Vai trò của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế - Pdf 68

Vai trò của khoa học công nghệ đối với tăng trưởng kinh tế
I. Những vấn đề cơ bản về khoa học và công nghệ
1. khái niệm.
1.1 khái niệm khoa học
Trong lịch sử phát triển của nhân loại có rất nhiều quan niệm khác nhau
về khoa học vì một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội; mặt
khác phụ thuộc vào trình độ nhận thức.
Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức
mới, học thuyết mới về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết này,
tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp.
Khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự
vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống
tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực
tiễn xã hội. Có hai hệ thống: Tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
*Tri thức kinh nghiệm: Là những hiểu biết được tích luỹ qua hoạt động
sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con
người với thiên nhiên. Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách
quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa con người trong xã hội. Tri
thức kinh nghiệm được con người khôn ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt
động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thực sự đi sâu vào bản chất,
chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự
vật và con người. Vì vậy, chi thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết
giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri
thức khoa học
*Tri thức khoa học: Là những hiểu biết được tích luỹ một cách có hệ
thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các hoạt động này có mục tiêu xác
định và sử dụng phương pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh nghiệm,
tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu nhập được qua những thí
nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự
nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn
khoa học như: triết học, kinh tế học, toán học, sinh học…

nghệ do Uỷ ban kinh tế và xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP)
đưa ra: “Công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để
chế biến vật liệu và thông tin, Công nghệ bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị,
phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hoá và cung cấp dịch
vụ”. Khái niệm này được coi là bước ngoặt trong quan niệm về công nghệ.
2.Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ
2.1 Bản chất của khoa học
Khoa học xuất hiện thông qua quá trình tư duy ý thức, hay hoạt động
nghiên cứu của con người mà kết quả của chúng là xác định một hệ kiến thức
riêng biệt trên từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội. Khoa học có nguồn gốc
từ sự đấu tranh của con người với thế giới tự nhiên, trước hết là trong thực tiễn
sản xuất ra của cải vật chất tạo cho con người làm chủ được cuộc sống của
mình.Khoa học phát triển gắn liền với lịch sử tiến hoá của xã hội loài người. Và
khoa học được phân thành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
Khoa học tự nhiên nghiên cứu các sự vật, hiện tượng và quá trình tự
nhiên, phát hiện các quy luật của tự nhiên, xác định các phương thức chinh phục
và cải tạo tự nhiên.
Khoa học xã hội nghiên cứu các hiệnt tượng, quá trình và quy luật vận
động, phát triển của xã hội, làm cơ sở thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển của
con người.
Khoa học về bản chất là sự tiến bộ cách mạng. Những thành tựu khoa học
thế kỷ 17 dẫn tới cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ nhất, với nội dung chuyển từ
lao động thủ công sang lao động cơ khí, đã thúc đẩy sự chuyển biến từ nền kinh
tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghệ, đã làm cho của cải của loài người
tăng lên hàng trăm lần, điều mà trước đó nền kinh tế nông nghiệp không thể làm
được. Sang thế kỷ 20, với vai trò dẫn đường của thuyết tương đối và lượng tử,
cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ hai đã bắt đầu từ giữa thế kỷ cho đến nay.
Cuộc cách mạng chuyển từ cơ khí hoá sang tự động hóa cao độ nền sản xuất,
với việc sử dụng máy tính điện tử và hiện đại hoá quá trính sản xuất trên cơ sở
của những phát minh khoa học.

phát triển, đi sau về công nghệ, nhưng muốn đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh
và bền vững.
2.3 Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ.
Khoa học, công nghệ là sản phẩm của tư duy và của lao động được định
hướng bởi tư duy đó. Khoa học và công nghệ có mối quan hệ bền chặt và khăng
khít với nhau. Ngày nay khi nói đến công nghệ người ta hiểu ngay trong nó có
khoa học. Trong công nghệ trí tuệ, tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp. Ngược lại, những tri thức khoa học hiện đại không thể có được
nếu thiếu sự trợ giúp của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin.
Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ còn tuy thuộc vào quan niệm và
cách hiểu về khoa học công nghệ.
2.3.1 Quan niệm thứ nhất: Sự phát triển của khoa học và công nghệ là độc
lập tương đối với nhau
Có giai đoạn công nghệ đi trước, có giai đoạn khoa học vượt trước so với
công nghệ. Chỉ cho đến ngày nay, khoa học và công nghệ mới thực sự đồng
điệu và gắn bó chặt chẽ với nhau,
2.3.2 Quan niệm thứ hai: Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ được
hiểu như là mối quan hệ giữa thông tin và công nghệ, hay giữa sự biến đổi của
thông tin và sự biến đổi của năng lượng, nghĩa là ngay từ đầu khoa học và công
nghệ đã gắn bó chặt chẽ với nhau.
Ngày nay thì chủ yếu khoa học mở cánh cửa cho công nghệ
Mối quan hệ tương tác giữa KH&CN:
n Cung cấp thiết bị,
phương tiện
Phát minh

Khoa học tạo cơ sở lý thuyết và phương pháp cho ứng dụng, triển khai
công nghệ mới vào sản xuất, đời sống. Nếu khoa học cơ bản vạch ra những nội
dung chủ yếu của công nghệ, thì khoa học ứng dụng có vai trò cụ thể hoá lý
luận của khoa học cơ bản vào phát triển công nghệ, đưa lại hiệu quả kinh tế - xã

đời của các công nghệ mới đã làm cho nền kinh tế chuyển từ phát triển theo
chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, nghĩa là thực hiện tăng trưởng kinh tế
dựa trên việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất. Như vậy khoa học
và công nghệ là phương tiện để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh
tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức, trong đó phát triển nhanh các ngành công
nghệ cao, sử dụng nhiều lao động trí tuệ là đặc điểm nổi bật.
3.2 Thoả mãn nhu cầu, tăng sức cạnh tranh của hàng hoá, thúc đẩy phát
triển kinh tế thị trường.
Các doanh nghiệp muốn tối đa hóa lợi nhuận của mình thì phải sản xuất
những mặt hàng có nhu cầu lớn, tối thiểu hóa chi phí các yếu tố đầu vào, nâng
cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã, hình thức hàng hoá cho phù hợp.
Muốn vậy chỉ khi thực hiện áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào trong sản
xuất, kinh doanh
Việc áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh
không chỉ tạo ra lợi thế trong cạnh tranh, mà còn tạo ra nhiều loại sản phẩm
mới, tăng quy mô sản xuất của doanh nghiệp, nâng cao vị thế doanh nghiệp trên
thị trường. Trong nền kinh tế thị trường việc áp dụng tiến bộ khoa học và công
nghệ đã có những tác động như sau:
* Các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, lao động ngày càng hiện đại
và đồng bộ
* Quy mô sản xuất mở rộng, thúc đẩy sự ra đời và phát triển các loại hình
doanh nghiệp mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status