NGHIỆP VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI NHỮNG VẤN ĐỀ
CÓ TÍNH CHẤT LÝ LUẬN.
I - Tổng quan về nghiệp vụ bảo lãnh của NHTM
1. Sự ra đời và quá trình phát triển nghiệp vụ bảo lãnh của NHTM.
1. 1. Sự ra đời.
Trong nền kinh tế hàng hoá hiện đại, hoạt động thương mại phát triển mạnh mẽ với xu
hướng toàn cầu hoá sâu sắc. Điều này bắt nguồn từ nhu cầu ngày càng cao của xã hội về
các loại hàng hoá, dịch vụ nhằm phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng. Hơn nữa, các quốc gia
với mục tiêu phát huy những lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh của mình, đã và đang thực
hiện chính sách kinh tế mở, thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế phát triển. Song điều
này cũng ẩn chứa nhiều rủi ro cho các doanh nghiệp do những biến động bất thường về
chính trị, kinh tế - xã hội trên toàn cầu đã tác động tiêu cực tới hoạt động kinh doanh. Mặt
khác, khi thương mại mở rộng không biên giới thì rủi ro về thông tin không cân xứng cho
một doanh nghiệp là rất lớn, từ đó rủi ro về đạo đức do bạn hàng không đáp ứng các hợp
đồng đã ký kết là khó tránh khỏi. Hoặc nếu họ có thể tìm hiểu được thông tin thì việc tranh
thủ cơ hội kinh doanh và chi phí bỏ ra đã cản trở họ thực hiện, gây ảnh hưởng đến hoạt
động thương mại và giảm hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. Để khắc phục điều này, đòi
hỏi phải có một sự đảm bảo cho các giao dịch diễn ra an toàn, tạo độ tin cậy giữa các đối
tác kinh doanh.
Như vậy, từ bản thân nền kinh tế xuất hiện nhu cầu có một sự đảm bảo trong các giao dịch,
dẫn tới một hình thức giao dịch đảm bảo ra đời với hình thức biểu hiện là sự đảm bảo của
một bên thứ ba, có đủ tư cách và năng lực thực hiện nhằm điều hoà quan hệ, tạo sự tín
nhiệm cho đối tác. Đó chính là hoạt động bảo lãnh.
1. 2. Quá trình phát triển của bảo lãnh ngân hàng.
Bảo lãnh ngân hàng là một dạng nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, xuất hiện vào giữa
những năm 60, trong thị trường nội địa nước Mỹ. Sau đó vào đầu những năm 70, bảo lãnh
bắt đầu được sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế. Vào thời gian này, các quốc
gia thịnh vượng mau chóng vì sản xuất dầu hoả ở Trung Đông liên tục kí kết những hợp
đồng kinh tế lớn với các nước phương Tây để thực hiện các dự án cải tạo cơ sở hạ tầng, dự
án canh tân công, nông nghiệp, quốc phòng. . . Giá trị rất lớn của các hợp đồng và thế
mạnh về tài chính của các quốc gia Trung Đông đã cho phép họ phải có một sự bảo đảm
3. Đặc điểm bảo lãnh ngân hàng :
Bảo lãnh ngân hàng là một mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau. Trong một
nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và
người hưởng bảo lãnh, mà còn bao hàm những mối quan hệ khác. Đó là :
Quan hệ giữa người được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh. Đây là quan hệ gốc, là cơ
sở phát sinh yêu cầu bảo lãnh.
Quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh và người được bảo lãnh. Đó là quan hệ giữa ngân
hàng cấp tín dụng và khách hàng hưởng tín dụng.
Cả ba mối quan hệ này cùng tồn tại song song và cùng chấm dứt.
Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng không dùng vốn của ngân hàng, mà
dùng đến uy tín của ngân hàng.
Một nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng thường có ít nhất ba thành phần sau :
Người bảo lãnh : là người phát hành bảo lãnh.
Người được bảo lãnh : là người yêu cầu bảo lãnh.
Người thụ hưởng bảo lãnh : là người nhận cam kết bảo lãnh.
4. Chức năng chủ yếu của bảo lãnh ngân hàng :
Bảo lãnh ngân hànglà công cụ bảo đảm.
Đây là chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh. Bằng việc cam kết chi trả bồi thường khi
xảy ra các biến cố vi phạm hợp đồng của người được bảo lãnh, các ngân hàng phát hành
bảo lãnh đã tạo ra một sự đảm bảo chắc chắn cho người thụ hưởng. Chính sự tin tưởng này
tạo điều kiện cho hợp đồng được ký kết một cách suôn sẻ thuận lợi. Đây cũng chính là
điểm khác biệt cơ bản giữa bảo lãnh ngân hàng và tín dụng thư thương mại ( tín dụng
chứng từ ). Do việc thanh toán dựa trên biến cố vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của người
được bảo lãnh ( chẳng hạn như : giao hàng không đúng kế hoạch, không đạt chất lượng
theo hợp đồng kinh tế đã ký kết, thanh toán tiền hàng không đúng hạn. . . ) nên trong thực
tế tỷ trọng các bảo lãnh được yêu cầu thanh toán không cao, thông thường chỉ khoảng dưới
5% ( chẳng hạn tại Mỹ chỉ có khoảng 1% trong số các bảo lãnh ngân hàng được yêu cầu
thực hiện thanh toán ).
Bảo lãnh ngân hànglà công cụ tài trợ.
Không chỉ là công cụ bảo đảm đối với người thụ hưởng, bảo lãnh còn là công cụ tài trợ
Các tài liệu liên quan đến giao dịch được yêu cầu bảo lãnh, chẳng hạn như : phương án
sản xuất kinh doanh, giấy phép xuất nhập khẩu hàng hoá, hợp đồng thương mại, dịch vụ. . .
Các tài liệu liên quan đến bảo đảm cho việc bảo lãnh, chẳng hạn như : giấy tờ thế chấp,
cầm cố tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba. . .
Xét duyệt :
Soạn thảo
văn bản BL
Lập hồ sơ
và xét duyệt
Kết thúc
BL
Giám sát
và xử lý
Phát hành
văn bản BL
Dựa vào các tài liệu trên kết hợp với những thông tin bổ sung từ các nguồn khác như :
phỏng vấn trực tiếp khách hàng ; sách báo, tạp chí ; trung tâm thông tin tín - CIC. . . , cán
bộ tín dụng sẽ tiến hành phân tích khách hàng. Trong quá trình phân tích, tìm hiểu về khả
năng tài chính, khả năng thực hiện hợp đồng và uy tín của khách hàng, cán bộ tín dụng chủ
yếu nhằm định lượng rủi ro về phía khách hàng (người được bảo lãnh ) ; từ đó xem xét có
chấp nhận bảo lãnh hay không. Nếu mức độ rủi ro được đánh giá ở mức cho phép thì chấp
nhận bảo lãnh còn nếu mức độ rủi ro được đánh giá ở mức không cho phép thì từ chối bảo
lãnh.
1. 2. Soạn thảo văn bản bảo lãnh :
Cơ sở soạn thảo văn bản bảo lãnh :
Đây là một công việc đặc biệt quan trọng trong toàn bộ qui trình bảo lãnh. Do yêu cầu
bảo lãnh xuất phát từ hợp đồng, nên các yếu tố trong văn bản bảo lãnh không phải do ngân
hàng tự sáng tạo hoặc đề xuất mà phải đưọc xây dựng từ nội dung hợp đồng giao dịch và
giấy đề nghị của khách hàng. Chính vì vậy, hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người
hưởng bảo lãnh được xem như một hợp đồng cơ sở, hợp đồng gốc. Và việc nghiên cứu hợp
hành vi hợp đồng cụ thể nên nội dung văn bản bảo lãnh phải có phần tham chiếu đến số
hiệu hợp đồng gốc.
Số tiền bảo lãnh.
Số tiền bảo lãnh giới hạn mức thanh toán của ngân hàng bảo lãnh đối với người thụ
hưởng nên khi xảy ra biến cố vi phạm của người được bảo lãnh, người thụ hưởng không có
quyền đòi bồi thường nhiều hơn số tiền này cho dù giá trị thiệt hại thựctế lớn hơn. Số tiền
bảo lãnh thường được qui định theo mức tối đa và xác định dựa trên bản chất của giao dịch
cũng như giá trị hợp đồng gốc. Thông thường số tiền bảo lãnh được ghi chính xác theo giá
trị tuyệt đối, tránh trường hợp ghi theo tỉ lệ phần trăm so với giá trị hợp đồng gốc ( để đề
phòng hợp đồng gốc có thể thay đổi sau khi bảo lãnh đã được phát hành ). Một điểm khác
cũng cần lưu ý là điều khoản giảm thiểu giá trị bảo lãnh ( nếu có ) cũng phải được đưa vào
trong văn bản bảo lãnh để tránh sự lạm dụng từ phía người thụ hưởng. Chẳng hạn trong
bảo lãnh hoàn thanh toán, giá trị bảo lãnh tối đa bằng số tiền ứng trước của của người được
bảo lãnh. Nhưng giá trị bảo lãnh này sẽ giảm tương ứng theo nghĩa vụ đã hoàn thành của
người được bảo lãnh. Khi người được bảo lãnh hoàn thành toàn bbọ nghĩa vụ của họ thì
giá trị bảo lãnh chỉ còn bằng không.
Các điều kiện thanh toán.
Phần này qui định các chứng từ cần thiết phải xuất trình, làm cơ sở cho việc thực hiện
cam kết thanh toán của ngân hàng bảo lãnh. Khi các điều kiện này được thoả mãn thì ngân
hàng bảo lãnh có nghĩa vụ phải chi trả và người thụ hưởng được quyền nhận bồi thường.
Việc qui định các loại chứng từ xuất trình để thanh toán tuỳ thuộc vào việc lựa chọn điều
kiện thanh toán của bảo lãnh mà cơ sở của nó là sự thoả thuận giữa người thụ hưởng và
người được bảo lãnh cũng như vị thế của từng bên trong hợp đồng chính, ngân hàng hoàn
toàn không can thiệp vào. Tuy nhiên, để ngân hàng có thể thực hiện tốt vai trò kiểm tra
trước khi thanh toán của mình, các chứng từ thanh toán cần phải được qui định cụ thể, chi
tiết và rõ ràng.
Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh.
Đây là khoảng thời gian mà ngân hàng phát hành với tư cách là người bảo đảm, chịu
trách nhiệm thực hiện cam kết thanh toán bất cứ khi nào điều kiện thanh toán dược thoả
mãn. Quá thời hạn hiệu lực qui định, ngân hàng được giải phóng khỏi nghĩa vụ bảo lãnh đã