớn thì nhu cầu
tiêu dùng cao ảnh hưởng đến khả năng
trả nợ vay nên khả năng tiếp cận tín
dụng thấp hơn (Lawal, 2009)
Những người có tuổi đời cao, khả năng
tiếp cận tín dụng cao hơn (Zeller, 2001)

Trình độ học vấn cao sẽ làm tăng khả năng
tiếp cận tín dụng (Zeller, 1994).
Hộ gia đình mà chủ hộ đã kết hôn sẽ được tin
tưởng hơn và do đó tăng khả năng tiếp cận
tín dụng (Lensik và Tra, 2007).
Người đi vay là chủ hộ sẽ có xu hướng tiếp
cận tín dụng tốt hơn (Okten,2004).
Xác suất nam giới tiếp cận tín dụng từ các
ngân hàng cao hơn nữ giới (Isaac,2011).
18

Dân tộc
Thu nhập
Khoảng cách
Tổng số đất

Phụ nữ thường vay vốn từ những chương trình
hỗ trợ vốn của phụ nữ hơn (Trần Thọ Đạt,
1998).
Khả năng tiếp cận tín dụng cao hơn khi người
đi vay là thành viên của nhóm dân tộc đa số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status