Tác động của các nguồn thu nhập ngoài lãi đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại việt nam - Pdf 68

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

ĐOÀN QUANG TRUNG

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NGUỒN THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN HIỆU
QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH

ĐOÀN QUANG TRUNG

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NGUỒN THU NHẬP NGOÀI LÃI ĐẾN HIỆU
QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng


i


LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là: ĐOÀN QUANG TRUNG, Học viên lớp cao học CH19B1, niên khoá
2017-2019 tại trường ĐH Ngân hàng TP. HCM. Mã học viên: 020119170146.
Tôi xin cam đoan: “Luận văn này chưa từng được trình nộp để lấy học vị thạc sĩ tại
bất cứ một trường đại học nào. Luận văn này là công trình nghiên cứu riêng của tác
giả, kết quả nghiên cứu là trung thực, trong đó không có các nội dung đã được công bố
trước đây hoặc các nội dung do người khác thực hiện ngoại trừ các trích dẫn được dẫn
nguồn đầy đủ trong luận văn.”
TP. Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 09 năm
2019
Ký tên

Đoàn Quang Trung

ii


LỜI CÁM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến TS. Phạm Thị Tuyết
Trinh là người đã hướng dẫn khoa học, cô đã trực tiếp dẫn dắt, dành nhiều thời gian,
tâm huyết hướng dẫn tận tình, đồng thời cho tôi những chia sẻ, góp ý vô cùng quý giá
để tôi có thể hoàn thành luận văn cao học.
Tiếp theo, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo đã dành thời gian để truyền
đạt những tri thức vô cùng quý giá trong thời gian 2 năm gắn bó với lớp CH19B1.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp là những người
đã luôn giúp đỡ, đồng hành và ủng hộ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.

1.6.Những đóng góp của đề tài ...............................
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT ........................................................................

2.1.Các khái niệm cơ bản về NHTM .....................

2.1.1. Khái niệm NH
2.1.2. Phân loại các NHTM theo hình thức sở hữu .............................................
2.1.3. Hiệu quả kinh doanh của NHTM ...............................................................
2.1.4. Các nguồn thu nhập của NHTM ................................................................

2.2.Ảnh hưởng của thu nhập ngoài lãi đến hiệu qu

2.3.Các nhân tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
2.3.1. Nhóm các yếu tố bên trong ngân hàng ......................................................
2.3.2. Nhóm các yếu tố bên ngoài ngân hàng ......................................................

2.4.Các công trình nghiên cứu trước ......................
2.4.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài ....................................................................

2.4.2. Các nghiên cứ


2.5.
CHƯƠNG 3.
3.1.

Kết luận chương 2 ..................................................
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. ...................................................

Mô hình nghiên cứu ................................................

4.1.1.2. Các nguồn thu nhập ngoài lãi ...................

4.1.1.3. Các yếu tố khác ........................................
4.1.2.
4.2.

Phân tích tương

Mô hình cơ bản .......................................................

4.2.1.

Kết quả lựa chọ

4.2.2.

Kết quả hồi quy

4.3.

Mô hình có xem xét ảnh hưởng của yếu tố sở hữu v

4.3.1.

Kết quả lựa chọ

4.3.2.

Kết quả hồi quy



5.2.

Một số gợi ý chính sách nhằm nâng cao HQKD củ

5.2.1.

Một số gợi ý chí


5.2.2.

Một số gợi ý chính sách liên quan đến các yếu tố tác động khác..............58

5.3. Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.......................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................... 62
PHỤ LỤC.................................................................................................................... 65

3


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

Từ viết tắt
1

NHNN

2


10

HĐKD

11

HQKD

12

FEM

13

REM

14

Pooled
OLS

15

GLS

4


DANH MỤC BẢNG

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh thị trường tài chính còn diễn biến phức tạp sau khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới 2008 -2010, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đang đứng
trước những thách thức và cơ hội rất lớn. Sự đổi mới hướng đầu tư của các NHTM để phù
hợp với tình hình kinh tế cụ thể và gia tăng nguồn thu của mình là bước đi cần thiết và
quan trọng. Phát triển dịch vụ phi tín dụng là một lựa chọn thông minh trong bối cảnh hoạt
động tín dụng có quá nhiều rủi ro, nguồn thu từ tín dụng còn rất bấp bên. Tuy nhiên, thực
tế để phát triển dịch vụ phi tín dụng tại các ngân hàng cũng không đơn giản.

Ngày 01/03/2012, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 254/QĐ-TTg
V/v Phê duyệt đề án Cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015, theo đó Từng
bước chuyển dịch mô hình kinh doanh của các NHTM theo hướng giảm bớt sự phụ
thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng. Cho
thấy rằng, chúng ta đã nhận thức được vai trò của dịch vụ phi tín dụng trong việc mang
lại nguồn thu ổn định, an toàn hơn cho các ngân hàng thương mại. Đồng thời, sự phát
triển dịch vụ phi tín dụng có vai trò rất quan trọng, quyết định sự tồn tại của một ngân
hàng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Song cho đến nay, mảng dịch vụ phi tín dụng tại các ngân còn đơn điệu về hình
thức, chất lượng chưa cao, quy mô dịch vụ nhỏ, sức cạnh tranh còn hạn chế; việc xây
dựng chiến lược rõ ràng cho phát triển dịch vụ phi tín dụng chưa được chú trọng, mà
thường lồng ghép vào chiến lược phát triển chung của ngân hàng; Trình độ công nghệ
và nguồn nhân lực chất lượng cao để phát triển các dịch vụ phi tín dụng ứng dụng công
nghệ cao như: giao dịch các công cụ phái sinh, ngân hàng điện tử, ủy thác... còn chưa
được phát huy tối đa để đem lại hiệu quả tương xứng với năng lực và lợi thế; bên cạnh
đó thói quen sử dụng tiền mặt của người Việt Nam cũng là một trở ngại lớn trong việc
phát triển mạng lưới thẻ nói riêng và dịch vụ phi tín dụng nói chung của ngân hàng.
Kết quả là nguồn thu từ hoạt động phi tín dụng của các ngân hàng trong những năm
gần đây dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn khiêm tốn. Vậy giải pháp nào để pháp
triển dịch vụ phi tín dụng thực sự hiệu quả cho các NHTM Việt Nam, đặc biệt là các
NHTMCP ngoài quốc doanh?
6

Luận văn hướng đến giải quyết mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất một số gợi ý chính
sách đối với hoạt động dịch vụ phi tín dụng tại các NHTM Việt Nam nhằm gia tăng
hiệu quả kinh doanh tại các NHTM Việt Nam.
7


1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu tổng quát, luận văn hướng đến giải quyết các
mục tiêu cụ thể:
- Đo lường mức độ tác động của từng nguồn TNNL đến hiệu quả kinh doanh của

các NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2012 - 2018. So sánh sự khác biệt giữa các nhóm
NHTM có hình thức sở hữu khác nhau.
- Đề xuất một số gợi ý chính sách đối với hoạt động dịch vụ phi tín dụng tại các

NHTM Việt Nam nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh tại các NHTM Việt Nam trong
thời gian tới.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn hướng đến giải quyết các câu

hỏi:
- Mức độ tác động của từng nguồn TNNL đến hiệu quả kinh doanh của các

NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2012 - 2018? Có sự khác biệt về mức độ tác động giữa
các nhóm NHTM có hình thức sở hữu khác nhau hay không?
- Trong thời gian tới, cần có những thay đổi chính sách, định hướng như thế nào

đối với hoạt động dịch vụ phi tín dụng để gia tăng hiệu quả kinh doanh của các NHTM
Việt Nam?
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu không cân đối (unbalance) để hồi quy và kiểm định
mô hình, được thu thập từ báo cáo thường niên, BCTC của 29 NHTM tại Việt Nam trong
giai đoạn 2012 -2018. Dữ liệu được thu thập trên website của các NHTM, các dữ liệu công
bố của các NHTM tại các website của các công ty chứng khoán, Ngân hàng Nhà nước và
các chỉ số kinh tế vĩ mô thu thập từ Tổng cục thống kê Việt Nam. Trong đó, số lượng năm
quan sát của các Ngân hàng không bằng nhau do không thu thập được dữ liệu những năm
đó. Do số lượng các NHTM tại Việt Nam khá lớn, đồng thời do điều kiện minh bạch thông
tin tại Việt Nam còn khá hạn chế nên nhiều NHTM không công bố BCTC hoặc công bố
không đầy đủ, nghiên cứu tiến hành lấy mẫu dữ liệu gồm 29 NHTM tại Việt Nam trong
giai đoạn 2012-2018, trong đó gồm 4 ngân hàng lớn có vốn nhà nước chi phối, 22 ngân
hàng của tư nhân và 3 ngân hàng do nước ngoài chi phối điều hành.

1.6. Những đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần bổ sung bằng chứng thực nghiệm về hiệu quả kinh doanh và sự tác
động của từng nguồn TNNL đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam trên

9


cơ sở nghiên cứu có chọn lọc một số quan điểm cơ bản của các tác của công trình
nghiên cứu thực nghiệm đã thực hiện trước đây. Điểm mới và khác biệt của luận văn so
với các nghiên cứu trước ở Việt Nam là có xem xét đến mức độ tác động cụ thể của
từng nguồn TNNL đối với các nhóm NHTM có sở hữu vốn khác nhau đến hiệu quả
kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã đo lường được
mức độ tác động cụ thể của từng nguồn TNNL của các nhóm NHTM có sở hữu vốn
khác nhau đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam, từ đó giúp các nhà quản
trị ngân hàng đề ra các chính sách, chiến lược đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại các nhóm NHTM Việt Nam.

10

chia quyền, lợi ích và nghĩa vụ giữa các thành viên, cổ đông trong công ty. Các tổ chức, cá
nhân có tỷ lệ vốn góp lớn thường sẽ tham gia vào quá trình điều hành

11


của doanh nghiệp nhằm quản trị, định hướng hoạt động của doanh nghiệp nhằm phát
triển doanh nghiệp và tối đa hoá quyền, lợi ích của các thành viên, cổ đông thông qua
sự gia tăng lợi nhuận và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty. Sở hữu
nhà nước đối với các ngành kinh tế chiến lược là điều kiện cần để bắt đầu bước nhảy
phát triển về tài chính, kinh tế, tăng trưởng, theo Flamini và ctg (2009) các ngân hàng
công có thể có những mục tiêu khác hơn là lợi nhuận hoặc giá trị tối đa hóa. Một dạng
khác thu hút nhiều sự chú ý trong các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của ngân
hàng là nhà đầu tư nước ngoài, theo Flamini và ctg (2009) các nước đang phát triển,
các ngân hàng nước ngoài có thể có lợi thế về công nghệ và hiệu quả, nếu những lợi
thế này bù đắp những bất lợi về thông tin so với các ngân hàng trong nước, khả năng
sinh lời có thể cao hơn ở các ngân hàng nước ngoài, đặc biệt là nếu không hoạt động
trong một môi trường cạnh tranh và có thể chuyển những lợi thế này thành lợi nhuận.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả muốn làm rõ vấn đề: Giữa các NHTM có
hình thức sở hữu khác nhau liệu có sự khác biệt giữa mức độ tác động của các nguồn
thu nhập ngoài lãi tác động đến hiệu quả kinh doanh?.
Do đó, nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã phân loại các NHTM
theo tiêu thức hình thức sở hữu vốn nắm quyền chi phối điều hành của các NHTM gồm
3 nhóm: (i) NHTM nhà nước là các NHTM có vốn sở hữu của nhà nước > 50% tại thời
điểm quan sát (Sau đây gọi là Nhóm 1); (ii) NHTM nước ngoài bao gồm các NHTM
100% vốn nước ngoài, NHTM liên doanh có vốn sở hữu nước ngoài chi phối hoạt động
của ngân hàng (Sau đây gọi là Nhóm 2); (iii) NHTM tư nhân bao gồm các NHTM có
vốn sở hữu tư nhân trong nước > 50% và có vốn sở hữu nhà nước < 50% (nếu có) tại
thời điểm quan sát (Sau đây gọi là Nhóm 3);
2.1.3. Hiệu quả kinh doanh của NHTM

ngoài tín dụng cũng như hiệu quả của các sản phẩm dịch vụ này (Hoàng Ngọc Tiến và
Võ Thị Hiền 2010).
Các nguồn thu nhập ngoài lãi được trình bày bao gồm 6 khoản mục, trong đó ngoài
2 khoản mục: “Lãi/lỗ từ hoạt động dịch vụ”, “Lãi/lỗ từ hoạt động khác”, các khoản mục

còn lại được hình thành do các khoản thu nhập từ hoạt động kinh doanh và đầu tư các tài
sản tài chính của ngân hàng mang lại. Do đó, để đơn giản hóa mô hình nghiên cứu, tác giả
đã nhóm các khoản mục thu nhập ngoài lãi thành 3 bộ phận cấu thành nên Thu nhập

ngoài lãi như sau:

13


Bảng 2.1. Phân loại các nguồn TNNL tại NHTM
STT

Các nguồn TNNL

1

Thu nhập thuần từ
động dịch vụ

2

Thu nhập thuần từ
động kinh doanh, đầu tư

3

thường sẽ tham gia vào quá trình điều hành của doanh nghiệp nhằm quản trị, định
hướng hoạt động của doanh nghiệp nhằm phát triển doanh nghiệp và tối đa hoá quyền,
lợi ích của các thành viên, cổ đông thông qua gia tăng lợi nhuận và nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh của công ty.
Sở hữu nhà nước đối với các ngành kinh tế chiến lược là điều kiện cần để bắt đầu
bước nhảy phát triển về tài chính, kinh tế, tăng trưởng. Molyneux và Thornton (1992)
đã cung cấp bằng chứng xuyên quốc gia về mối tương quan dương giữa sở hữu nhà
nước và lợi nhuận ngân hàng dựa trên nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện tại 18
quốc gia thuộc khu vực châu Âu trong giai đoạn 1986-1989. Ngược lại, Barth và ctg
(2004) cho thấy mối tương quan âm giữa sở hữu nhà nước (các ngân hàng có tỉ lệ sở
hữu nhà nước từ 50% trở lên) và hiệu quả ngân hàng, sở hữu của nhà nước liên quan
đến các chính sách hạn chế hoạt động của ngân hàng, giảm cạnh tranh, rào cản hội
nhập tài chính quốc tế như cấm vay nước ngoài và cản trở sự giám sát của khu vực tư.
Một dạng khác thu hút nhiều sự chú ý trong các nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh
của ngân hàng là nhà đầu tư nước ngoài. Nghiên cứu của Choi và Hasan (2005) cung cấp
bằng chứng về tác động có lợi của sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng của Hàn
Quốc, họ thấy có tương quan dương mạnh mẽ về mặt thống kê giữa tỷ lệ sở hữu nước
ngoài và hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Flamini và ctg (2009) cho rằng ở các nước đang
phát triển, các ngân hàng nước ngoài có thể có lợi thế về công nghệ và hiệu quả, nếu
những lợi thế này bù đắp những bất lợi về thông tin so với các ngân hàng trong nước, khả
năng sinh lời có thể cao hơn ở các ngân hàng nội địa, đặc biệt là nếu không hoạt động
trong một môi trường cạnh tranh và có thể chuyển những lợi thế này thành lợi nhuận.
Đồng thời, Demirgüç-Kunt và Huizinga (1999) và Claessens và ctg (2001) cho rằng tác
động của sở hữu nước ngoài sẽ khác nhau tùy theo mức độ phát triển kinh tế của nước chủ
nhà, các ngân hàng nước ngoài sẽ tốt hơn các ngân hàng trong nước ở các nước

15


đang phát triển, nhưng tụt hậu so với các ngân hàng trong nước ở các nước công nghiệp

16


Chi phí hoạt động của ngân hàng: Là khoản phải chi trong kỳ cho hoạt động
kinh doanh và các hoạt động khác. Các NHTM chi phí hoạt động cao sẽ tác động trực
tiếp làm sụt giảm lợi nhuận. Người ta thường dùng tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng tài
sản để đánh giá mức độ hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực của ngân hàng. Tỷ
lệ này càng nhỏ thì càng tốt vì khi đó cần ít chi phí hơn để duy trì hoạt động kinh
doanh của ngân hàng, nói cách khác, ngân hàng tiết kiệm được nhiều chi phí hơn, từ đó
ảnh hưởng gián tiếp đến kết quả kinh doanh của ngân hàng phản thông qua tác động
làm tăng lợi nhuận do tiết kiệm được chi phí.
Tiền gửi của khách hàng: là nguồn huy động vốn chính của các NHTM. Các
NHTM gia tăng quy mô tiền gửi khách hàng sẽ phải gia tăng chi phí do áp lực từ việc
trả lãi cho khách hàng. Tuy nhiên, nguồn vốn từ tiền gửi khách hàng được cho là nguồn
tài trợ ổn định và rẻ hơn so với các nguồn tài trợ khác do đó giúp các ngân hàng tiết
kiệm được chi phí sử dụng vốn so với các kênh tài trợ khác để đầu tư vào các tài sản có
sinh lời khác có mức lợi tức cao hơn. Từ đó, kỳ vọng kiếm được mức lợi nhuận cao
hơn từ hoạt động cho vay truyền thống và các hoạt động đầu tư, góp phần gia tăng hiệu
quả kinh doanh cho ngân hàng.
Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM – Net Interest Margin): chỉ số dùng để xác định
chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí phải trả của NHTM. Các NHTM phải huy động
nguồn lực và sử dụng tài sản có để đưa vào hoạt động kinh doanh nhằm tạo ra lợi
nhuận, tỷ lệ thu nhập lãi thuần cao là một dấu hiệu quan trọng cho thấy ngân hàng đang
thành công trong việc quản lý tài sản và các nguồn lực để gia tăng hiệu quả kinh doanh.
2.3.2. Nhóm các yếu tố bên ngoài ngân hàng
Các nhân tố bên ngoài ngân hàng bao gồm các yếu tố như: Tăng trưởng kinh tế,
Tỷ lệ lạm phát.
Tăng trưởng kinh tế: Hoạt động kinh doanh của ngân hàng có mối quan hệ mật
thiết đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Các NHTM sử dụng nguồn vốn huy động
từ tiết kiệm dân cư để phân phối sang khu vực đầu tư, sản xuất kinh doanh từ đó tạo

giúp tăng lợi nhuận cận biên. Lợi nhuận liên quan đến việc cung ứng kết hợp các khoản
vay với tiền gửi và các sản phẩm phi truyền thống dường như được thúc đẩy bởi việc
giảm chi phí và tăng số lượng sản phẩm cung ứng, chứ không phải tăng giá.
DeYoung và Roland (2001) đã xây dựng một mô hình để kiểm tra xem liệu sự thay
đổi trong việc cung ứng kết hợp sản phẩm có ảnh hưởng đến biến động thu nhập tại 472
ngân hàng thương mại Hoa Kỳ từ năm 1988 đến 1995. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng

18


thu nhập từ phí sẽ làm gia tăng sự biến động lợi nhuận, tuy nhiên sự gia tăng lợi nhuận
liên quan đến thu nhập từ phí bảo đảm bù đắp một phần cho sự gia tăng rủi ro, do đó
việc thay thế các hoạt động cho vay truyền thống bằng các hoạt động thu phí là xu
hướng đang diễn ra tại các NHTM và được đẩy mạnh bởi hiện đại hóa tài chính.
DeYoung và Rice (2004) cho thấy một số mối liên hệ thực nghiệm giữa thu nhập
ngoài lãi, chiến lược kinh doanh, điều kiện thị trường, thay đổi công nghệ và hiệu quả
tài chính giai đoạn 1989 – 2001. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc tăng thu nhập
ngoài lãi của các ngân hàng có liên quan đến sự cải thiện hoặc trở nên tồi tệ cho tình
hình tài chính của ngân hàng. Các ngân hàng lớn tại ra thu nhập ngoài lãi tương đối
nhiều. Tác giả cho rằng trong dài hạn, việc mở rộng các hoạt động dịch vụ đem lại thu
nhập ngoài lãi có thể bị bão hoà và các dịch vụ ngân hàng truyền thống vẫn là trung
tâm hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Joon-Ho Hahm (2008) với nghiên cứu dữ liệu của 662 NHTM từ 29 quốc gia OECD
(Organization for Economic Co-operation and Development - Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hướng đến sự lựa chọn của các ngân hàng về
mức độ đa dạng hoá thu nhập ngoài lãi cho thấy các ngân hàng có xu hướng gia tăng tỷ lệ
thu nhập ngoài lãi cao hơn theo thời gian. Các ngân hàng có quy mô tài sản tương đối lớn,
tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) thấp, tỷ lệ cho vay bị suy giảm cao và tỷ lệ chi phí/thu
nhập cao có xu hướng gia tăng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cao hơn. Đối với các yếu tố kinh tế
vĩ mô, các ngân hàng ở các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm, môi trường lạm phát

còn khá mới mẻ, chưa được tiếp cận nhiều, có thể kể đến một số nghiên cứu sau:
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Cành và ctg (2015) đã làm sáng tỏ tác động của đa
dạng hóa thu nhập đối với rủi ro của ngành ngân hàng Việt Nam. Bằng cách phân tích
một tập hợp dữ liệu gồm 32 ngân hàng thương mại trong nước trong giai đoạn từ 2005
đến 2012, nghiên cứu các ngân hàng có thu nhập ngoài lãi cao có rủi ro thấp hơn so với
những ngân hàng có thu nhập chủ yếu từ lãi. Xem xét hiệu ứng kích thước, kết quả
cũng chủ yếu là chính xác cho các ngân hàng lớn. Tuy nhiên, đối với các ngân hàng
nhỏ, tác động của đa dạng hóa thu nhập không được xác nhận rõ ràng. Ngoài ra, bài
báo điều tra hai mẫu: ngân hàng niêm yết và chưa niêm yết. Kết quả cũng chỉ ra những
tác động tích cực của việc đa dạng hóa đối với rủi ro ngân hàng của các danh mục này.
Lê Long Hậu và Phạm Xuân Quỳnh (2016) đã sử dụng dữ liệu từ báo cáo tài chính,
báo cáo thường niên của 26 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 20062014, nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa đa dạng hóa thu nhập và hiệu quả kinh doanh
của các NHTM Việt Nam. Kết quả ước lượng hồi quy dữ liệu bảng với các mô hình tác
động cố định (Fixed effects) và tác động ngẫu nhiên (Random effects) cho thấy

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status