THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM - Pdf 68

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
Ở VIỆT NAM
2.1 Thực trạng doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2008.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt
Nam.
Theo các tài liệu lịch sử, DNNVV ở Việt Nam đã được hình thành
cùng với quá trình ra đời của nghề thủ công và làng nghề truyền thống
trong nông thôn. Những nghề và làng nghề thủ công truyền thống quan
trọng và nổi tiếng phần lớn ra đời từ rất lâu, vài trăm đến hàng nghìn
năm ở đồng bằng sông Hồng rồi sau đó lan ra cả nước. Hình thức tổ
chức sản xuất kinh doanh của nghề thủ công và làng nghề truyền thống
trước đây chủ yếu là kinh tế hộ gia đình hoặc liên gia đình trong từng
làng xã, vừa mang tính chất sản xuất hàng hóa vừa mang tính sáng tạo
nghệ thuật.
Thời kỳ năm 1954 đến năm 1975, DNNVV ở hai miền có sự phát
triển khác nhau. Ở miền Bắc tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, hàng
loạt xí nghiệp quốc doanh có quy mô lớn ra đời, đồng thời các xí nghiệp
quốc doanh của cấp huyện được phát triển mạnh nên doanh nghiệp nhỏ
và vừa của tư nhan tiến hành cải tạo, chuyển đổi hình thức sở hữu
hoặc xóa bỏ. Còn ở miền Nam, một mặt các cơ sở công nghiệp lớn, chủ
yếu tập trung ở các thành phố lớn như Sài Gòn, Đồng Nai, Cân Thơ, Đà
Nẵng được phát triển, mặt khác các DNNVV thuộc sở hữu tư nhân,
cũng được khuyến khích phát triển mạnh.
Sau ngày đất nước thống nhất, trong thời kỳ 1976 – 1985, các
DNNVV ở miền Nam hoặc là được quốc hữu hóa, hoặc là được cải tạo,
xóa bỏ. DNNVV ngoài quốc doanh không được khuyến khích phát triển,
phải hoạt động dưới hình thức hộ gia đình, tổ hợp, hợp tác xã, công tư
hợp danh… Cho tới năm 1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng Sản
Việt Nam đã đưa ra chủ chương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần, thừa nhận sự tồn tại lâu dài của các hình thức sở hữu khác
nhau. Chủ trương này đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng loạt cơ sở

Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để quản lý nhà nước và điều phối
các hoạt động của Chính phủ liên quan tới xúc tiến phát triển DNNVV.
Năm 2003, Hội đồng Khuyến khích Phát triển DNNVV được thành lập
theo Quyết định số 12/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm
tham vấn cho Thủ tướng về cơ chế chính sách khuyến khích sự phát
triển của DNNVV ở Việt Nam.
Giai đoạn này, DNNVV đóng góp khoảng 26% tổng sản phẩm xã
hội (GDP), 31% gía trị tổng sản lượng công nghiệp, 78% tổng mức bán
lẻ, 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa, tạo ra khoảng 49% việc làm
phi nôn nghiệp ở nông thôn, khoảng 25 – 26% lực lượng lao động trong
cả nước.
Từ năm 2005 trở lại đây, cơ chế chính sách đối với các DNNVV tiếp
tục được hoàn thiện. Luật Doanh nghiệp năm 2005 (được Quốc hội
thông qua vào ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ tháng 7/2006) đã kế
thừa những thành công của Luật Doanh nghiệp 2000, đồng thời phát
triển thêm nhiều mặt. Luật Doanh nghiệp 2005 đã tạo ra khung pháp lý
cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, bao gồm cả DNNVV và doanh
nghiệp không thuộc nhóm DNNVV, công ty trong và ngoài nước, công ty
Nhà nước và tư nhân, hoạt động trên cùng một sân chơi.
Bên cạnh đó, Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2006 – 2010 ra
đời đã xác định mục tiêu quan trọng, định hướng cho các hoạt động
phát triển DNNVV và tạo ra một cấu trúc thông qua đó phối hợp các
hoạt động để đạt hiệu quả tối ưu, nhằm hỗ trợ cho việc hình thành một
khu vực DNNVV lớn mạnh ở Việt Nam. Kế hoạch xác định mục tiêu tổng
thể cho phát triển DNNVV là: “Đẩy nhanh tốc độ phát triẻn DNNVV, tạo
môi trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc
gia, các DNNVV đóng góp ngày càng cao vào tăng trưởng kinh tế”
2.1.2 Số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian qua.
Luật doanh nghiệp 2000 là văn bản pháp lý quan trọng mở ra sự phát
triển của các loại hình doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng. Thời

Đây là một bước tiến vượt bậc của DNNVV của Việt Nam về mặt số
lượng.
Bảng 2: Số lượng và tỷ lệ các doanh nghiệp nhỏ và vừa xét theo
quy mô lao động giai đoạn 2000 – 2006.
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng số doanh nghiệp 42.288 51.680 62.908 72.012 91.756 112.850 131.332
DNNVV 38.897 49.062 59.853 68.687 88.222 109.336 127.600
Tỷ lệ (%) 94,34 94,93 95,14 95,38 96,12 96,89 97,12
Nguồn: Trung tâm Thông tin doanh nghiệp - Cục phát triển doanh nghiệp
Phân chia số lượng các DNNVV theo hình thức sở hữu ta có thể
thấy rằng, các DNNVV của Việt Nam không chỉ chủ yếu là các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh mà một phần không nhỏ trong đó là các
DNNN và doanh nghiệp có vốn ĐTNN. Nhìn vào Bảng 2, ta thấy các
DNNVV là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm một tỷ lệ lớn trong
tổng số các DNNVV (từ 88% - 90%), hơn nữa tỷ lệ này ngày càng tăng,
nếu như năm 2000 chiếm 88,67% thì đến năm 2006 đã là 95,51%. Bên
cạnh sự tăng lên trong tỷ trọng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
đó là sự giảm sút về tỷ trọng của các DNNN (năm 2000 chiếm 10,78%
thì đến năm 2006 giảm xuống còn 1,93%). Các DNNVV là doanh nghiệp
có vốn ĐTNN chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số các DNNVV, tỷ lệ này có
xu hướng tăng lên song chưa thật sự rõ rệt, bởi vẫn có những năm giảm
sút.
Bảng 3: Số lượng và tỷ lệ các doanh nghiệp nhỏ và vừa xét theo
quy mô lao động và hình thức sở hữu giai đoạn 2001 – 2006.
Số lượng DNNVV phân theo quy mô lao động và hình thức sở hữu giai đoạn 2000 - 2006
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
DNNN là DNNVV 4.194 3.752 3.653 3.145 2.959 2.675 2.464
Doanh nghiệp ngoài
quốc doanh là
DNNVV

Từ 200 – 299 lao động 1.124 1.193 1.354 1.407 1.535 1.626 1.737
Tổng số 39.897 49.062 59.831 68.687 88.222 109.336 127.600
Nguồn: Trung tâm Thông tin doanh nghiệp - Cục phát triển doanh nghiệp
Nhìn vào Bảng 3 ta có thể thấy được rằng quy mô lao động của các
DNNVV thường từ 10 đến 49 lao động . Số lượng các doanh nghiệp có
số lao động dưới 49 người chiếm tới 90% tổng số DNNVV ở Việt Nam.
Trong khi đó, các doanh nghiệp có số lao động cao (từ 200 – 299) chiếm
một tỷ lệ nhỏ (dưới 1%).
2.1.3.2 Cơ cấu theo quy mô vốn.
Căn cứ theo Nghị định 90, phân chia các DNNVV theo quy mô vốn
(dưới 10 tỷ VND) ta có được bảng sau.
Bảng 5: Số lượng và tỷ lệ các doanh nghiệp nhỏ và vừa xét theo
quy mô vốn giai đoạn 2000 – 2006.
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tổng số doanh nghiệp 42.288 51.680 62.908 72.012 91.756 112.850 131.332
DNNVV 36.305 44.670 54.216 61.977 79.420 98.205 114.340
Tỷ lệ (%) 85,85 84,44 86,18 86,06 86,56 87,02 87,06
Nguồn: Trung tâm Thông tin doanh nghiệp - Cục phát triển doanh nghiệp
Cũng giống như tiêu chí về quy mô lao động, các DNNVV vẫn
chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt
Nam với tỷ lệ 85% - 87%. Số lượng các DNNVV xét theo tiêu chí này
cũng liên tục tăng qua các năm, năm 2000 chỉ có 36.305 doanh nghiệp
thì năm 2006 đã là 114.340 doanh nghiệp.
Bảng 6: Số lượng và tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa xét theo quy
mô vốn và hình thức sở hữu giai đoạn 2000 – 2006.
Số lượng DNNVV phân theo quy mô vốn và hình thức sở hữu giai đoạn 2000 - 2006
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
DNNN là DNNVV 2.496 2.040 1.763 1.346 1.091 874 740
Doanh nghiệp ngoài
quốc doanh là DNNVV

Nguồn: Trung tâm Thông tin doanh nghiệp - Cục phát triển doanh nghiệp
Một điều đáng chú ý đó là, các DNNVV ở Việt Nam mặc dù đông về
số lượng nhưng quy mô về vốn lại rất nhỏ bé. Nhìn vào Bảng 6 có thể
nhận thấy rằng đa phần các doanh nghiệp có số vốn dưới 0,5 tỷ đồng và
từ 1- 5 tỷ đồng; trong khi số doanh nghiệp có nguồn vốn lớn từ 5 – 10 tỷ
đồng lại rất ít. Kết quả này cho ta thấy được một mặt các chính sách
thông thoáng của Chính phủ đã khuyến khích việc thành lập các doanh
nghiệp, mặt khác với đa phần các DNNVV có số vốn hạn chế như vậy
thì các DNNVV sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với các
doanh nghiệp khác không phải là DNNVV và sẽ chịu ảnh hưởng lớn của
khủng hoảng kinh tế hiện nay.
2.1.3.3 Cơ cấu theo hình thức pháp lý của doanh nghiệp.
Hiện nay, ở Việt Nam các DNNVV thường tồn tại dưới các loại hình
doanh nghiệp như sau:
- Doanh nghiệp tư nhân (DNTN).
- Công ty trách nhiệm hữu hạn (Cty TNHH).
- Công ty cổ phần (CTCP).
- Công ty hợp danh (CTHD).
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (Cty TNHH 1Tv).
- Doanh nghiệp nước ngoài (DNNN).
Số lượng của các DNNVV phân theo loại hình doanh nghiệp được
trình bày ở bảng dưới đây.
Bảng 8: Số lượng đăng ký của doanh nghiệp phân theo hình thức
pháp lý giai đoạn 2001 – 2006.
2001 2002 % so
với
2001
2003 % so
với
2002

lập và đăng ký kinh doanh thì trong năm 2006, tỷ lệ này lần lượt là 22%,
55,3%, 20,7% và trong năm 2007 là 17,2%, 43,8%,25%.
2.1.3.4 Cơ cấu theo ngành nghề kinh doanh.
Theo ngành nghề kinh doanh thì các DNNVV ở Việt Nam được chia
thành các ngành sau:
- Nông nghiệp và lâm nghiệp.
- Thủy sản.
- Công nghiệp khai thác mỏ.
- Công nghiệp chế biến.
- Xây dựng.
- Thương mại.
- Khách sạn và nhà hàng.
- Giao thông vận tải.
- Các ngành khác.
Thống kê về các DNNVV phân theo ngành nghề kinh doanh được
thể hiện ở bảng dưới đây.
Bảng 9: Số lượng và tỷ lệ doanh nghiệp phân theo ngành, nghề
kinh doanh giai đoạn 2000 – 2006.
Số lượng doanh nghiệp phân theo ngành, nghề kinh doanh
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Nông nghiệp và lâm nghiệp 925 875 972 939 1.015 1.071 1.092
Thủy sản 2.453 2.563 2.407 1.468 1.354 1.358 1.307
Công nghiệp khai thác mỏ 427 634 879 1.029 1.193 1.277 1.369
Công nghiệp chế biến 10.399 12.353 14.794 16.916 20.531 24.017 26.863
Xây dựng 3.999 5.693 7.845 9.717 12.315 15.252 17.783
Thương mại 17.547 20.722 24.794 28.369 36.090 44.656 52.505
Khách sạn và nhà hàng 1.919 2.405 2.843 3.287 3.957 4.730 5.116
Giao thông vận tải 1.796 2.545 3.242 3.976 5.351 6.754 7.695
Các ngành khác 2.823 3.890 5.132 6.311 9.950 13.835 17.602
Tỷ lệ %

Ngãi, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế.
- Tây Nguyên (4 tỉnh): Đắk Lak, Đắk Nông, Kon Tum, Gia Lai.
- Vùng Đông Nam Bộ và kinh tế trọng điểm phía Nam (8 tỉnh thành):
Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Đồng Nai,
Lâm Đồng, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh.
- Đồng bằng sông Cửu Long (13 tỉnh thành): An Giang, Bạc Liêu,
Bến Tre, Cần Thơ, Đông Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Cà
Mau, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long.
Dựa theo số liệu của Trung tâm thông tin Doanh Nghiệp – Cục Phát
triển Doanh nghiệp, Bộ Kế hoach và Đầu tư, ta có được biểu đồ phân bố
các DNNVV ở các vùng trong cả nước như sau.
Bảng 10: Biểu đồ phân bố các doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký
kinh doanh theo các vùng kinh tế trong cả nước năm 2007.
Nguồn: Trung tâm Thông tin doanh nghiệp - Cục phát triển doanh
nghiệp
Các DNNVV ở Việt Nam không phân bố một cách đồng đều, phần
lớn các DNNVV tập trung ở vùng Đông Nam Bộ và khu kinh tế trọng
điểm phía Nam, sau đến là vùng Đồng bằng sông Hồng. Tây Nguyên là
khu vực có ít DNNVV nhất trong cả nước. Giữa các tỉnh thành với nhau
cũng có sự khác biệt rất lớn. Ví dụ, Thành phố Hồ Chí Minh có số lượng
doanh nghiệp đăng ký kinh doanh nhiều nhất, với 17.313 doanh nghiệp
trong khi đó Bắc Kạn chỉ có 71 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.
Ngoài ra, theo thống kê của Trung tâm Thông tin Doanh nghiệp có
tới gần 55% doanh nghiệp đăng ký kinh doanh tập trung ở 3 thành phố
lớn là: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội , Hải Phòng. Đây cũng là 3 địa
phương dẫn đầu trong cả nước về số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh
trong giai đoạn 2000 – 2007.
Bảng 11: Địa phương có trên 3.000 doanh nghiệp đăng ký kinh
doanh giai đoạn 2000 – 2007.
STT Địa phương Số lượng doanh nghiệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status