SỞ LAO ĐỘNG- THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
TỈNH QUẢNG NINH
TÀI LIỆU TẬP HUẤN
CÔNG TÁC BẢO VỆ, CHĂM SÓC TRẺ EM
DÀNH CHO CÁN BỘ GIÁO DỤC
Quảng Ninh, tháng 5 năm 2018
1
MỤC LỤC TÀI LIỆU
Phần I : LUẬT TRẺ EM
Phần II: KIẾN THỨC VỀ BẢO VỆ TRẺ EM
- Phòng chống xâm hại tình dục trẻ em
- Phòng chống bạo lực trẻ em
- Phòng tránh tai nạn giao thông
- Phòng chống đuối nước
Phần III: BẢO VỆ TRẺ EM TRÊN MÔI TRƯỜNG MẠNG VÀ TRONG THẾ
GIỚI CÔNG NGHỆ SỐ
Phần IV: ĐỊA CHỈ, DỊCH VỤ TƯ VẤN, TRỢ GIÚP TRẺ EM CẦN SỰ BẢO VỆ
Phần V: CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC CHO TRẺ EM
Phần VI: MỘT SỐ KỸ NĂNG CẦN THIẾT KHI LÀM VIỆC VỚI TRẺ EM
Phần VII: MỘT SỐ MÔ HÌNH VỀ BẢO VỆ, CHĂM SÓC, GIÁO DỤC TRẺ EM
TRONG TRƯỜNG HỌC
2
Phần I
LUẬT TRẺ EM
5. Sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc trẻ em
thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác.
6. Cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình.
3
7. Không cung cấp hoặc che giấu, ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em
bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bị bạo lực cho gia đình, cơ sở giáo
dục, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.
8. Kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc Điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình,
giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em.
9. Bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây
nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em.
10. Cung cấp dịch vụ Internet và các dịch vụ khác; sản xuất, sao chép, lưu
hành, vận hành, phát tán, sở hữu, vận chuyển, tàng trữ, kinh doanh xuất bản phẩm,
đồ chơi, trò chơi và những sản phẩm khác phục vụ đối tượng trẻ em nhưng có nội
dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em.
11. Công bố, Tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em
mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người
giám hộ của trẻ em.
12. Lợi dụng việc nhận chăm sóc thay thế trẻ em để xâm hại trẻ em; lợi dụng
chế độ, chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ, giúp đỡ của tổ chức, cá
nhân dành cho trẻ em để trục lợi.
13. Đặt cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô nhiễm môi
trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ gần cơ sở cung cấp dịch vụ
bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, Điểm vui chơi, giải trí của trẻ em hoặc
đặt cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa, Điểm vui
chơi, giải trí của trẻ em gần cơ sở dịch vụ, cơ sở sản xuất, kho chứa hàng hóa gây ô
nhiễm môi trường, độc hại, có nguy cơ trực tiếp phát sinh cháy, nổ.
hợp với độ tuổi và văn hóa dân tộc; được thừa nhận các quan hệ gia đình.
2. Trẻ em có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc, phát huy truyền
thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc mình.
Điều 19. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Trẻ em có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo
nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Điều 20. Quyền về tài sản
Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản theo quy
định của pháp luật.
Điều 21. Quyền bí mật đời sống riêng tư
1. Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và
bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
2. Trẻ em được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín,
điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và
chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư.
Điều 22. Quyền được sống chung với cha, mẹ
Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật
hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp
xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em.
Điều 23. Quyền được đoàn tụ, liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ
Trẻ em có quyền được biết cha đẻ, mẹ đẻ, trừ trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích
tốt nhất của trẻ em; được duy trì mối liên hệ hoặc tiếp xúc với cả cha và mẹ khi trẻ
em, cha, mẹ cư trú ở các quốc gia khác nhau hoặc khi bị giam giữ, trục xuất; được
tạo Điều kiện thuận lợi cho việc xuất cảnh, nhập cảnh để đoàn tụ với cha, mẹ; được
bảo vệ không bị đưa ra nước ngoài trái quy định của pháp luật; được cung cấp thông
tin khi cha, mẹ bị mất tích.
Điều 24. Quyền được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi
trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm,
xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác.
Điều 31. Quyền được bảo vệ khi gặp thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi
trường, xung đột vũ trang
Trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để thoát
khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang.
Điều 32. Quyền được bảo đảm an sinh xã hội
Trẻ em là công dân Việt Nam được bảo đảm an sinh xã hội theo quy định của
pháp luật phù hợp với Điều kiện kinh tế - xã hội nơi trẻ em sinh sống và Điều kiện
của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em.
Điều 33. Quyền được tiếp cận thông tin và tham gia hoạt động xã hội
Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền
tìm kiếm, thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và
6
được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu,
năng lực của trẻ em.
Điều 34. Quyền được bày tỏ ý kiến và hội họp
Trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến
trẻ em; được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ
trưởng thành và sự phát triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia
đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng.
Điều 35. Quyền của trẻ em khuyết tật
Trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của
người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc
biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội.
Điều 36. Quyền của trẻ em không quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn
Trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo
vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật
1. Yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, có ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; tôn trọng truyền thống lịch sử dân tộc; giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy
phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của quê hương, đất nước.
2. Tuân thủ và chấp hành pháp luật; đoàn kết, hợp tác, giao lưu với bạn bè, trẻ
em quốc tế phù hợp với độ tuổi và từng giai đoạn phát triển của trẻ em.
Điều 41. Bổn phận của trẻ em với bản thân
1. Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm,
tài sản của bản thân.
2. Sống trung thực, khiêm tốn; giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể.
3. Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học, không rời bỏ gia đình sống lang thang.
4. Không đánh bạc; không mua, bán, sử dụng rượu, bia, thuốc lá và chất gây
nghiện, chất kích thích khác.
5. Không sử dụng, trao đổi sản phẩm có nội dung kích động bạo lực, đồi trụy;
không sử dụng đồ chơi hoặc chơi trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnh của
bản thân.
TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC, CHA MẸ, NGƯỜI NUÔI
DƯỠNG TRẺ EM
Điều 9. Trách nhiệm phối hợp trong việc thực hiện quyền và bổn phận của
trẻ em
2. Cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân có trách nhiệm bảo đảm
thực hiện quyền và bổn phận của trẻ em; hỗ trợ, tạo Điều kiện để trẻ em thực hiện
quyền và bổn phận của mình theo quy định của pháp luật; phối hợp, trao đổi thông
tin trong quá trình thực hiện.
Điều 44. Bảo đảm về giáo dục cho trẻ em
1. Nhà nước có chính sách hỗ trợ, bảo đảm mọi trẻ em được đi học, giảm thiểu
tình trạng trẻ em bỏ học; có chính sách hỗ trợ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em
thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em đang sinh sống tại các
xã biên giới, miền núi, hải đảo và các xã có Điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn được tiếp cận giáo dục phổ cập, giáo dục hòa nhập, được học nghề và giới
thiệu việc làm phù hợp với độ tuổi và pháp luật về lao động.
hoặc gây tổn hại, mức độ nguy cơ gây tổn hại đối với trẻ em.
3. Chính phủ thiết lập tổng đài điện thoại quốc gia thường trực để tiếp nhận, xử
lý thông tin, thông báo, tố giác nguy cơ, hành vi xâm hại trẻ em; quy định quy trình
tiếp nhận và xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em.
Điều 54. Trách nhiệm bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng
1. Cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục và bảo vệ
trẻ em khi tham gia môi trường mạng dưới mọi hình thức; cha, mẹ, giáo viên và
người chăm sóc trẻ em có trách nhiệm giáo dục kiến thức, hướng dẫn kỹ năng để trẻ
em biết tự bảo vệ mình khi tham gia môi trường mạng.
Điều 76. Bảo đảm sự tham gia của trẻ em trong nhà trường và cơ sở giáo
dục khác
Nhà trường, cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm sau đây:
1. Tổ chức và tạo Điều kiện để trẻ em được tham gia các hoạt động Đội thiếu
niên tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, câu lạc bộ,
đội, nhóm của trẻ em trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác; các hoạt động ngoại
khóa, hoạt động xã hội;
2. Cung cấp thông tin chính sách, pháp luật và quy định về giáo dục có liên
quan đến học sinh; công khai thông tin về kế hoạch học tập và rèn luyện, chế độ
nuôi dưỡng và các Khoản đóng góp theo quy định;
3. Tạo Điều kiện để trẻ em được kiến nghị, bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về chất
lượng dạy và học;quyền, lợi ích chính đáng của trẻ em trong môi trường giáo dục và
những vấn đề trẻ em quan tâm;
4. Tiếp nhận ý kiến, kiến nghị, nguyện vọng của trẻ em, giải quyết theo phạm
vi trách nhiệm được giao hoặc chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để xem
xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết đến trẻ em.
Điều 77. Tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em
9
1. Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức đại diện tiếng
hồi đầy đủ, kịp thời, khách quan, trung thực.
2. Hằng năm, Hội đồng nhân dân các cấp chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ
chức liên quan có trách nhiệm tổ chức gặp mặt, đối thoại, lắng nghe ý kiến, nguyện
vọng của trẻ em về các vấn đề trẻ em quan tâm.
10
Phần II
KIẾN THỨC VỀ BẢO VỆ TRẺ EM
PHÒNG CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM
Ở Việt Nam, theo báo cáo của Tổng cục Cảnh sát Phòng, chống tội phạm, Bộ
Công an, mỗi năm có 1.600-1.800 vụ xâm hại trẻ em. Tuy nhiên, đây chỉ là phần nổi
của tảng băng chìm, trong đó 65% là số vụ xâm hại tình dục mà trẻ em là nạn nhân.
Đa số nạn nhân từ 12 đến 15 tuổi; 13,2% số vụ xâm hại tình dục có nạn nhân là trẻ
em dưới 6 tuổi, có cả trẻ em 18 tháng tuổi đã bị XHTD tổn thương nghiêm trọng.
1. Khái niệm
- Xâm hại trẻ em là hành vi gây tổn hại về thể chất, tình cảm, tâm lý, danh dự,
nhân phẩm của trẻ em dưới các hình thức bạo lực, bóc lột, xâm hại tình dục, mua
bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hình thức gây tổn hại khác.
- Xâm hại tình dục trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi
kéo, dụ dỗ trẻ em tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp
dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào Mục đích mại
dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức.
- Xâm hại tình dục có thể xảy ra với bất kỳ trẻ em nào, cả trẻ em trai và trẻ em
gái, ở bất kỳ độ tuổi nào (trẻ đã lớn tuổi hay còn nhỏ tuổi), ở bất kỳ hoàn cảnh nào
(trẻ khuyết tật, tâm thần hay lành lặn), gia đình có điều kiện kinh tế khá giả hay gia
đình nghèo... đều có thể là nạn nhân của xâm hại tình dục. Trẻ em là đối tượng yếu
thế có nguy cơ bị xâm hại tình dục cao hơn. Thủ đoạn xâm hại tình dục khác nhau
phim sex...
4. Nguyên nhân
* Nguyên nhân khách quan:
+ Mặt trái của sự phát triển của công nghệ thông tin và các trang mạng xã hội,
trẻ em và người lớn dễ dàng tiếp cận với thông tin, văn hóa phẩm độc hại, trang web
đen làm sai lệch về nhận thức và hành vi.
+ Một bộ phận người dân, nhất là miền núi, gia đình khó khăn không thường
xuyên tiếp cận với thông tin nên nhận thức, kiến thức về pháp luật bảo vệ trẻ em và
phòng chống xâm hại tình dục trẻ em còn nhiều hạn chế.
+ Trẻ em có nhận thức chưa đầy đủ, ít khả năng tự vệ nên dễ bị xâm hại.
* Nguyên nhân chủ quan:
+ Một số cấp ủy đảng, chính quyền địa phương chưa coi trọng công tác bảo vệ
trẻ em, do đó trong công tác chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra giám sát việc
thực hiện pháp luật về bảo vệ trẻ em và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của
tỉnh về phòng, chống xâm hại tình dục trẻ em còn rất hạn chế, chưa quyết liệt.
+ Nhiều gia đình lơ là, thiếu cảnh giác, chưa chú trọng trong quản lý, trông coi
con trẻ (đa số các vụ việc XHTD trẻ em là do gia đình lơ là trong quản lý con)
+ Việc giáo dục kỹ năng, kiến thức phòng ngừa xâm hại cho trẻ em trong nhà
trường và giáo dục của cha mẹ đối với con cái còn ít, chưa phù hợp.
+ Việc quản lý về xã hội còn thiếu chặt chẽ cũng làm phát sinh tội phạm (thông
tin mạng, văn hóa phẩm, quản lý đối tượng có hành vi vi phạm, suy đồi về đạo đức,
lối sống).
+ Số vụ việc xâm hại trẻ em được phát hiện và tố cáo còn ít so với thực tế,
mức xử lý còn nhẹ nên thiếu tính răn đe. Một số trường hợp gia đình biết nhưng
không tố cáo, tội phạm không bị xử lý, nạn nhân tiếp tục bị xâm hại.
5. Hậu quả của xâm hại tình dục
4.1. Hậu quả về thể chất
- Tổn thương bộ phận sinh dục, nhất là trẻ em còn nhỏ.
- Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, có thai ngoài ý
muốn.
- Sợ hãi và như giấu giếm điều gì.
- Đau khổ, khóc lóc.
- Lo âu, trầm cảm,
- Không muốn người khác hỏi đến hoặc không muốn nói chuyện với người
khác, sợ thân mật với mọi người.
- Thay đổi tính tình đột ngột, hoặc dễ nổi nóng, quá kích, hoặc lo âu, trần cảm,
tự kỷ, có ý định tự tử: Đây là hậu quả rõ rệt về mặt tâm thần, nhiều trẻ do sợ hãi, bị
đe dọa nên càng rơi vào trầm cảm nặng.
7. Cách xử lý khi phát hiện trẻ bị xâm hại tình dục
7.1. Việc cần làm ngay
- Đưa trẻ đi khám sức khoẻ để xác định mức độ ảnh hưởng đến sức khoẻ và
tâm thần. Lấy giấy chứng thương của cơ sở y tế nơi trẻ khám để cơ quan pháp luật
có căn cứ buộc tội kẻ xâm hại.
13
- Báo cho gia đình, cơ quan công an nơi gần nhất để kịp thời truy bắt tội phạm
hoặc các cơ quan liên quan như cán bộ làm công tác Lao động- Thương binh và Xã
hội, Hội LHPN, Đoàn thanh niên các cấp (xã, huyện, tỉnh), Văn phòng Công tác Xã
hội cấp trường/xã/huyện hoặc Trung tâm Công tác Xã hội tỉnh Quảng Ninh.
- Tiếp xúc trấn an tâm lý, tìm hiểu sự việc, tư vấn, giúp đỡ trẻ. Khi làm việc để
trợ giúp các em về tâm lý cần bình tĩnh, không thể hiện sự lo lắng để tạo không khí
thoải mái, tự nhiên cho các em yên tâm. Nên dùng các câu nói để các em thấy được:
+ Các em đã đúng khi nói chuyện xảy ra.
+ Những gì xảy ra rất xấu nhưng bản thân em không có lỗi.
+ Cần phải nói chuyện này với người tin cậy nếu trẻ đồng ý.
+ Kẻ gây ra tội sẽ bị trừng trị để không tiếp tục phạm tội nữa.
- Giúp đỡ trẻ bằng các hình thức hỗ trợ tiền khám bệnh, bồi dưỡng sức khoẻ,
dạy chữ, hướng nghiệp, dạy nghề tạo công ăn việc làm cho các em.
7.2. Xử lý nghiêm minh kẻ phạm tội
- Nhà trường, thầy cô giáo, Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên và cha mẹ cần hình
thành cho các em kỹ năng sống cởi mở, thường xuyên chia sẻ với cha mẹ, bạn bè,
người thân về công việc ở trường, ở nhà, về quan hệ bạn bè cũng như suy nghĩ của
trẻ để tạo hệ thống thông tin thường xuyên. Cần giúp các em gái hiểu được nguy cơ
của việc bị lừa đảo bị bán đi nước ngoài làm mại dâm và tác hại của nó, cách đề
phòng để các em có nhận thức đúng đắn và tự bảo vệ mình, thông báo cho công an,
người thân... trong trường hợp cần thiết.
- Dạy các em quy tắc bàn tay
Quy tắc này sẽ giúp trẻ có thể tránh xa những đối tượng nguy
hiểm và bảo vệ chính bản thân mình.
- Ngón cái - gần mình nhất - tượng trưng cho những người thân ruột thịt trong
gia đình như ông bà, bố mẹ, anh chị em ruột. Bé có thể ôm hôn những người này
hoặc đồng ý đề các thành viên trong nhà ôm hôn, thể hiện tình yêu thương, tắm rửa
khi bé còn nhỏ. Nhưng khi đã lớn, bé sẽ tự tắm và thay quần áo trong phòng kín.
- Ngón trỏ - tượng trưng cho thầy cô, bạn bè ở trường lớp hoặc họ hàng của gia
đình. Những người này có thể nắm tay, khoác vai hoặc chơi đùa. Song chỉ dừng lại
ở đó. Còn nếu ai chạm vào “vùng đồ bơi”, bé sẽ hét to và gọi mẹ.
- Ngón giữa - người quen biết nhưng ít khi gặp như hàng xóm, bạn bè của cha
mẹ. Những người này, bé chỉ nên bắt tay, cười và chào hỏi.
15
- Ngón áp út - người quen của gia đình mà bé mới gặp lần đầu. Với những
người này, bé chỉ nên dừng lại ở mức vẫy tay chào.
- Ngón út - ngón tay xa bé nhất - thể hiện cho những người hoàn toàn xa lạ
hoặc người có cử chỉ thân mật, khiến bé thấy lo sợ, bất an. Với những người này, bé
hoàn toàn có thể bỏ chạy, hét to để thông báo với mọi người xung quanh.
8.2. Đối với cơ quan quản lý:
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục rộng rãi cho người dân về pháp luật, kiến
quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07
năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm
đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
16
b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa
bệnh;
c) Nhiều người hiếp một người;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Đối với 02 người trở lên;
e) Có tính chất loạn luân;
g) Làm nạn nhân có thai;
h) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và
hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
i) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm
đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và
hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.”.
Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm
đến 15 năm:
a) Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ
được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình
dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;
hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm
đến 10 năm:
a) Nhiều người cưỡng dâm một người;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Đối với 02 người trở lên;
d) Có tính chất loạn luân;
đ) Làm nạn nhân có thai;
e) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và
hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm
đến 18 năm:
a) Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và
hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;
c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.”.
4. Cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 02 năm
đến 07 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3
Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 144. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
18
1. Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn
c) Có tính chất loạn luân;
d) Làm nạn nhân có thai;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ tổn
thương cơ thể từ 31% đến 60%;
19
e) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa
bệnh.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm
đến 15 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ tổn
thương cơ thể 61% trở lên;
b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình
dục khác, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm
đến 07 năm:
a) Phạm tội có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Đối với 02 người trở lên;
d) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa
bệnh;
đ) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm
hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt
tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến
02 năm.
Điều 184. Tội loạn luân
Người nào giao cấu với người mà biết rõ người đó cùng dòng máu về trực hệ,
là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha,
thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 326. Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy
Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm
phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có nội dung
khiêu dâm, đồi trụy hoặc hành vi khác truyền bá vật phẩm đồi trụy thuộc trường hợp
sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo
không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: Phổ biến cho
người dưới 18 tuổi.
Điều 327. Tội chứa mại dâm
1. Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
3. Phạm tội thuộc trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm: Đối
với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;
Điều 328. Tội môi giới mại dâm
1. Người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua
dâm, bán dâm, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
21
3. Phạm tội thuộc trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: Đối
với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.
Điều 329. Tội mua dâm người dưới 18 tuổi
1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mua dâm người dưới 18 tuổi trừ trường hợp
quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến
05 năm.
quản lý nhà nước và thực hiện các giải pháp bảo vệ trẻ em, phòng ngừa, xử lý đối
với các hành vi xâm hại trẻ em;
- Công văn số 9284/UBND-VX2 ngày 12/12/2017 về việc tiếp tục tăng cường
công tác quản lý nhà nước và thực hiện các giải pháp bảo vệ trẻ em, phòng ngừa, xử
lý đối với các hành vi xâm hại trẻ em.
22
- Công văn số 2247/UBND-GD ngày 11/4/2018 về việc tăng cường công tác
đảm bảo an ninh, an toàn trường học;
- Nghị quyết số 91/2017/NQ-HĐND ngày 13/12/2017 về việc sửa đổi, bổ sung,
bãi bỏ một số nội dung của Nghị quyết số 222/2015/NQ-HĐND ngày 12/12/2015
của HĐND tỉnh, trong đó hỗ trợ hằng tháng cho trẻ em bị xâm hại tình dục phải sinh
con và đang nuôi con; trẻ em dưới 72 tháng tuổi sinh ra từ trẻ em bị xâm hại tình
dục (mức dưới 48 tháng tuổi là 70% mức lương cơ sở/trẻ/tháng; từ đủ 48 tháng đến
16 tuổi là 50% mức lương cơ sở/trẻ/tháng).
(3) Văn bản của các sở, ngành, địa phương:
* Sở Lao động TB & XH:
- Công văn số 700/LĐTBXH-BVCSTE ngày 11/4/2017 về việc thực hiện công
tác phòng, chống xâm hại trẻ em;
- Công văn 1221/LĐTBXH-BVCSTE về việc triển khai Luật trẻ em, Nghị định
số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017, Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 16/5/2017;
- Công văn số 08/LĐTBXH-BVCSTE ngày 27/4/2017 về việc rà soát và thực
hiện giải pháp phòng, chống xâm hại, bạo lực trẻ em;
- Công văn số 3005/LĐTBXH- BVCSTE ngày 20/12/2017 về tăng cường công
tác quản lý nhà nước và thực hiện các giải pháp bảo vệ trẻ em, phòng ngừa, xử lý
đối với các hành vi xâm hại TE;
- Thông báo số 256/TB- BĐH ngày 01/8/2017 về Kết luận của Phó Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh về những vấn đề cần tăng cường trong công tác bảo vệ trẻ em;
- Công văn số 738/ LĐTBXH-BVCSTE ngày 05/4/2018 về thực hiện nghiêm
vị, địa phương triển khai thực hiện Nghị định số 56/2017/NĐ- CP quy định chi tiết
thực hiện một số Điều của Luật Trẻ em năm 2017 và Chỉ thị số 18/CT- TTg ngày
16/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cương các biện pháp phòng chống bạo
lực, xâm hại trẻ em.
* Viện kiểm sát nhân dân tỉnh: Chỉ đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân 14
huyện, thị xã, thành phố và phòng thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra- kiểm
sát xét xử án trật tự xã hội nghiêm túc quán triệt triển khai thực hiện rà soát những
hồ sơ, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em tiến hành xác minh giải quyết nhanh, kịp thời
truy tố, xét xử nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
* Tòa án nhân dân tỉnh: Quán triệt chỉ đạo hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp
thuộc tỉnh khẩn trương tiếp nhận hồ sơ, thụ lý, phân công Thẩm phán nghiên cứu và
giải quyết kịp thời, dứt điểm, xử lý nghiêm các vụ án về các tội phạm bạo lực, xâm
hại trẻ em.
* Ủy ban nhân dân 14/14 huyện, thị xã, thành phố: ban hành kế hoạch thực
hiện Chỉ thị số 18/CT- TTg, công văn chỉ đạo triển khai Luật trẻ em, Nghị định số
56/2017/NĐ-CP; tiến hành rà soát đánh giá việc triển khai các văn bản chỉ đạo của
trung ương, của tỉnh về phòng chống xâm hại trẻ em để tăng cường xử lý các vụ
việc xâm hại trẻ em và công tác phòng chống xâm hại tình dục trẻ em; can thiệp,
trợ giúp các trường hợp trẻ em bị XHTD.
PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC TRẺ EM
1. Khái niệm bạo lực trẻ em
1.1. Khái niệm chung:
* Bạo lực trẻ em là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân
thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành
vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của trẻ em.
* Hành vi bạo lực đối với trẻ em bao gồm:
- Lăng nhục, chửi mắng, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, cô lập, xua đuổi hoặc
gây áp lực thường xuyên về tâm lý, gây tổn thương về tinh thần, ảnh hưởng đến sự
phát triển của trẻ em;
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe,
+ Thường xuyên gây tổn hại về sức khỏe, gây tổn thương về tinh thần;
+ Đối xử tồi tệ như: bắt nhịn ăn, nhịn uống, bắt chịu rét, mặc rách, không cho
hoặc hạn chế vệ sinh cá nhân, giam hãm ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm;
+ Ép buộc thực hiện hành vi trái pháp luật;
+ Bỏ mặc không chăm sóc
+ Thường xuyên dọa nạt bằng các hình ảnh, con vật, đồ vật mà trẻ sợ;
+ Nuôi các con vật, trồng các loại cây gây hại cho sức khỏe của trẻ tại nơi ở
của trẻ;
+ Ép buộc trẻ phải xem, nghe, đọc những văn hóa phẩm đồi trụy, kinh dị;
+ Ép buộc trẻ em bán dâm;
- Cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm:
+ Lăng mạ, chửi bới, chì chiết;
25