MỘT SỐ Ý KIẾN NHẬN XÉT KIẾN NGHỊ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP
NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN NVL CCDC Ở XÍ
NGHIỆP XÂY LẮP SỐ2
I. NHỮNG NHẬN XÉT CHUNG VỀ KẾ TOÁN NVL, CCDC Ở XÍ NGHIỆP
XÂY LẮP SỐ 2.
Cùng với sự phát triển vững mạnh của Xí nghiệp xây lắp số 2 bộ phận kế toán
thực sự là một trong những công cụ quan trọng của hệ thống quản lý kinh tế của xí
nghiệp. Hiện nay, cơ cấu bộ máy của xí nghiệp được tổ chức khá chi tiế, mỗi nhân
viên kế toán đảm nhiệm một chức vụ riêng. Đội ngũ nhân viên kế toán có trình độ
nghiệp vụ vững vàng, luôn luôn hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao, đảm
bảo tính thống nhất về phạm vi, phương pháp tính toán các chỉ tiêu giữa các bộ
phận kế toán và các bộ phận liên quan cũng như nội dung của công tác kế toán.
Đồng thời, đảm bảo cho số liệu kế toán phản ánh trung thực hợp lý rõ ràng, dễ
hiểu.
Qua thời gian tìm hiểu thực tế tại công ty, em thấy công tác hạch toán kế toán
NVL,CCDC có những ưu điểm nổi bật sau:
- Xí nghiệp áp dụng hợp lý định mức số 56/ Thông tư 1216 về bảng giá và
định mức vật tư của Bộ Xây Dựng đã tiết kiệm tối đa chi phí NVL, vừa hạ được
giá thành, vừa đảm bảo chất lượng công trình, tạo được uy tín với nhà nước.
- Luôn luôn cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin về giá cả, định mức vật tư . .
giúp cho phòng vật tư tổ chức thu mua hoạt động linh hoạt, nắm bắt giá cả một
cách chính xác, đảm bảo cung cấp đầy đủ vật tư cho hoạt động sản xuất diễn ra liên
tục.
- Việc áp dụng tính gái NVL, CCDC theo phương pháp bình quân gia quyền
có nhược điểm là đến cuối tháng mới tính đợc giá xuất kkho của NVL, CCDC. Để
hạn chế nhược điểm này, Xí nghiệp đã áp dụng việc tính toán giá NVL, CCDC đối
với những NVL, CCDC không qua nhập kho mà giao tận chân công trình là giá
thực nhập của NVL, CCDC đó. Đây là một trong những ưu điểm đã làm giảm bớt
công việc cho công tác kế toán NVL, CCDC vào cuối tháng.
- Việc tồn kho NVL, CCDC ít (chủ yếu là mặt hàng nhựa đường) đã làm
giảm bớt được nguồn vốn ứ đọng, tăng hiệu quả kinh doanh.
năng suất làm việc của kế toán, giảm bớt khối lượng công việc của kế toán, số liệu
tính toán chính xác kịp thời, giúp cho việc phân tích đánh giá ình hình sản xuất
được nhanh chóng.
+ Kiến nghị thứ hai: Để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, xí nghiệp
phải sử dụng nhiều loại NVL, CCDC trong mỗi loại có nhiều quy cách khác nhau.
Nhưng cho đến nay công ty vẫn chưa sử dụng : “ số danh điểm vật tư” mà xí
nghiệp chỉ lập bảng mục lục vật tư để thao dõi vật tư ở kho. Để đảm bảo việc sử
dụng và quản lý vật tư chặt chẽ giữa các phòng ban chức năng để đảm bảo tính
khoa học, hợp ký phục vụ yêu cầu quản lý của công ty. Đặc biệt là thuận tiện cho
việc theo dõi chi tiết từng chủng loại vật tư.
Số danh điẻm vật tư là sổ tập hợp toàn bộ các loại NVL, CCDC mà xí nghiệp đã
và đang sử dụng. Số danh điểm vật tư phản ánh đến từng loại, từng nhóm, từng
thứ, từng quy cách có hệ thống rõ ràng. Theo sổ danh điểm này thì mỗi loại NVL,
CCDC có một mã hoá riêng và sắp xếp một cách có trật tự cho nên rất thuận tiện
cho việc tìm kiếm những thông tin về một loại, một nhóm, một thứ NVL, CCDC
nào đó.
- Phương pháp lập sổ danh điểm vật tư công ty phải xây dựng bộ mã vật tư
một cách chính xác đâỳ đủ, khong trùng hợp, có dự trữ, có bổ xung những mã vật
liệu, CCDC thuận tiện và hợp lý.
- Kiến nghị thứ ba:
Thông thường thì các công ty mở thẻ kho cho cả năm để theo dõi tình hình
từng loại NVL, CCDC. Việc mở thẻ kho của xí nghiệp cũng dựa trên nguyên tắc
đó. Tuy nhiên việc chỉ cộngvào cuối trang để chuyến sang tờ khác chưa phản ánh
kịp thời số còn tồn kho tại một thời điểm. Vì vậy xí nghiệp nên áp dụng phương
pháp cộng luỹ kế ở cột tồn kho thì sẽ luôn luôn phản ánh được số lượng tồn kho.
Khi theo dõi được lượng hàng tồn thì sản xuất thuận tiện cho việc cung cấp cũng
như mua vật tư về kho, đảm bảo đầy đủ kịp thời vật tư cung cấp cho sản xuất.
KẾT LUẬN
Kế toán NVL, CCDC chiếm một vị trí quan trọng trong công tác kế toán. Việc
hạch toán chính xác, mà còn là điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý TSCĐ của