Văn hóa kinh doanh của các doanh nghiệp hàn quốc ở việt nam - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN VIẾT LỘC

VĂN HÓA KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
CÓ VỐN ĐẦU TƯ HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI - 2008


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, cạnh tranh quốc tế ngày càng
trở nên gay gắt, đòi hỏi các DN phải biết khai thác các thế mạnh riêng có,
trong đó khai thác các nhân tố văn hóa là một điển hình. Nền kinh tế toàn cầu
làm cho môi trường kinh doanh biến đổi nhanh hơn, tác động làm nâng các
chuẩn mực văn hóa lên cao khiến các DN phải xây dựng được VHKD có tính
thích nghi tốt.
Ở Việt Nam, sau hơn 20 năm đổi mới, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế,
đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng. Tính đến nay đã có 78 quốc gia và
vùng lãnh thổ đầu tư vốn làm ăn tại Việt Nam. Dẫn đầu các quốc gia là Hàn
Quốc với hơn 12,7 tỷ USD (chiếm 15% trong tổng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam là 78 tỷ USD). Hàn Quốc cũng là nước có số dự án đầu
tư vào Việt Nam lớn nhất, với trên 8.400 dự án [30].
Với tỷ trọng vốn đầu tư lớn, các DN Hàn Quốc đóng vai trò hết sức
quan trọng và có tác động ảnh hưởng không chỉ đến phát triển kinh tế mà

Minh Cương - 2001; Nguyễn Hoàng Anh - 2002; Dương Thị Liễu và các
đồng sự - 2004) đã nghiên cứu khá sâu sắc về mối quan hệ giữa văn hóa và
kinh tế, kinh doanh; tổng quan khá đầy đủ các quan niệm về triết lý kinh
doanh, đạo đức kinh doanh, về văn hóa doanh nhân..., các yếu tố cấu thành và
các nhân tố ảnh hưởng tới chúng. Tuy nhiên, các tác giả cũng có các quan điểm
khác nhau về một số vấn đề, chẳng hạn như về các yếu tố cấu thành VHKD, văn
hoá DN. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng bất đồng này là chưa có sự thống
nhất về khái niệm, đặc trưng của VHKD.
Về nghiên cứu VHKD của DN có vốn đầu tư nước ngoài nói chung và của
DN Hàn Quốc ở Việt Nam nói riêng, đã có một số công trình nghiên cứu về
VHKD của một tập đoàn, doanh nghiệp cụ thể và chủ yếu là nghiên cứu ảnh


3

hưởng của nhân tố văn hóa đến hoạt động kinh doanh của DN, hay văn hoá ứng
xử đặc trưng của các quốc gia (Mai Thanh Lan - 2007; Nguyễn Văn Dân - 2006;
Phạm Mai Hương - 2005). Một số nghiên cứu khác như: Về sự khác biệt tính
cách giữa văn hóa Hàn Quốc so với văn hóa Việt Nam (Trần Ngọc Thêm 2007); Văn hóa giao tiếp của người Hàn Quốc, so sánh với Việt Nam (của Phan
Thu Hiền - 2007).
Có một số tác giả tập trung phân tích ảnh hưởng của cơ chế, chính sách,
môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội đối với các DN Việt Nam nói chung cũng
như DN nước ngoài nói riêng, hay phân tích ảnh hưởng của các yếu tố môi
trường ở góc độ thu hút vốn đầu tư nước ngoài (Phùng Xuân Nhạ - 2006; Đỗ
Huy - 1996; Nguyễn Anh Dũng - 2000; Vũ Quốc Tuấn - 2001; Nguyễn
Quang Vinh - 2002; Lê Quý Đức - 2005). Các nghiên cứu này đã giới thiệu
và đề xuất được một số giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, phát huy
vai trò các nhân tố của VHKD, nhưng chủ yếu mới dừng ở dạng các kiến nghị
riêng lẻ mà chưa được xây dựng thành một hệ thống cơ chế, chính sách, giải
pháp cụ thể.

Trên cơ sở khái quát các vấn đề lý luận và thực tiễn về VHKD, đề tài
góp phần làm sáng tỏ thực trạng VHKD trong các DN Hàn Quốc ở Việt Nam
nhằm tìm câu trả lời thuyết phục cho các câu hỏi nêu ở phần trên.
Để thực hiện mục đích đó, đề tài có nhiệm vụ sau:
- Hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn VHKD trong các DN Hàn
Quốc ở Việt Nam.
- Phân tích thực trạng VHKD trong các DN Hàn Quốc ở Việt Nam.
- Đưa ra một số gợi ý giải pháp nhằm cải thiện VHKD trong các DN Hàn
Quốc ở Việt Nam.


5

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là VHKD của các DN Hàn Quốc ở Việt
Nam.
Đối tượng khảo sát là các DN Hàn Quốc ở Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu là VHKD được nghiên cứu dưới góc độ nghĩa rộng,
tức là toàn bộ các nhân tố văn hóa trong hoạt động kinh doanh của DN.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp kế thừa: Thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các tài
liệu từ các nghiên cứu trước, kế thừa có chọn lọc những tài liệu này.
- Khảo sát thực tiễn: Do một số vấn đề nghiên cứu của đề tài còn khá
mới mẻ, do đó cần phải khảo sát thực tế ở một số DN Hàn Quốc điển hình
trên cả nước. Phương pháp chọn mẫu sẽ được sử dụng khi tiến hành khảo sát,
điều tra xã hội học để các đánh giá được sát thực.
- Nghiên cứu liên ngành: Nội dung nghiên cứu của đề tài liên quan đến
nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành như: Xã hội học, Tâm lý học, Triết
học, Ngôn ngữ học, Văn hóa học, Kinh tế học, v.v…nên trong quá trình triển

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
VĂN HÓA KINH DOANH TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP HÀN QUỐC Ở VIỆT NAM
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1.1. Khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Văn hoá kinh doanh
Văn hóa hiện diện và thẩm thấu vào mọi khía cạnh của đời sống con
người như một yếu tố không thể thiếu được của tổng thể xã hội. Tuy vậy, điều
này không có nghĩa là con người nhận thức được một cách rõ ràng kiến trúc
của văn hóa trong mỗi hoạt động hoặc có thể định liệu được những liên hệ
mật thiết có tính chất văn hóa trước khi đi đến những quyết định. Người ta
ngày càng nhận ra rằng văn hóa tham gia vào mọi quá trình hoạt động của con
người. Và đã đi sâu tìm hiểu những sắc thái văn hóa của các hoạt động của
con người như: văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, văn hóa giáo dục, văn
hóa gia đình... Kinh doanh là một hoạt động đặc thù của con người, do vậy nó
cũng là một phạm trù của văn hóa.
Có khá nhiều quan niệm, định nghĩa về VHKD. Trước khi đi đến một
định nghĩa mang tính khái quát cao, chúng ta khảo sát một số định nghĩa điển
hình:
- Theo các nhà nghiên cứu của Viện Kinh doanh Nhật Bản - Hòa Kỳ
(JABA), "VHKD có thể được định nghĩa như ảnh hưởng của những mô hình
văn hóa của một xã hội đến những thiết chế và thông lệ kinh doanh của xã hội
đó" [5, tr.13].
- Theo Vern Terspstra và Kenneth David (Trường Đại học Michigan Hoa Kỳ), "VHKD bao gồm những nguyên tắc điều chỉnh việc kinh doanh, việc


8

ấn định ranh giới giữa hành vi cạnh tranh và các ứng xử vô đạo đức, những

trong quá trình kinh doanh hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và
đặc thù của họ" [8, tr.50].
Định nghĩa trên tiếp cận VHKD từ hai phương diện là những nhân tố
văn hóa được lựa chọn từ văn hóa dân tộc đưa vào hoạt động kinh doanh và
những nhân tố văn hóa được chủ thể kinh doanh tạo ra trong quá trình kinh
doanh. Tuy nhiên, trên thực tế không có sự tách bạch như vậy mà hai loại
nhân tố hòa quyện, thẩm thấu vào nhau để tạo thành các yếu tố cấu thành
VHKD.
Qua các phân tích ở trên, có thể đưa ra một khái niệm chung về VHKD,
đó là: "VHKD là toàn bộ các nhân tố văn hóa đƣợc chủ thể kinh doanh
chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong quá trình hoạt động sản xuất,
kinh doanh từ đó tạo nên bản sắc kinh doanh riêng có của chủ thể".
Chọn lọc các nhân tố văn hóa dân tộc, văn hóa xã hội (đó là phong tục,
tập quán, thói quen, giá trị, thẩm mỹ, ngôn ngữ, tôn giáo...) để đưa vào quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh; Và trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, chủ thể tạo ra nhân tố văn hóa đặc thù của mình (phong cách, phong
thái kinh doanh, hệ giá trị, hình thức mẫu mã sản phẩm, kiến trúc nội thất...
của DN, hay của một dân tộc, quốc gia); Sử dụng các nhân tố văn hóa đã
được chọn lọc và tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh vào việc nâng
cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó tạo nên bản sắc kinh
doanh riêng của chủ thể.
1.1.1.2. Văn hoá doanh nghiệp
Văn hóa DN là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt
quá trình tồn tại và phát triển của một DN, trở thành các giá trị, tiêu chuẩn,
các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của DN ấy và
chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của DN trong
việc theo đuổi và thực hiện mục đích chung.


10

11

Qua các định nghĩa trên cho thấy, phần lớn các ý kiến mới chỉ dừng lại ở
những giá trị cần phải có bên trong DN mà chưa đề cập đến những yếu tố có
thể nằm vượt ra bên ngoài DN mà có tác động đến việc tạo nên bản sắc riêng
của DN, đó chính là môi trường văn hoá và những yếu tố văn hoá hợp thành
trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Với quan niệm như vậy, văn hóa DN sẽ bao gồm:
- Môi trường văn hoá của DN;
- Hệ thống các giá trị của DN;
- Các nhân tố văn hoá trong sản xuất, kinh doanh của DN.
Và chính văn hóa DN tạo nên sự đặc thù, khác biệt cho DN, là cái phân
biệt giữa DN này với DN khác; là một “tiểu văn hoá” và là cái bộ phận nếu so
sánh với nền văn hoá của một dân tộc hay một quốc gia.
Một định nghĩa thể hiện được các quan điểm nêu trên là của TS. Đỗ
Minh Cương: “Văn hóa DN là một dạng của văn hoá tổ chức bao gồm
những giá trị, những nhân tố văn hoá mà DN kế thừa và sáng tạo ra trong
quá trình sản xuất kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của DN và tác động tới
tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó”.
Để phục vụ cho việc nhận diện văn hóa của một DN, người ta đưa ra các
mô hình về văn hóa DN hiện nay.
Các mô hình văn hóa DN:
Có thể khi thành lập DN, nhà sáng lập thường "vay mượn" ý tưởng các
mô hình mẫu hay mô hình lý tưởng phù hợp. Với môi trường kinh doanh đa
văn hoá ngày nay, các nhà kinh tế đã khái quát hoá nên bốn mô hình văn hóa
DN và chỉ ra những nền văn hoá bản địa khác nhau có ảnh hưởng như thế nào
đến từng mô hình là: i) Mô hình văn hoá gia đình; ii) Mô hình văn hoá tháp
Eiffel; iii) Mô hình văn hoá tên lửa dẫn đường; iv) Mô hình văn hoá lò ấp trứng.




13

Một sự khác biệt nữa của mô hình tháp Eiffel là quá trình phát triển của
DN được hỗ trợ rất nhiều bởi năng lực chuyên môn. Và vì thế hầu hết các DN
theo mô hình gia đình thường không chấp nhận mô hình tháp Eiffel. Quan hệ
cá nhân làm thiên lệch sự phán quyết, tạo nên chủ nghĩa thiên vị, tạo ra rất
nhiều ngoại lệ và làm mờ ranh giới của giữa vai trò và trách nhiệm.
Hệ thống thứ bậc trong DN theo mô hình này được mô tả, xếp loại theo
mức độ khó, phức tạp và tính trách nhiệm cùng với mức lương tương ứng.
Tiếp đó là sự tìm kiếm ứng viên cho các vị trí đó. Điều này khiến cho công
việc tuyển dụng công bằng, khách quan và kỹ càng và tuân thủ theo nguyên
tắc việc tìm người, giao việc cho những người thích hợp nhất.
Mô hình tháp Eiffel thường được thấy nhiều ở các DN Đức, Australia,
Colombia, Hàn Quốc.
3. Mô hình văn hoá tên lửa dẫn đường
Mô hình văn hóa tên lửa dẫn đường khác với cả hai mô hình văn hoá gia
đình và tháp Eiffel ở chủ nghĩa quân bình, nhưng khác mô hình gia đình và
giống mô hình tháp ở tính khách quan và hướng nhiệm vụ. Mô hình văn hóa
tên lửa dẫn đường gần giống với mô hình tổ chức làm việc theo nhóm (team
work). Mỗi người đều biết rõ phần việc của mình. Làm thế nào để tất cả các
thành viên cùng tham gia hoạt động ? Tất cả đều ngang nhau, hoặc ít nhất gần
như ngang nhau. Người đứng đầu mang tính chất điều phối, phối hợp vì mục
tiêu chung.
Trong mô hình văn hóa tên lửa dẫn đường, sự thay đổi diễn ra nhanh
chóng, mục tiêu luôn vận động, nhiều mục tiêu mới xuất hiện, nhóm làm việc
mới hình thành, nhóm cũ giải tán. Người chuyển từ nhóm này sang nhóm
khác đi đôi với việc chuyển từ việc này sang việc khác dẫn đến xu hướng luân
chuyển công việc cao, lòng trung thành với chuyên môn và công việc lớn hơn
lòng trung thành với công ty. Do đó, xét về nhiều mặt, mô hình văn hóa tên


15

Chủ nghĩa bình quân
Mô hình lò ấp trứng:

Mô hình tên lửa iều

Hướng hoàn thiện

khiển:

cá nhân

Hướng nhiệm vụ

Con ngƣời
Mô hình gia đình:

Mô hình Eiffel:

Hướng cá nhân

Hướng vai trò

Nhiệm vụ

Hệ thống thứ bậc
Hình 1.1. Mô hình văn hoá doanh nghiệp


về thế giới tự nhiên và xã hội của cá nhân đó.
Theo PGS. Hồ Sĩ Quý: "Văn hóa doanh nhân là tập hợp của những giá
trị căn bản nhất, những khuôn mẫu văn hóa xác lập nên nhân cách của con
người doanh nhân, đó là con người của khát vọng làm giàu, biết cách làm
giàu và dấn thân để làm giàu, dám chịu trách nhiệm, dám chịu rủi ro đem
toàn bộ tâm hồn, nghị lực và sự nghiệp của mình ra để làm giàu cho mình,
cho DN và cho xã hội" [7, tr.11].
Như vậy, Văn hóa doanh nhân là toàn bộ các nhân tố văn hóa mà các
doanh nhân chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện chúng trong quá trình
hoạt động kinh doanh của mình.
1.1.2. Các yếu tố cấu thành VHKD
Các nhân tố văn hóa đã được chọn lọc và tạo ra trong quá trình sản xuất
kinh doanh không thể tách bạch sử dụng độc lập mà chúng hòa quyện với
nhau tạo thành hệ thống các nhân tố cấu thành nên VHKD của một DN. Có
thể khái quát thành các nhóm yếu tố cơ bản sau:
1.1.2.1. Triết lý kinh doanh
Khi xem xét quan hệ văn hóa và quản trị theo nghĩa rộng, hoạt động
quản trị, cụ thể là quản trị kinh doanh, vừa là một bộ phận cấu thành văn hóa,


17

vừa là yếu tố chịu ảnh hưởng, chịu sự quy định bởi các yếu tố cấu thành văn
hóa. Phương thức quản trị, hành vi ứng xử đều có bản chất văn hóa theo hai
khía cạnh như vậy, có thể phân theo hai quan hệ ảnh hưởng là:
Thứ nhất, văn hóa tác động đến việc lựa chọn chiến lược kinh doanh của
DN trong môi trường cạnh tranh khốc liệt và đa văn hóa.
Thứ hai, liên quan đến sự ứng xử của chủ thể kinh tế với đối tác: thành
viên trong nội bộ DN (với cấp trên, cấp dưới, người lao động...), với khách
hàng, đối thủ cạnh tranh, các liên minh...


Không hoài nghi

Tính ưu việt, nổi bật trong mọi

Nuôi dưỡng và truyền bá

khía cạnh của công ty

những giá trị tốt đẹp

Tính trung thực và kiên định

Tính sáng tạo, ước mơ, trí

Lợi nhuận từ lao động và có lợi

tưởng tượng

ích cho nhân loại

Tính nhất quán và kỹ lưỡng
Bảo tồn sự kỳ diệu thế giới
Disney

Nordstrom

Sony

Phục vụ khách hàng là tiên

Hộp 1.2. Giá trị cốt lõi của SAMSUNG
Cơ cấu giá trị của Samsung dựa theo hệ thống P-V-P; triết lý quản lý, giá trị cốt lõi, và quy
chuẩn đạo đức (nguyên tắc) toàn cầu.

Con người :
Chúng tôi luôn đánh giá cao vai trò nhân viên của mình. Tin tưởng rằng “Con
người là linh hồn của một công ty”,chúng tôi tạo mọi cơ hội để họ thể hiện năng lực
của mình.
Tính ưu tú :
Với niềm đam mê vô tận và với tinh thần đầy thách thức, chúng tôi nỗ lực hết sức
mình nhằm mang lại cho thế giới những điều tốt đẹp nhất.
Sự Thay đổi :
Chúng tôi nhanh chóng thực hiện thay đổi và cải tiến dựa trên nhận thức về khủng
hoảng: chúng tôi không thể tồn tại nếu chúng tôi không liên tục phấn đấu để đổi
mới.
Tính đồng nhất :
Chúng tôi luôn hành động đúng đắn và có đạo đức,đảm bảo sự công bằng với sự
tôn trọng và lịch thiệp.
Cùng nhau thịnh vượng :
Là một doanh nghiệp gương mẫu, chúng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trong việc
theo đuổi sự thịnh vượng của cộng đồng, quốc gia, và trong cả xã hội loài người.


20

Nguồn: www.samsung.com/vn/aboutsamsung/companyprofile/digitallvision/
CompanyProfile_DigitallVision.htm

1.1.2.2. Đạo đức kinh doanh
Đạo đức kinh doanh (business ethics) là một chủ đề được nêu ra đầu tiên

Với quan điểm như vậy, đạo đức kinh doanh gồm hệ thống các nguyên
tắc ứng xử, các chuẩn mực đạo đức, quy chế, nội quy... giữ vai trò điều tiết
các hoạt động trong quá trình kinh doanh nhằm hƣớng đến triết lý kinh
doanh đã định của DN (xem hộp 1.2 và hộp 1.3 và Phụ lục 3: Các quy tắc
đạo đức tại bàn đàm phán Caux).
Đối tượng điều chỉnh của đạo đức kinh doanh:
Đối tượng điều chỉnh của đạo đức kinh doanh là chủ thể hoạt động kinh
doanh. Bao gồm tất cả những ai là chủ thể của các quan hệ và hành vi kinh
doanh như:
- Doanh nhân: Đạo đức kinh doanh điều chỉnh hành vi đạo đức của tất
cả các thành viên trong các tổ chức kinh doanh như: Ban giám đốc, các thành
viên hội đồng quản trị, các cán bộ nhân viên... Lúc này đạo đức kinh doanh
được gọi là đạo đức nghề nghiệp (đạo đức của doanh nhân sẽ được trình bày
rõ hơn ở mục 1.1.2.3. Văn hóa doanh nhân).
- Khách hàng: Quy luật của quan hệ giữa người mua và người bán là quy
luật "muốn mua rẻ và muốn bán đắt". Ở vị thế khách hàng thường có tâm lý là
"thượng đế" vì vậy cũng cần có định hướng đạo đức kinh doanh phù hợp để
tránh làm xói mòn các tiêu chuẩn đạo đức do đề cao quá lợi ích của một phía.
Ví dụ: Bàn đàm phán Caux tại Thuỷ Sỹ tập hợp các nhà lãnh đạo kinh doanh của các
nước Châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã thống nhất đưa ra một bản quy định đạo đức nghề
nghiệp gồm 13 quy tắc (Chi tiết được trình bày ở phụ lục 3).


22

Hộp 1.3. Các nguyên tắc và chuẩn mực của đạo đức kinh doanh:
- Tính trung thực: Trong kinh doanh không gian dối, xảo trá, giữ chữ tín,
lời hứa, nhất quán giữa nói và làm. Chấp hành nghiêm túc pháp luật. Không sản
xuất các sản phẩm hay có những hoạt động trái với thuần phong mỹ tục.
- Tôn trọng con người: Phải tôn trọng mọi người (tôn trọng khách hàng,

(văn hóa cá nhân, tâm lý cá nhân, kinh nghiệm cá nhân, nguồn gốc đào tạo,
môi trường xã hội, sự hội nhập và thách thức...); Các nguyên tắc định hướng
phong cách doanh nhân (Ví dụ: Luôn bị thôi thúc bởi sự hoàn hảo; Vượt qua
mọi rào cản đề tìm chân lý một cách nhanh chóng; Không tự thỏa mãn; Chấp
nhận thách thức...).
Như vậy, văn hóa doanh nhân là một hệ thống cấu thành bởi năng lực, tố
chất, đạo đức, phong cách của doanh nhân. Nó chịu sự tác động mạnh mẽ của
các nhân tố văn hóa, chính trị, kinh tế, pháp luật. Điều này đặt ra khi xem xét
văn hóa doanh nhân phải căn cứ vào hệ thống các tiêu chuẩn như: đạo đức,
trình độ và năng lực, phong cách...

Hộp 1.4. Tiêu chuẩn đạo đức doanh nhân
1. Tính trung thực: Biểu hiện ở sự nhất quán giữa nói và làm, danh và thực. Không
dùng thủ đoạn, hành vi vi phạm pháp luật, gian dối để kiếm lời. Coi trọng công
bằng, đạo lý.
2. Tôn trọng con người: Coi trọng phẩm giá, nhu cầu, sở tích, tâm lý, quyền lợi
chính đáng của khách hàng, người lao động...
3. Vươn tới sự hoàn hảo: Không ngừng tu dưỡng bản thân, có hoài bão, lý tưởng,
tham vọng. Điều này sẽ giúp doanh nhân hình thành được lý tưởng nghề nghiệp
và nỗ lực để đạt được.


24

4. Đương đầu với thử thách (chấp nhận thách thức): Không ngại khó, ngại khổ.
5. Coi trọng hiệu quả gắn liền với trách nhiệm xã hội: Doanh nhân phải biết không
ngừng nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh, phải có những đóng góp
xứng đáng cho xã hội.
Nguồn: Bộ môn Văn hóa Kinh doanh - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2006), Bài
giảng Văn hóa Kinh doanh, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status