Thực trạng áp dụng các gói kích cầu - Pdf 68

Thực trạng áp dụng các gói kích cầu
2.1 Đánh giá tổng quan tình hình kinh tế thế giới năm 2008-2009
2.1.1 Thực trạng khủng hoảng
Từ những yếu kém của khu vực tài chính đã đẩy nền kinh tế thế giới rơi vào suy
thoái nghiêm trọng. Bắt đầu từ quý III/2008 nền kinh tế thế giới bắt đầu có biểu hiện của sự
suy giảm kinh tế và sau đó mức độ càng ngày càng trầm trọng ở hầu hết các các nước.
Năm 2008, tăng trưởng kinh tế toàn cầu chỉ đạt 3% thấp hơn nhiều so với
mức 5,2% của năm 2007 và thấp hơn mức dự đoán là 3,9%. Kể từ cuộc đại suy thoái năm
1029-1930, thì đây có thể xem là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất. Đây là một sự sụt
giảm đáng kể đối với nền kinh tế thế giới.
Biểu đồ Tăng trưởng kinh tế Thế giới năm 2005- 2009
(Số liệu được lấy từ Tạp chí Ngân hàng Số 2+3/2010 )
Cụ thể hơn trong 3 quý đầu năm 2009, GDP của một số nước giảm mạnh so với năm
2008, ta có bảng so sánh sau:
1
1
Các nước GDP Các nước GDP
Mỹ
-
3,23%
Thái Lan
-
4,93%
Khu vực Euro -4,6% Malaysia -3,77%
Anh
-
5,37%
Trung Quốc
+7,63
%
Nhật Bản -6,6% Ấn Độ +6,6%

hóa thị trường lớn nhất của Mỹ và có ý nghĩa phản ánh những đặc điểm rủi ro/lợi nhuận
của các công ty hàng đầu) và chỉ số Nasdaq (là chỉ số chứng khoán của tất cả các cổ phiếu
phổ thông và chứng khoán tương tự được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán
NASDAQ và được xây dựng từ hơn 3000 cổ phiếu bộ phận bao gồm các cổ phiếu của các
công ty Mỹ và công ty nước Ngoài, nên chỉ số Nasdaq không chỉ là chỉ số cổ phiếu của
chứng khoán Mỹ ) cũng có mức trượt giảm trên 10% sau 5 ngày – mức giảm đi vào lịch sử
ở thị trường phát triển nhất thế giới này. Tóm lại giá trị vốn hóa toàn thị trường chứng
khoán (cổ phiếu) Mỹ mất khoảng 7.500 tỷ USD - mức giảm lớn nhất trong lịch sử thị
trường này.
Nguồn: World-Crisis.net

3
3
Nhiều ngân hàng Mỹ phá sản, hàng trăm ngân hàng nộp đơn xin hưởng “Chương
trình hỗ trợ “ của chính phủ Mỹ. Giữa năm 2007, những tổ chức tài chính đầu tiên của Hoa
Kỳ liên quan đến tín dụng nhà ở thứ cấp bị phá sản. Sự đổ vỡ tài chính lên đến cực điểm
vào tháng 10/2008 khi ngay cả những ngân hàng khổng lồ và lâu đời từng sống sót qua
những cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế trước đây, như Lehman Brothers, Morgan
Stanley, Citigroup, AIG, … cũng lâm nạn. Tình trạng đói tín dụng xuất hiện làm cho khu
vực kinh tế thực của Hoa Kỳ cũng rơi vào tình thế khó khăn, điển hình là cuộc Khủng
hoảng ngành chế tạo ô tô Hoa Kỳ 2008-2010. Northern Rock và Bradford và Bingley plc
của Anh cũng lâm vào tình trạng đột biến rút tiền gửi và hậu quả là phải chịu quốc hữu hóa.
Các ngân hàng khác phải chịu đổi chủ sở hữu bao gồm Catholic Building Society, Alliance
& Leicester. London Scottish Bank và Dunfermline Building Society phải chịu sự giám sát
đặc biệt của Chính phủ Anh…
Khi hệ thống Ngân hàng yếu đi thì việc cho vay sẽ bị hạn chế, thu nợ khó, khiến cho
lãi suất cho vay cũng tăng cao, điều này dẫn đến chi phí sản xuất tăng và đương nhiên giá
cả hàng hóa cũng tăng cao, khi đó hàng tồn kho của các doanh nghiệp càng nhiều khiến
lượng công nhân mất việc làm tăng lên nhanh chóng, lúc này lạm phát và thất nghiệp của
các nước cũng sẽ tăng.

đòi hỏi chi tiêu rất lớn, gây thâm hụt ngân sách với quy mô chưa từng có. Khi ngân sách
thâm hụt thì nguồn vốn nước ngoài vào Mỹ sẽ tăng làm cho tổng nguồn vốn cũng tăng, lúc
này chính phủ Mỹ đã cho vay dưới tiêu chuẩn tín dụng nhiều và dễ dãi trong việc cho vay
bất động sản khiến cho rủi ro tăng cao. Và thực tế điều này đã vô tình tạo ra các bong bóng
tài chính khổng lồ. Bên cạnh đó chính phủ Mỹ còn phát triển nhanh nhiều trái phiếu cổ
phiếu có nguồn gốc bất động sản tạo ra những rủi ro lớn cho thị trường cho Ngân hàng và
dân chúng. Những hoạt động trên làm cho thị trường tài chính và thị trường bất động sản
sôi lên và nổ tung. Tại Mỹ Sự sụp đổ tài chính phố Wall là khởi đầu cho cuộc khủng hoảng.
Tiếp theo đó bong bóng thị trường nhà ở vỡ khiến các cá nhân gặp khó khăn trong việc trả
nợ. Nhiều tổ chức tín dụng cho vay mua nhà gặp khó khăn vì không thu hồi được nợ. Giá
nhà ở giảm nhanh khiến cho các loại giấy nợ đảm bảo bằng tài sản và chứng khoán đảm
bảo bằng tài sản thế chấp do các tổ chức tài chính phát hành bị giảm giá nghiêm trọng.
Cuộc khủng hoảng nhanh chóng lan ra các nước khác và ảnh hưởng một cách mạnh mẽ.
Bởi lẽ Mỹ là một cường quốc kinh tế vững mạnh, đứng đầu trên thế giới về nhiều mặt như
công nghiệp, nông nghiệp, khoa học công nghệ…, hơn nữa nó cũng là một thị trường nóng
đối với thế giới.
Tuy nhiên xét đến tận cùng gốc rễ thì cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ vấn
đề về mô hình và hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa. Do chính phủ Mỹ đã quá tin vào lý
thuyết tự do hoá tài chính thị trường tự điều tiết và tiêu dùng cá nhân. Bên cạnh đó việc
thiếu sự kiểm soát quản lý và điều tiết của Nhà nước và việc đưa ra những chính sách sai
lầm trong từng thời kỳ cũng góp phần đẩy nền kinh tế Mỹ bên bờ vực thẳm.
Cả 2 nguyên nhân đều bắt nguồn từ một nước có nền kinh tế mạnh nhất thế giới có
quan hệ sâu rộng và chặt chẽ đến các nền kinh tế nên đã khiến cho các nước và khu vực
trên thế giới cũng lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng và Việt Nam cũng không phải
là trường hợp ngoại lệ.
2.1.3 Các gói kích cầu của các nước
Ở Mỹ, 17/2/2009 Barack Obama đã ký đạo luật American Recovery and
Reinvestment Act cho phép chính phủ Mỹ thực hiện gói kích thích trị giá 787 tỷ đôla. Gói
kích thích 787 tỷ USD của Mỹ bao gồm: 288 tỷ USD cho miễn giảm thuế, 144 tỷ USD cho
cứu trợ tài chính Nhà nước, 111 tỷ USD cho xây dựng cơ sở hạ tầng, 81 tỷ USD cho việc

Số
tiền
(tỷ
USD)
%
GDP
Quố
c gia
Số
tiền
(tỷ
USD)
%
GDP
Mỹ 787 5,5%
Ấn
Độ
18,7
1,5
5%
Trun
g Quốc
586
13,5
%
Aust
ralia
10
1,0
%

2,0
%
Pháp 24,5
0,85
%
Thụ
y Sĩ
1,3
0,2
6%
Tây 11 0,69 Gruz 2,2 17
9
9
Ban Nha % ia %
2.2 Việt Nam
2.2.1 Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đến nền kinh tế Việt
Nam
Trong các nền kinh tế phát triển, hệ thống tài chính là huyết mạch của nền kinh tế
nên khi gặp khủng hoảng nó sẽ làm tất cả các hoạt động kinh tế khác đình trệ. Với Việt
Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển- với tăng trưởng dựa tới gần 60% vào vốn
đầu tư, có định hướng xuất khẩu (xuất khẩu so với GDP lên tới 70%), vừa mới gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới WTO được 2 năm (1/11/2007), lại vừa trải qua lạm phát, nhập
siêu cao..., nên cuộc khủng hoảng trên thế giới đã tác động đến Việt Nam, tuy có chậm hơn
một số nước nhưng cũng rất lớn và khá rộng.
Thứ nhất, khi hoạt động thương mại của thế giới suy giảm thì hoạt động xuất nhập
khẩu của Việt Nam cũng gặp khó khăn lớn và giảm về cả số lượng lẫn giá cả do tổng cầu
thế giới giảm và do cạnh tranh trên thế giới. Xuất khẩu có tình trạng tháng sau thấp hơn
tháng trước bắt đầu từ tháng 8/2008 và gặp khó khăn nhất vào năm 2009. Theo Bộ Công
Thương, kim ngạch xuất khẩu tháng 1/2009 ước tính chỉ đạt 3,8 tỉ USD; giảm 18,6% so với
tháng 12/2008 và giảm 24,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong năm 2008, giá cả các loại

trường tài chính, tiền tệ có nhiều biến động, tình hình dịch bệnh cúm A- H1N1, bão lụt dữ
dội trên diện rộng ở khu vực miền Trung và Tây Nguyên cũng đã làm ảnh hưởng lớn tới
ngành du lịch Việt Nam.
Minh chứng tiếp đó là theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đến ngày 31/12/2009
kiều hối chuyển về đạt 6,283 tỉ USD, giảm 12,8% so với năm 2008. Với lao động ở nước
ngoài mối năm gửi về nước trên 300 tỷ USD, đây là một nguồn tài chính quan trọng đối với
các nước đang phát triển. Tiền do người thân đang làm việc ở nước ngoài gửi về thường là
nguồn thu nhập quan trọng của gia đình, nó hỗ trợ việc tiêu dùng cá nhân và đầu tư vào nhà
cửa.
Suy giảm kinh tế toàn cầu trong hai năm 2008 và 2009 đã làm giảm lượng kiều hối
của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, vì suy thoái kinh tế làm giảm nhu cầu
11
11
lao động nhập khẩu. Nên khi suy giảm kinh tế xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới khiến
kinh tế của các nước đông kiều bào Việt Nam cũng sút giảm dẫn đến tỉ lệ kiều bào thất
nghiệp gia tăng. Vì thế lượng ngoại tệ do kiều bào gửi về cũng giảm đáng kể.
Theo tính toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cùng với việc giảm lượng kiều
hối và nguồn thu từ du lịch, các nguồn cân đối ngoại tệ của VN trong năm 2009 như xuất
khẩu dự báo giảm 9,9%, FDI giảm mạnh và du lịch sụt giảm sẽ ảnh hưởng đáng kể đến cân
đối ngoại hối.
Thứ ba, các tổ chức tài chính của Việt Nam gặp khó khăn trong giai đoạn này.
Các ngân hàng đã hạn chế việc cho vay, và do không thu được nợ nên đành phải tăng lãi
suất cho vay. Điều này khiến các Doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn trong việc sản
xuất, nên giá cả hàng hóa leo thang khiến lạm phát và thất nghiệp cũng tăng cao. Ước tính
chỉ số lạm phát trung bình năm 2008 là xấp xỉ 25%. Nhìn chung hệ thống tài chính ngân
sách nguồn thu giảm rõ rệt qua lãi doanh nghiệp và thuế của dân và tổ chức kinh tế giảm.
Chỉ số lạm phát của Việt Nam
12
12
Đồ thị giá thép Việt Nam năm 2008

Trích đoạn Đối với Doanh nghiệp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status