THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI - Pdf 68

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
Ở THỪA THIÊN HUẾ
2.1. TỔNG QUAN VỀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH
THÁI Ở THỨA THIÊN HUẾ
2.1.1. Khách du lịch
2.1.1.1. Số lượng khách du lịch
Năm 1995, tổng lượng khách du lịch đến với Thừa Thiên Huế đạt 277.400 lượt
khách. Mặc dù năm 1993, quần thể di tích triều Nguyễn đã được công nhận là di sản
văn hóa thế giới nhưng đến năm 1995, tiềm năng du lịch này vẫn chưa thực sự được
khai thác triệt để. Tổng lượt khách du lịch đến Thừa Thiên Huế vẫn là một con số
khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng.
Năm 2000, với sự cố gắng của các cấp chính quyền cũng như sự đầu tư của các
doanh nghiệp lữ hành, số lượng khách đến tỉnh đã tăng lên đáng kể, đạt được con số
470.000 lượt khách, tăng gần gấp đôi so với năm 1995. Đây là một bước tiến khá quan
trọng trong sự phát triển du lịch tỉnh nhà.
Đến năm 2005, con số này đã lên tới 1.050.000 lượt, và năm 2008 là 1.680.000
lượt người. Có thể thấy, du lịch Thừa Thiên Huế đang trên đà phát triển, trở thành một
thế mạnh của kinh tế tỉnh nhà. Du khách trong nước cũng như nước ngoài đều biết đến
Huế như một thành phố du lịch xanh và cổ kính với nhiều di tích văn hóa, lịch sử từ
hàng trăm năm trước.
2.1.1.2. Cơ cấu khách du lịch
Giai đoạn 2000 – 2006, cơ cấu khách du lịch thay đổi theo hướng tỉ trọng khách
du lịch nội địa tăng mạnh, tỷ trọng khách du lịch quốc tế ngày càng chiếm tỉ lệ nhỏ.
Đây là một khuynh hướng khá tiêu cực đối với ngành du lịch, nó ảnh hưởng không nhỏ
tới doanh thu du lịch nói chung và GDP của tỉnh nói riêng. Nhưng trong hai năm gần
đây, tỉ trọng khách quốc tế đã có những chuyển biến tích cực, tăng nhanh trong biểu đồ
cơ cấu khách du lịch đến Thừa Thiên Huế hàng năm
Năm
Khách nội địa Khách quốc tế
Số lượng Tỉ trọng (%) Số lượng Tỉ trọng (%)
2000 275.000 58,51 195.000 41,49

Năm 2005, số ngày lưu trú bình quân của khách du lịch Thừa Thiên Huế mới đạt
1,98 ngày với khách quốc tế và 1,93 ngày với khách nội địa. Tổng số ngày khách đạt
hơn 2.000.000 ngày trong đó ngày khách quốc tế đạt hơn 732.000 ngày và ngày khách
nội địa đạt hơn 1.300.000 ngày. Năm 2008, số ngày lưu trú bình quân tăng chậm, đạt
2,01 ngày với khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa là 1,94 ngày. Số ngày
khách quốc tế của Thừa Thiên Huế mới chiếm tỷ trọng 4,02% (so với cả nước) và
23,44% (so với khu vực Miền trung - Tây nguyên). Như vậy, tỷ trọng của khách du lịch
Thừa Thiên Huế đối với du lịch Việt Nam và khu vực Miền trung - Tây Nguyên cũng
còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và vị trí của Thừa Thiên Huế trong chiến lược
phát triển du lịch Việt Nam và khu vực Miền trung - Tây nguyên.
2.1.1.4. Mùa du lịch
Mùa du lịch là yếu tố phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, khí hậu cũng như phong
tục tập quán của nơi du lịch cũng như quê hương của khách du lịch. Những du khách
đến từ những quốc gia khác nhau với nền văn hóa khác nhau sẽ có những mùa du lịch
khác nhau.
Với khách nội địa, mùa du lịch thường bắt đầu vào khoảng cuối tháng 4, đầu tháng
5 với kì nghỉ lễ dài nhất trong năm. Tiếp theo là những tháng hè với thời tiết khô ráo
nhất trong năm, rất thích hợp cho những tour du lịch ngoài trời, thăm thú cảnh quan
thiên nhiên. Mùa du lịch của khách nội địa thường kết thúc vào tháng 10,11 vì đây là
khoảng thời gian mưa nhiều ở Huế, các hoạt động du lịch diễn ra không thuận lợi.
Đối với khách du lịch quốc tế, tháng cuối năm với kì nghỉ Giáng sinh và năm mới
kéo dài là khoảng thời gian đi du lịch thích hợp nhất. Với hầu hết khách quốc tế, đây là
khoảng thời gian mà khi hậu ở nước họ rất khắc nghiệt, nên họ có xu hướng lựa chọn
những đất nước nhiệt đới, có nhiệt độ cao, ấm áp làm nơi du lịch nghỉ dưỡng. Và Việt
Nam, trong đó có Thừa Thiên Huế là một trong những điểm đến thú vị.
2.1.2. Sản phẩm du lịch
2.1.2.1. Các tuyến du lịch
- Các tuyến du lịch nội tỉnh.
• Tuyến du lịch Cố đô Huế;
• Tuyến du lịch Thành phố Huế - Thuận An - Phá Tam Giang - Đầm Cầu Hai;

Với mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, đồng thời thoả
mãn nhu cầu khám phá, thưởng thức của khách du lịch; việc phục hồi các loại hình văn
hoá truyền thống đạt được nhiều thành quả đáng biểu dương thông qua việc tổ chức
thành công các kỳ Festival, các nhà sáng tác, nghệ sĩ, nghệ nhân và học sinh sinh viên
các trường Đại học Nghệ Thuật Huế đã góp phần lưu giữ và phát huy những giá trị văn
hoá đặc sắc, độc đáo của Di sản phi vật thể Huế đưa vào phục vụ du lịch có hiệu quả.
Nhiều điểm vui chơi giải trí, các công trình phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn
cho nhân dân và cho du khách được xây dựng.
Hệ thống các nhà hàng trên địa bàn có sự tăng nhanh về lượng và chất; trong đó
một số nhà hàng được đầu tư lớn, đủ tiện nghi và điều kiện phục vụ, đáp ứng được nhu
cầu của đối tượng khách có thu nhập và chi tiêu cao.
2.1.2.4. Vận chuyển khách du lịch
Các loại hình vận chuyển khách được từng bước đa dạng, đáp ứng được nhu cầu
của khách du lịch. Đến nay, số đầu xe trong các doanh nghiệp du lịch khoảng 80 xe chất
lượng tốt với năng lực vận chuyển khoảng 1.200 chỗ; Các phương tiện vận chuyển
công cộng phát triển mạnh, chất lượng các loại hình vận chuyển bằng xe thô sơ từng
bước được nâng lên. Số lượng thuyền du lịch trên sông có gần 125 chiếc, đủ năng lực
vận chuyển khách kể cả trong mùa cao điểm. Sân bay Phú Bài được cải tạo nâng cấp đủ
khả năng tiếp nhận các loại máy bay cỡ lớn và được công nhận là sân bay đạt tiêu
chuẩn quốc tế. Bước đầu khai thác có hiệu quả việc đón tàu du lịch cập cảng Chân Mây,
trong 5 tháng đầu năm 2007 đã tổ chức đón 8 tàu du lịch nước ngoài với hơn 8.000 lượt
khách.
2.1.3. Kết quả kinh doanh du lịch
Doanh thu du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế năm 1995 đạt 93.400 triệu đồng; năm
2000 đạt 190.000 triệu đồng trong đó nộp cho ngân sách của tỉnh là 12.000 triệu đồng;
năm 2005 đạt 543.000 triệu đồng, nộp ngân sách đạt 14.000 triệu đồng; tốc độ tăng
trưởng giai đoạn 1995 - 2005 đạt 19,25%/năm.
Năm 2006, doanh thu du lịch đạt 731.000 triệu đồng, năm 2007 con số này là
1.060.270 triệu đồng, vượt kế hoạch đặt ra. Năm 2008, doanh thu du lịch tăng 7,85%,
đạt 1.143.500 triệu đồng.

thị đảm bảo vệ sinh môi trường.
Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng nói trên đã góp phần thúc đẩy du lịch phát triển
thông qua việc tạo ra môi trường đầu tư với những điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
tư phát triển du lịch tại Thừa Thiên Huế.
2.1.4.2. Cơ sở vật chất kĩ thuật và sản phẩm du lịch
Về dịch vụ lưu trú:
Trong thời gian qua, ngành du lịch đã tham mưu cho UBND Tỉnh ban hành những
quy định về điều kiện và tiêu chuẩn để được xây dựng các cơ sở lưu trú, đồng thời tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho các dự án xây dựng các cơ sở lưu trú chất lượng cao, quy
mô trên 100 phòng được triển khai nhanh chóng.
Bên cạnh đó, hoạt động lưu trú phát triển mạnh cả về lượng và chất. Đến năm
2006 lần đầu tiên Thừa Thiên Huế có khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao. Tính đến nay, toàn
tỉnh có 113 doanh nghiệp kinh doanh lưu trú quản lý 134 cơ sở lưu trú với 4534 phòng,
8652 giường.
Về dịch vụ lữ hành:
Đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh có 25 đơn vị kinh doanh lữ hành, trong đó có 14
đơn vị lữ hành quốc tế. Nhìn chung hoạt động lữ hành có nhiều tiến bộ, các đơn vị lữ
hành quốc tế ngoài việc tập trung khai thác các thị trường truyền thống là Tây Âu, Bắc
Mỹ, thời gian gần đây đã chuyển hướng khai thác mạnh thị trường các nước gần, khu
vực đông bắc Á, các nước ASEAN.
Đã tố chức điều tra nghiên cứu phát triển một số cụm điểm du lịch mới hay tổ
chức Hội thảo phát triển các tour tuyến du lịch cho các doanh nghiệp lữ hành trên địa
bàn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận được tài nguyên du lịch nhằm xây
dựng các chương trình du lịch mới.
Về dịch vụ văn hoá và vui chơi giải trí:
Đầu tư tổ chức thành công các kì Festival đã góp phần lưu giữ và phát huy những
giá trị văn hoá đặc sắc, độc đáo của Di sản vật thể và phi vật thể Huế đưa vào phục vụ
du lịch vó hiệu quả. Bên cạnh đó, nhiều điểm vui chơi giải trí, các công trình phục vụ
nhu cầu nghỉ ngơi thư giãn cho nhân dân và cho du khách được xây dựng. Hệ thống các
nhà hàng trên địa bàn có sự tăng nhanh về lượng và chất; trong đó một số nhà hàng

động đã qua đào tạo với 30% đạt trình độ Đại học và cao đẳng, 20% được đào tạo bậc
trung cấp. Đội ngũ lễ tân và hướng dẫn viên du lịch hầu hết được đào tạo về chuyên
môn và ngoại ngữ. Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ lao động của Thừa Thiên Huế vẫn
chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình phát triển du lịch hiện nay.
2.1.6. Tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh du lịch
Hệ thống kinh doanh du lịch Thừa Thiên Huế khá phát triển với số lượng lớn, đa
dạng về các hình thức sở hữu như quốc doanh, vốn đầu tư nước ngoài, tư nhân….; về
loại hình tổ chức như doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh
nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh, hộ gia đình kinh doanh phần; đa dạng về loại
hình dịch vụ như khách sạn, vận chuyển, nhà nghỉ, nhà khách, khu nghỉ dưỡng, khu du
lịch, khu vui chơi giải trí, lữ hành… cho thấy, môi trường kinh doanh du lịch khá hấp
dẫn. Năm 1996 toàn tỉnh mới có 61 doanh nghiệp du lịch, đến năm 2006, có 135 doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có hàng ngàn hộ kinh
doanh cá thể tập trung chủ yếu ở TP Huế và một số điểm du lịch khác trong tỉnh cho
thấy sức hấp dẫn của hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
2.1.7. Tiếp thị và xúc tiến, tuyên truyền quảng cáo
Công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến thị trường được ngành du lịch quan tâm
đúng mức, tuy vậy hoạt động này chủ yếu được thực hiện từ nội lực của các doanh
nghiệp. Việc quảng bá điểm đến thuộc trách nhiệm của Sở Du lịch, nhưng việc này
chưa được thực hiện tốt.
Một số ấn phẩm tuyên truyền quảng bá giới thiệu về tiềm năng và triển vọng phát
triển du lịch của địa phương đã được xây dựng; xúc tiến triển khai dự án xây dựng
trung tâm thông tin và cổng thông tin điện tử của ngành.
Việc tuyên truyền tại chỗ, tại các cửa khẩu quốc tế, nhất là tại sân bay Phú Bài
chưa duy trì thường xuyên, chủ yếu được triển khai theo từng đợt cao điểm như các kỳ
Festival, các sự kiện lớn nhằm tập trung cung cấp thông tin và hỗ trợ tư vấn về các dịch
vụ phục vụ nhu cầu tìm hiểu thông tin của khách.
Bằng kinh phí của Ban chỉ đạo phát triển du lịch, chuyên mục "Ống kính du lịch"
được duy trì thường xuyên trên HTVT nên cũng đã góp phần nâng cao nhận thức trong
nhân dân và có tác dụng tuyên truyền quảng bá tốt.

Rừng Quốc gia Bạch Mã với hệ sinh thái đa dạng bậc nhất Đông Nam Á hiện nay giúp
du khách thỏa sức thưởng ngoạn những tuyệt tác của thiên nhiên tạo ra, hay hòa mình
vào cuộc sống của tự nhiên, khám phá những điều kì thú của tự nhiên. Không chỉ dừng
lại ở Bạch Mã, du khách có thể xuôi xuống chân núi, biển Lăng Cô xanh ngắt tuyệt đẹp
luôn là sự lựa chọn sáng suốt, là điểm dừng chân đúng đắn sau những chuyến leo núi
vất vả. Và cả những con suối nước ngọt như Suối Voi, Nhị Hồ… đều đang thu hút được
nhiều khách du lịch. Đó là những điểm du lịch sinh thái đang phát triển mạnh ở Thừa
Thiên Huế.
2.2.1.2. Tiềm năng DLST ở Thừa Thiên Huế rất phong phú và đa dạng
Những địa danh như vườn Quốc gia Bạch Mã, Suối Voi, Nhị Hồ… là những điểm
du lịch sinh thái thu hút được nhiều khách du lịch trong nước và trên thế giới. Với
những đặc điểm sinh thái vốn có độc đáo của mình, những điểm DLST này đã và đang
tạo nên một hình ảnh du lịch ấn tượng cho du khách. Đây cũng là những điểm DLST
mang lại nhiều doanh thu nhất cho tỉnh hiện nay.
Bên cạnh những điểm du lịch vốn có, DLST ở Thừa Thiên Huế còn được hứa hẹn
với nhiều điểm du lịch hấp dẫn trải đều trên tất cả các huyện lỵ của tỉnh với nhiều đặc
điểm và hình thức khác nhau. Có thể điểm qua một số tour, tuyến du lịch đã được hình
thành, đưa vào dự án như: hệ thống nhà vườn cổ, du thuyền trên sông Hương, đầm phá
Tam Giang – Cầu Hai… Hay những địa điểm mà chưa được một nhà đầu tư nào để mắt
đến như Khu sinh thái Rú Trá ở Hương Phong huyện Hương Trà, hay Tràm Chim, thác
A Đon ở Phong Điền… Tất cả tạo nên tiềm năng cho DLST ở Thừa Thiên Huế.
2.2.1.3. Thực trạng phát triển DLST ở Thừa Thiên Huế còn kém và chưa tương
xứng với tiềm năng
Nếu như hỏi một du khách không phải là người bản địa về những địa điểm DLST
ở Huế, cái tên được nhắc đến đầu tiên chỉ có thể là Vườn Quốc gia Bạch Mã, và rải rác
một số cái tên như Suối Voi, Nhị Hồ. Những địa danh khác như Phú Mộng, Kim Long
hay A Đon, núi Túy Vân… hoàn toàn không nằm trong trí nhớ của du khách.
Thực tế, dựa vào cơ cấu doanh thu từ DLST, ta có thể thấy, Vườn Quốc gia Bạch
Mã chiếm hơn 80% doanh thu, 16% là của cụm du lịch Suối Voi, Nhị Hồ; chỉ còn lại
một phần rất nhỏ 4% là từ các địa điểm du lịch còn lại. Như vậy, trong doanh thu ít ỏi

Nằm trên trục đường giao thông chính Bắc – Nam, có quốc lộ 1A và đường Sắt
chạy qua, giao thông ở Thừa Thiên Huế khá thuận lợi cho phát triển du lịch. Bên cạnh
đó, sân bay Quốc tế Phú Bài cũng góp phần không nhỏ trong việc rút ngắn khoảng cách
giữa các tỉnh trong nước cũng như các địa điểm trên thế giới cho khách du lịch. Ngoài
ra tỉnh cũng đã được lắp đặt đầy đủ các hạng mục thông tin liên lạc có thể đáp ứng nhu
cầu về phát triển du lịch. Về cơ sở vật chất phát triển du lịch, toàn tỉnh đã có 271 khách
sạn, nhà nghỉ với tổng số hơn 11.000 phòng, có thể đáp ứng khá tốt nhu cầu nghỉ ngơi
của khách du lịch.
2.2.2.2. Vị trí địa lý
Tỉnh Thừa Thiên Huế nằm ở vị trí trung độ của cả nước, cực nam của khu vực Bắc
miền Trung. Phía Bắc giáp Quảng Trị, phía Nam giáp Đà Nẵng, phía Tây giáp nước bạn
Lào và phía Đông giáp biển, tỉnh nằm trên trục đường Bắc Nam của cả nước, có Quốc
lộ 1A cũng như đường tàu thống nhất chạy qua. Tỉnh có diện tích hơn 5.000 km2 với 8
huyện và một thành phố trực thuộc tỉnh.
2.2.2.3. Tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái
Thừa Thiên Huế là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi với nhiều cảnh quan thiên
nhiên và danh thắng nổi tiếng, từ lâu đã thu hút được nhiều du khách trong và ngoài
nước đến tham quan. Trong số đó có thể kế đến vườn Quốc gia Bạch Mã, biển Lăng Cô,
Suối Voi, thác Nhị Hồ. Ngoài ra, hệ thống hàng trăm nhà vườn cổ xưa, hay những hoạt
động du thuyền ngắm cảnh trên sông Hương cũng có sự thu hút đặc biệt đối với du
khách
Tài nguyên tự nhiên và môi trường sinh thái ở Thừa Thiên Huế có những đặc
trưng rất riêng, nó ảnh hưởng khá lớn đến phát triển DLST:
- Hầu hết các tài nguyên tự nhiên của Thừa Thiên Huế không chỉ có giá trị cho
tham quan du lịch thuần túy mà còn có giá trị lớn về khoa học cho các nghiên cứu
chuyên đề. Điển hình trong số đó là Vườn Quốc gia Bạch Mã, hệ sinh thái đầm phá
Tam Giang – Cầu Hai.
- Các tài nguyên sinh thái luôn gắn quyện với các giá trị văn hóa, lịch sử của tỉnh
nói chung cũng như của cộng đồng dân cư bản địa nói riêng.
- Một số tài nguyên nằm xen lẫn trong khu sinh sống của người dân tộc thiểu số,


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status