Hồ Chí Minh - sự tiếp biến văn hóa - Pdf 68

Hồ Chí Minh - sự tiếp biến văn hóa
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một phần văn hoá Pháp tràn vào Việt Nam theo
gót chân của những kẻ đi xâm lược đội lốt chiều bài với những từ ngữ mỹ miều là
“sự khai hoá văn minh”. Trong thử thách của sự phát triển, cái linh đơn văn hoá
Việt Nam vẫn còn, nhưng có nguy cơ dần mất đi cái vẻ huyền diệu đắc dụng của
nó và có nguy cơ bị mai một, bị lai căng.
Văn hoá Pháp vào Việt Nam một cách xô bồ, có tốt và gây ra cũng không ít điều
xấu. Điều tốt thì đó là những công trình mà Pháp dựng nên trên đất Việt Nam để
phục vụ cho sự cai trị. Đó là những nhà cửa, đường sá, cầu cống, là kỹ nghệ…Đó
là những trường học, tuy còn ít ỏi, nhưng là trường tây, theo văn hoá tây. Đó là
cuộc sống có phần văn minh của phương Tây mà đến đầu thế kỷ XX, các nhà trí
thức khai sáng của Việt Nam trong đó có Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, v.v.
bắt đầu áp dụng và mở cuộc vận động duy tân khá lớn và thành công không nhỏ.
Chữ Hán được thay bằng quốc ngữ. Những cái đầu quấn tóc búi tó, những quần
ống sớ, guốc mộc…đã nhường chỗ khá nhiều cho tóc ngắn, cho bộ đồ Âu complê
thắt caravát, cho giầy đen, cho nhảy đầm, uống cà phê, hút thuốc lá thơm, cho lối
sống văn minh bài trừ mê tín dị đoan, v.v. Một văn hoá ngoại lai cuốn vào chốn
thuộc địa mà thuộc địa này vẫn đậm cốt cách phong kiến trong từng hang cùng
ngõ hẻm. Và đương nhiên nó cũng sinh ra nhiều cái xấu, bởi không thể khác được
do nó đi sau gót thực dân, mang theo cả những cặn bã ở “chính quốc” sang Việt
Nam, nó khuyếch đại và nhân lên và phổ vào những cái cổ hủ xưa của phong
kiến.
Hồ Chí Minh sống trong cái khung thời gian mà sự biến thiên về văn hoá của Việt
Nam có những giai đoạn mạnh mẽ nhất. Riêng về giáo dục thôi thì cũng thấy đầu
thế kỷ XX, Việt Nam có xen lẫn vào ba nền giáo dục: nền giáo dục Hán học đã lỗi
thời nhưng vẫn còn đất sống; nền giáo dục Tây học mang nặng lối thực dân nô
dịch, chỉ dành cho một số người; nền giáo dục quốc ngữ tuy còn èo ọt nhưng
đang lên. Ba nền giáo dục này giao thoa nhau. Ở trong con người Hồ Chí Minh, và
nhiều người khác cùng thời, có cả ba sắc thái biểu hiện của ba nền giáo dục ấy,
tuy mỗi người biểu hiện đậm nhạt khác nhau. Hồ Chí Minh đóng góp phần lớn vào
sự chuyển biến tích cực cho sự biến thiên đó của văn hoá Việt Nam.

Việt Nam còn ngủ kỹ hơn, mặc cho sự biến chuyển trên thế giới đã mạnh mẽ bắt
đầu từ thế kỷ XVI. Khi nước Pháp làm cuộc Đại Cách mạng tư sản nổi tiếng vào
năm 1789 phá ngục Bastille, tiến công vào dinh luỹ của chế độ phong kiến để mở
đường phát triển sau những đêm dài trung cổ thì ở Việt Nam, Quang Trung
Nguyễn Huệ của đất Tây Sơn mới đánh đổ quân xâm lược Thanh để xây đại
nghiệp. Mà đại nghiệp của quân Tây Sơn lại là vẫn tiếp nối một triều đại phong
kiến mới, chứ không phải là chế độ mới, một phương thức sản xuất mới. Chênh
nhau hàng thế kỷ. Việt Nam lúc này chưa chủ động hoặc chưa đủ điều kiện mở
cánh cửa ọp ẹp để đi ra thế giới hoặc là để thế giới đi vào Việt Nam.
Trong lúc Việt Nam đang guồng chân để tiến nhanh hơn thì thế giới đã bỏ khá xa
chúng ta. Nguy cơ Việt Nam bị tụt hậu xa hơn về phát triển kinh tế so với nhiều
nước trên thế giới và khu vực, nếu xét nguy cơ là cái điều có khả năng đến, thì nó
không còn là nguy cơ nữa mà là sự thực rồi. Khoa học và công nghệ thường là kỵ
với nền nông nghiệp phong kiến cổ truyền. Nông dân – nông nghiệp – nông thôn,
phương thức sản xuất châu Á…vẫn là nơi ít nhúc nhích nhất ở Việt Nam, nơi làm
ra cái ăn nhưng bi kịch chính là ở đó: xã hội phải dành cho nó lực lượng lao động
nhiều nhất nhưng có lúc vẫn cứ bị đói. Nhà cầm quyền (Triều Nguyễn) lại muốn
kìm hãm. Ông vua Tự Đức cầm quyền khá lâu ở Triều Nguyễn là ông vua hay chữ,
làm thơ, muốn yên phận nhưng nào có được như vậy, dẫn đến bạc nhược trước
“oai hùng” của chủ nghĩa tư bản Pháp, không tích cực tìm cách gỡ bí trong bang
giao, thử thách của cái mới thời cuộc. Những canh tân, những ý tưởng, những tờ
sớ nặng lòng đưa đất nước thoát ra khỏi thế bí, tiếp nhận luồng tư tưởng nhập
cuộc chơi với thế giới, tiếp nhận khoa học-kỹ thuật…đều bị chế độ phong kiến
chối bỏ. Tất cả mọi tinh lực canh tân bị chìm trong cái biển nông dân muôn năm
cũ.
Trong cả hai cái chiều hướng đó, Việt Nam bị nặng hơn cái chiều thứ hai. Nói thế
để thấy, không phải Việt Nam không nhúc nhích, mà vẫn đi lên, nhưng bước đi
nặng nề, chậm chạp, đầy do dự, dùng dằng, ngắc ngứ.
Đó là bức tranh giản lược cái thử thách văn hoá của dân tộc Việt Nam mà Hồ Chí
Minh sống. Và Hồ Chí Minh đi tìm con đường cứu nước, đưa đất nước Việt Nam

hạn, một làng nổi tiếng trong cả nước về con người học hành, đỗ đạt, có không ít
danh nhân, thì hầu như chỉ những người nào sinh ra, có tuổi ấu thơ ở đó rồi ra
khỏi cái cống đá đầu làng để đi sinh sống, lập nghiệp nơi khác thì mới có cơ phát
triển, thành đạt. Còn không, nếu vẫn ở làng thì khó mà phát, tiến.
Hồ Chí Minh ở vùng Nam Đàn, Nghệ An, sinh ra ở đất “linh”, ở trong một
gia đình
văn hoá
. Một đơn vị văn hoá gia đình của Hồ Chí Minh trong cái vùng văn hoá này
đã hun đúc nên văn hoá Hồ Chí Minh. Có lẽ Hồ Chí Minh cũng đã tiếp thu một
cách nào đó cái bướng bỉnh, khí khái của cha mình, một nhân vật tôi cho cũng là
cái vết tích của ông đồ Nho xứ Nghệ. Cụ Nguyễn Sinh Sắc mạnh ở mặt thương
người, nhân ái, ở tính khảng khái, ở cái chí lớn, ở cái cách giáo dục cho con cái, ở
cái quan niệm thức thời của Cụ trong buổi giao thời văn hoá Đông-Tây, giữa cái
cổ và cái kim. Cụ là cái gạch nối của thời cuộc. Rồi Hồ Chí Minh đi tiếp cái gạch
nối ấy, lân sang cái hiện đại từ cái nền văn hoá cổ-trung-cận đại đầy biến động.
Hồ Chí Minh tiếp nhận cái tinh túy văn hoá điển hình người phụ nữ Việt Nam
chung thủy, đảm đang, hết lòng vì chồng con từ người mẹ thân yêu nhưng mất
sớm. Hồ Chí Minh là một thành viên hoà đồng với chị và anh của mình làm thành
cái đơn vị văn hoá gia đình đẹp đẽ của mình.
Từ trong đất nước, Hồ Chí Minh còn tiếp thu nền văn hoá Pháp và phương Tây
qua trang sách học đường. Và đã sớm có ý định đằm mình trong đó bằng cách
xuất dương với hai bàn tay và khối óc của mình, bằng lao động để kiếm sống, để
học trong đường đời. Hồ Chí Minh cũng được tiếp thu văn hoá phương Đông qua
Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo. Hồ Chí Minh không phải là con số cộng các nền văn
hoá dân tộc và thế giới mà là có sự tổng hoà, đúc kết hình thành làm một để kiến
tạo tư chất nhà văn hoá. Hồ Chí Minh còn tiếp thu cái nhân lõi của lý luận Mác –
Lênin là chủ nghĩa nhân đạo, là sự dấn thân cho sự nghiệp cao cả nhất trong đời
mình với tư cách là sứ giả văn hoá của nhân loại:
đấu tranh giải phóng con người
.

cách về văn hoá duy tân, phải ủng hộ cho quá trình vùng lên mạnh mẽ đầu thế kỷ
XX phong trào học chữ quốc ngữ, phong trào vận động đời sống mới, phong trào
chấn hưng thực nghiệp. Nhưng, chính quyền thực dân Pháp lại cũng không ưng,
vì những cải cách đó cổ vũ tinh thần yêu nước. Với con mắt cực đoan, bảo thủ
cho nên thực dân Pháp lo sợ các phong trào duy tân dẫn tới việc đấu tranh chống
lại ngay bản thân thực dân Pháp, tác động không tốt tới sự cai trị của chủ nghĩa
thực dân Pháp ở Việt Nam. Âm binh đã được triệu lên, và những âm binh này
quay lại tiến công trực diện vào chế độ thực dân-phong kiến. Thế cho nên mới
dẫn đến việc các yếu nhân của phong trào duy tân cũng bị thực dân Pháp đàn áp,
bắt bớ, cấm chỉ hoạt động. Chính đây là một trong những biểu hiện của sự bóp
nghẹt về văn hoá trong quá trình cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng làm cho
đất nước Việt Nam tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hoá của các nền văn hoá
thế giới. Hồ Chí Minh không phải là con người theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà
là một con người có ý thức chủ động, tích cực tiếp nhận văn hoá của nước khác.
Hồ Chí Minh yêu mến văn hoá Pháp, yêu mến văn hoá Mỹ trong khi thực dân
Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược đất nước Việt Nam.
Quá trình tiếp nhận như vậy là quá trình làm giàu cho kho tàng văn hoá dân tộc.
Nhưng, ở Hồ Chí Minh, sự tiếp biến, giao lưu văn hoá có mấy điểm đáng lưu ý
nhất:
Một
: có thái độ chủ động, không được có tinh thần đóng cửa, bài ngoại; nói như
danh từ hiện đại thì là phải tích cực, chủ động hội nhập.
Hai
: trong giao lưu văn hoá, phải tiếp thu những điều tốt đẹp, không lai căng. Với
tinh thần đó, trong suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam không mặc cảm tự ty mà chủ
động giao lưu và tự khẳng định bản sắc dân tộc mình. Hồ Chí Minh cho rằng, phải
mở rộng kiến thức của mình về văn hoá thế giới, nhưng cũng tránh nguy cơ
chúng ta trở thành những kẻ bắt chước; rằng, không thể lấy từ nghệ thuật của
dân tộc khác những mặt nào đó mà không chú ý chọn lọc; văn hoá của dân tộc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status