VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA.
1.1-/ CÔNG NGHIỆP HÀNG TIÊU DÙNG, NHU CẦU, VAI TRÒ CỦA CÔNG
NGHIỆP SẢN XUẤT HÀNG TIÊU DÙNG TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC
DÂN VÀ VỚI THỦ ĐÔ.
1.1.1-Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và những đặc điểm của nó:
Hàng công nghiệp tiêu dùng là những hàng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu
dùng của con người ở những mức độ và trình độ khác nhau do ngành công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng tạo ra.
Hàng công nghiệp tiêu dùng có nhiều loại, tuỳ theo các tiêu thức khác nhau
có thể phân loại như sau:
- Căn cứ theo chủ thể thoả mãn nhu cầu có thể chia hàng công nghiệp tiêu
dùng phục vụ cá nhân và hàng công nghiệp tiêu dùng phục vụ xã hội.
- Căn cứ theo mức độ thu nhập của dân cư hàng công nghiệp tiêu dùng được
chia thành công nghiệp tieeu dùng thông thường và công nghiệp tiêu dùng cao cấp.
- Căn cứ theo phạm vi thị trường hàng công nghiệp tiêu dùng được tiêu thụ
trong nước và hàng công nghiệp tiêu dùng dành cho xuất khẩu ra thị trường nước
ngoài.
Vì vậy có thể định nghĩa: Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng là một bộ
phận của ngành công nghiệp chuyên sản xuất hàng hoá công nghiệp tiêu dùng
nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của con người ở những mức độ và trình độ khác
nhau. Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường có những
đặc điểm chủ yếu như sau:
Thứ nhất: Hàng tiêu dùng mang tính nhạy cảm và chịu sự biến động lớn:
Sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng chịu ảnh hưởng của sự biến động
từ các nhân tố như: Thời gian, chất lượng, giá cả thị trường sự phát triển của khoa
học công nghệ, nền kinh tế đóng hay mở và các nhân tố khác. Các nhân tố nói trên
biến động theo thời gian, theo dòng lịch sử cho thấy sản phẩm của ngành công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng tương ứng với cuộc cách mạng công nghiệp ở nước
Anh vào 30 năm cuối thế kỷ 18 và hơn 50 năm cuối thế kỷ 19, mở đầu nền văn
minh công nghiệp của nhân loại đánh dấu một bước phát triển mới về kỹ thuật.
này trong tiến trình phát triển sản xuất hàng tiêu dùng.
Thứ ba: Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng xét về mặt sản xuất và tiêu
thụ hàng tiêu dùng mang tính phổ biến vàg liên tục với quy mô ngày càng lớn:
Dưới góc nhìn tiêu dùng hàng do công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng tạo ra
rất cần thiết và gần gũi với mọi người. Con người và xã hội muốn tiến hành các
hoạt động kinh tế, chính trị, tư tưởng... trước hết họ cần phải có cái để ăn, mặc, ở,
học tập, đi lại ... tất cả những cái đó đều do công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
tạo ra mà bất cứ xã hội nào cũng cần đến. Xã hội muốn tồn tại và phát triển không
thể không liên tục sản xuất ra hàng tiêu dùng và với quy mô ngày càng nhiều hơn.
Với đặc điểm này đòi hỏi ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phải làm rõ
mục tiêu và theo đó là những nguồn lực (Thiết bị máy móc, lao động, vốn và các
yếu tố khác). Yếu tố vốn liên quan đến chính sách tín dụng, liên quan đến vai trò
của tín dụng nói chung và nhất là đối với tín dụng ngân hàng.
Thứ tư: Ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng mà sự hoạt động của nó
không chỉ mang tính quốc gia mà còn mang tính quốc tế: Đặc điểm này xuất phát
từ yêu cầu của quy luật phân công và hợp tác lao động quốc tế, hợp tác sản xuất,
hợp tác khoa học kỹ thuật và công nghệ giữa các nước. Xuất phát từ yêu cầu phải
thực hiện xu hướng toàn cầu hoá, quốc tế hoá và khu vực hoá mà mỗi quốc gia là
một bộ phận.
Tính quốc tế của công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng còn xuất phát từ yêu
cầu thực hiện chiến luực công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu hàng tiêu dùng ra thị
trường quốc tế nên sản phẩm đó phải phù hợp với thị hiếu, tập quán của các nước
nhập khẩu và đặc biệt phải coi trọng về mặt chất lượng, giá cả bán ra trên thị
trường quốc tế. Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh về chất lượng và giá
cả trên thị trường trong nước đã khó việc đứng vững trên thị trường quốc tế càng
khó khăn hơn. Ở nước ta mặc dù có lợi thế về nguồn lao động rồi rào và theo đó
mức tiền lương thấp, có lợi thế nhất định về một số tài nguyên. Song do điểm xuất
phát thấp- sản xuất nhỏ. Khó khăn của ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
ở nước ta có nhiều nhưng gay go nhất là trình độ kỹ thuật và công nghệ lạc hậu đòi
hỏi phải gấp rút đổi mới. Song không thể đổi mới nếu không đầu tư chiều sâu để
sự suy thoái hoặc hưng thịnh, liên quan đến sự tồn vong của thể chế mà mỗi quốc
gia đang theo đuổi. Bởi vậy trong các chương trình nghị sự dài hạn, trung hạn và
ngắn hạn của các Chính phủ mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế chiếm vị trí
hàng đầu sự nghiệp tăng trưởng và phát triển kinh tế của nền kinh tế quốc dân nhịp
độ tăng nhanh hay chậm, cao hay thấp, bền vững hay không lại phụ thuộc vào sự
tăng trưởng và phát triển của các ngành trong đó có ngành công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng. Ở nước ta sau 10 năm đổi mới có mức độ tăng trưởng đáng kể
trong đó có công nghiệp SXHTD mức tăng trưởng bình quân trong 5 năm 1994-
1998 là 8.2% sự phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thời gian qua còn
góp phần hình thành các khu công nghiệp tập trung (Bao gồm khu chế xuất và khu
công nghiệp kỹ thuật cao) ở các địa phương trong cả nước đáng chú ý là Hà nội và
Thành phố Hồ Chí Minh. Sự phát triển công nghiệp SXHTD mà nguyên liệu lấy từ
nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp với công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng
hình thành cơ cấu nông- công nghiệp chế biến và dịch vụ ở nông thôn và ven các
thành phố theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Bằng cách đó tăng thu nhập,
nâng cao sức mua của dân cư nông thôn mở rộng thị trường nông thôn, một thị
trường rộng lớn đầy hứa hẹn cho sự phát triển công nghiệp, trong đó công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng.
Thứ ba: Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phát triển góp phần tăng
nguồn thu cho ngân sách nhà nước:
Thông qua các khoản thuế mà các doanh nghiệp công nghiệp SXHTD nộp
cho nhà nước. Sự phát triển nhanh chóng và có hiệu quả của ngành công nghiệp
SXHTD góp phần tăng khả năng tích luỹ vốn trong các doanh nghiệp CNSXHTD
góp phần giảm tỷ lệ đầu tư vốn từ ngân sách (Nhất là các doanh nghiệp
CNSXHTD thuộc kinh tế nhà nước). Từ đó dành vốn từ ngân sách nhà nước đầu tư
vào các ngành then chốt trọng yếu khác gắn với hàng hoá công cộng hay nói cách
khác sự phát triển có hiêụ quả của công nghiệp SXHTD góp phần vào vệc lành
mạnh hoá nền tài chính quốc gia ở nước ta.
Thứ tư: Sự phát triển có hiệu quả CNSXHTD góp phần thực hiện tốt chính
sách tiền tệ, chính sách tín dụng: Hoạt động của các doanh nghiệp CNSXHTD
sắm hàng tiêu dùng... nhưng chưa có tích luỹ vốn kịp. Như vậy trong cùng một thời
điểm, một số người có vốn nhưng chưa cần sử dụng có nhu cầu cho vay, một số
người khác cần vốn nhưng lại chưa có, làm nảy sinh quan hệ tín dụng và tín dụng
xuất hiện là một tất yếu khách quan. Đặc điểm quan trọng của tín dụng là người
cho vay có quyền sở hữu nhưng không có quyền sử dụng, còn người đi vay có
quyền sử dụng nhưng không có quyền sở hữu. Nói cách khác đặc điểm của vốn tín
dụng là quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng.
Ngoài ra tín dụng nước ta còn có các đặc điểm sau:
Thứ nhất: Quan hệ tín dụng dựa trên nền kinh tế hàng hoá mới hình thành,
đang trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường nên tín dụng ngân hàng đã
và đang phát triển thêm nhiều hình thức mới, phù hợp với yêu cầu hình thành và
phát triển kinh tế hàng hoá theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thứ hai: Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở nền kinh tế tồn tại nhiều thành
phần, vưà cạnh tranh, vừa hợp tác với nhau dưới sự quản lý và điều tiết thống nhất
của nhà nước. Nhận thức đúng đặc điểm này sẽ làm cho quan hệ tín dụng không bị
biến dạng, không dẫn đến bị lợi dụng, chiếm dụng hoặc chiếm đoạt vốn của nhà
nước và của nhân dân.
Thứ ba: Quan hệ tín dụng trong quá trình chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập
trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước.,
Theo dòng lịch sử hình thành và phát triển cơ chế thị trường và quan hệ tín dụng
cho thấy:
- Cơ chế thị trường được hình thành và phát triển sớm đó là cơ chế thị
trường tự do, gắn với ”Bàn tay vô hình” theo quan điểm của Ađam-smith, cơ chế
này có vai trò tích cực, song không thể không có những hạn chế nhất định mà việc
khắc phục những hạn chế không thể thiếu được vai trò quản lý, điều tiết của nhà
nước với tư cách là ”Bàn tay vô hình” trong nền kinh tế thị trường hiện đại.
- Cũng như việc hình thành các quan hệ tín dụng lúc đầu do tư nhân tiến
hành phát triển một cách tự phát, mà lãi suất của nó từ chỗ ”nặng lãi” không theo
quy luật giá trị, đến chỗ vận động theo cơ chế thị trường lên xuống theo quan hệ
cung cầu vốn trên thị trường do các ngân hàng thương mại tư nhân thao túng. Tất