Luận văn tốt nghiệp "Giải pháp mở rộng hoạt động tín
dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại Ngân hàng ngoại thương
Hà Nội"
LỜI MỞ ĐẦU Lý luận cũng như thực tiễn phát triển kinh tế thế giới đã cho thấy
hoạt động xuất nhập khẩu là một trong những lĩnh vực trung tâm quan
trọng nhất trong toàn bộ các hoạt động kinh tế của nhiều quốc gia. Hoạt
động xuất nhập khẩu đã góp phần đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân
sách, đặc biệt là thu ngoại tệ, cải thiện cán cân thanh toán giả
i quyết công
ăn việc làm cho người dân, thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và phát
triển kinh tế, nâng cao vị thế của đất nước trong nền kinh tế toàn cầu.
Việt Nam từ nền kinh tế lạc hậu và kém phát triển chuyển sang xây
dựng nền kinh tế thị trường thì việc mở rộng buôn bán, quan hệ với nước
ngoài là hết sức cần thiết. Sau khi nhận thức được những sai lầm trong
đường lối kinh tế,
Đảng và Nhà nước ta quyết tâm thực hiện công cuộc đổi
mới theo hướng "mở cửa" nền kinh tế hướng mạnh về xuất khẩu, không
nghiên cứu hoàn thiện cả về nội dung lẫn hình thức.
Qua một thời gian ngắn đi thực tế tại NHNT Hà Nội một Chi nhánh
đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của hệ thống NHNT
Việt Nam em nhận thấy việc nghiên cứu một cách có hệ thống nội dung và
biện pháp nhằm tháo gỡ nhữ
ng vướng mắc, tồn tại của công tác tín dụng tài
trợ XNK, tiến tới mở rộng và phát triển công tác này cho phù hợp với yêu
cầu mới của nền kinh tế thị trường là vấn đề bức xúc có ý nghĩa thực tiễn
đối với quá trình phát triển kinh tế nước nhà.
Từ nhận thức đó cùng với kiến thức được trang bị qua 4 năm học ở
trường Đại học Kinh tế Qu
ốc dân, đặc biệt được sự hướng dẫn nhiệt tình
của cô giáo Phạm Hồng Vân và các thầy cô trong trường cũng như sự chỉ
bảo tận tình của anh chị phòng Tín dụng Chi nhánh NHNT Hà Nội, em xin
mạnh dạn chọn đề tài: "Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng tài trợ
xuất nhập khẩu tại Ngân hàng ngoại thương Hà Nội".
Về hình thức, bài viết này được trình bày theo kết cấu sau:
Ch
ương I: Một số vấn đề cơ bản về tín dụng xuất nhập khẩu của
ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu tại
NHNT Hà Nội
Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng tín dụng xuất
nhập khẩu tại NHNT Hà Nội
Trên cơ sở phân tích hoạt động tín dụng tài trợ XNK của NHNT Hà
N
ội trong 3 năm, (2000, 2001, 2002) đề tài tập trung vào tình hình và kinh
Bất cứ một quốc gia nào muốn phát triển kinh tế không thể chỉ dựa
vào nền sản xuất trong nước mà còn phải quan hệ với các nước bên ngoài.
Do có sự khác nhau về điều kiện tự nhiên như tài nguyên, khí hậu... mà mỗi
quốc gia có thế mạnh trong việc sản xuất một số mặt hàng nhất định.
Để
đạt được hiệu quả kinh tế đồng thời đáp ứng được nhu cầu ngày
càng đa dạng ở trong nước, các quốc gia đều mong muốn có được những
sản phẩm chất lượng cao với giá rẻ hơn từ các nước khác đồng thời mở
rộng được thị trường tiêu thụ đối với các sản phẩm thế mạnh của mình.
Chính từ mong muốn đó đã làm n
ảy sinh hoạt động thương mại quốc tế.
Hoạt động thương mại quốc tế thông qua mối quan hệ rộng rãi vượt
ra ngoài biên giới quốc gia sẽ là cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với
nền kinh tế bên ngoài, đồng thời tạo ra động lực thúc đẩy quá trình hội
nhập kinh tế ở mỗi khu vực và trên toàn thế giới.
Thương mại quốc tế được c
ấu thành bởi hai bộ phận cơ bản xuất
khẩu và nhập khẩu. Do vậy, xác định được vai trò quan trọng cũng như có
sự quan tâm thích đáng đến hoạt động XNK là nhiệm vụ hàng đầu của hoạt
động thương mại quốc tế.
Đối với Việt Nam, ngoài những đặc điểm nêu trên chúng ta còn có
những nét đặc thù riêng đó là nền kinh tế có xuất phát điểm thấp, cơ sở h
ạ
tầng kĩ thuật lạc hậu, công nghệ thủ công... đang rất cần được đổi mới, bên
cạnh đó tiềm lực xuất khẩu lại lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Tất
cả những điều này cho thấy hoạt động XNK đối với nước ta càng quan
trọng hơn.
- Ngoài ra, nhập khẩu còn có vai trò thúc đẩy xuất khẩu thông qua việc
cung cấp các nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đầu vào cho xuất khẩu cũng
như góp phần định hướng sản phẩm, định hướng thị trườ
ng cho xuất khẩu.
6
Cuối cùng, một vai trò hết sức quan trọng của cả xuất và nhập khẩu
đối với sự phát triển kinh tế-xã hội đó là tạo công ăn việc làm, cải thiện đời
sống nhân dân và mở rộng hợp tác quốc tế.
1. 2. Nhu cầu tài trợ xuất nhập khẩu.
Như đã nói trên, trong nền kinh tế mở các doanh nghiệp luôn phải
đối đầu với sự cạnh tranh gay g
ắt. Họ không chỉ phải cạnh tranh với các
nhà sản xuất trong nước mà còn phải cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài.
Để chiến thắng trong cạnh tranh, ngoài việc cần thiết phải có sự hỗ trợ của
Nhà nước như sự ưu đãi về thuế, sự điều chỉnh tỉ giá hối đoái phù hợp... các
doanh nghiệp còn cần phải có một tiềm lực tài chính mạnh
để thực hiện các
hoạt động như đổi mới dây chuyền công nghệ, mua sắm máy móc hiện đại,
mua sắm nguyên vật liệu, cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá
thành... Song trên thực tế do khả năng tài chính có hạn nên hầu hết các
doanh nghiệp đều cần có sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Nhu cầu tài trợ cho hoạt động XNK nảy sinh từ những đòi hỏi đó và
nó gắ
n liền với các giai đoạn của hoạt động này.
Do hoạt động thương mại quốc tế hiện nay là rất đa dạng và vì thế
cũng hết sức phức tạp (nó bao gồm nhiều mối quan hệ như: thương mại
thường nảy sinh
ở nhiều giai đoạn khác nhau. Cụ thể:
+- Giai đoạn phân tích nhu cầu, thiết kế, tìm kiếm khách hàng, đại
diện tại các hội chợ, đàm phán sơ bộ, lập kế hoạch: Để hoàn thành tốt
giai đoạn này các chuyên gia phải thực hiện các chuyến đi dài ngày và tiến
hành nhiều cuộc đàm phán, phải làm ra hàng mẫu và mô hình để trưng bày,
giới thiệu. Sau đó họ còn phải hoàn tất các tài liệu thiế
t kế và tính toán
chính xác cho đàm phán hợp đồng. Chi phí cho những hoạt động này không
phải nhỏ, đặc biệt với các cơ sở kinh doanh tiềm lực tài chính còn hạn hẹp.
- Giai đoạn ký kết hợp đồng: Trong trường hợp nhà xuất khẩu chưa
có uy tín cao ở nước ngoài, đối tác có thể yêu cầu một bảo đảm giao hàng
hoặc bảo đảm hoàn thành công trình. Đảm bảo này sẽ có hiệu lực nếu việc
giao hàng ho
ặc hoàn thành công trình không đúng như thoả thuận.
Trường hợp khác, nếu nhà xuất khẩu cần tiền đặt cọc mà nhà nhập
khẩu là người nước ngoài đang gặp khó khăn về tài chính, nhà xuất khẩu có
8
thể đề nghị ngân hàng của mình cung cấp tín dụng tương đương với số tiền
đặt cọc và nhà nhập khẩu có nghĩa vụ chi trả cho khoản tín dụng đó
- Giai đoạn chuẩn bị sản xuất: Sau khi đã kí hợp đồng, nhà xuất khẩu
sẽ tiến hành chuẩn bị sản xuất. Nhất là việc xây dựng các công trình lớn
như, nhà máy, xí nghiệp... việc này thườ
ng đi kèm với chi phí lớn vượt quá
mức đặt cọc.
- Giai đoạn sản xuất: Mặc dù đã có những thoả thuận về việc thanh
- Giai đoạn trước khi kí kết hợp đồng: Ở giai đoạn này các nhà nhập
khẩu cần có những chi phí cho việc thuê các chuyên gia phân tích chính xác
nhu cầu của mình để tiến hành đấu thầu một cách phù hợp.
- Giai đoạn sau khi kí kết hợp đồng: Sau khi kí k
ết được hợp đồng,
nhà nhập khẩu cần được tài trợ để đặt cọc, tạm ứng cho nhà xuất khẩu... .
- Giai đoạn sản xuất và hoàn thành công trình: Trong giai đoạn
này nhà nhập khẩu có thể phải thực hiện những khoản thanh toán giữa
chừng cho nhà xuất khẩu hay tài trợ cho các công việc ở điạ phương để
chuẩn bị cho đầu tư.
- Giai đoạ
n cung ứng và vận chuyển hàng hoá: Tuỳ theo điều kiện
cung ứng hàng hoá có thể nảy sinh nhiều phí tổn về vận chuyển và bảo
hiểm đối với các nhà nhập khẩu.
- Nhận hàng hoá: Nếu tiến hành thanh toán cung ứng hàng hoá khi
xuất trình chứng từ (có thư tín dụng kèm theo hoặc theo điều kiện D/P) thì
thường nhà nhập khẩu chỉ có thể nhận được hàng khi giá trị trên hoá đơn đã
ghi rõ hoặc có th
ể tài trợ được.
- Xử lí tiếp, bán tiếp, tài trợ tiêu thụ: Đối với hàng hoá chủ định bán
tiếp thì nhà nhập khẩu còn có nhu cầu tài trợ giữa chừng cho khoảng thời
gian từ khi nhập hàng về tới khi hàng hoá được tiêu thụ.
Nếu sản phẩm là những dây chuyền công nghệ để sản xuất thì nhà
nhập khẩu sẽ có nhu cầu được tài trợ cho giai đoạn từ khi sản xuất sản
phẩm mới tới khi tiêu thụ được các sản phẩm làm ra và thu được tiền hàng.
Qua việc xem xét nhu cầu tài trợ cho XNK ở trên ta có thể khẳng
định rằng hoạt động kinh doanh XNK có một nhu cầu tài trợ rất lớn. Vậy
nguồn tài trợ này có hạn chế là qui mô không lớn và nhiều khi chi phí cơ
hội của việc giữ lại lợi nhuận cao.
* Phát hành cổ phiếu: Với các doanh nghiệp trong điều kiện hiện
nay họ có thể phát hành cổ phiếu công ty để huy động nguồn vốn trung và
dài hạn. Hình thức này có ưu điểm là doanh nghiệp có được sự chủ động
trong việc huy độ
ng và sử dụng vốn, giảm được nguy cơ phá sản khi gặp
khó khăn (vì có thể không phải phân chia lợi tức cổ phần hoặc có thể hoãn
trả lợi tức khi bị lỗ hoặc không có nhiều lãi) hay làm tăng vốn chủ sở hữu,
giảm hệ số nợ của doanh nghiệp... Tuy nhiên, chỉ có các doanh nghiệp thỏa
mãn những điều kiện nhất định mới được sử dụng hình th
ức này. Với nước
12
ta, do thị trường tài chính còn chưa phát triển nên hình thức tài trợ này còn
ít được sử dụng hoặc nếu có sử dụng thì hiệu quả chưa cao.
* Phát hành trái phiếu công ty: Đây cũng là một hình thức tài trợ
khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường gần như cổ phiếu.
Trái phiếu là một giấy chứng nhận nợ của doanh nghiệp. Sử dụng phát
hành trái phiếu doanh nghiệp có thể
huy động vốn cho hoạt động kinh
doanh mà không dẫn đến phải chia quyền kiểm soát doanh nghiệp như khi
sử dụng cổ phiếu thường. Tuy nhiên, với trái phiếu doanh nghiệp thường
phải trả lợi tức cố định cho dù hoạt động kinh doanh có lãi hay không. Điều
này dễ làm tăng khả năng phá sản đối với doanh nghiệp khi gặp khó khăn
về tài chính. Ngoài ra, với thị trường tài chính chưa phát triển như
đã nói
14
2. Tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
2.1. Khái niệm, Vai trò của tín dụng ngân hàng
2.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng nói chung là một phạm trù kinh tế được rất nhiều nhà kinh
tế học đề cập đến và do đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về tín dụng.
Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì: tín dụng là một quan hệ xã hội
giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có mố
i liên hệ với nhau thông
qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thái tiền
tệ hoặc hiện vật.
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu “ Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín
dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng, một tổ chức chuyên doanh
trên lĩnh vực tiền tệ với một bên là các tổ chức, đơn vị kinh tế-xã hội, các
cơ
quan Nhà nước và các tầng lớp dân cư ”.
Tín dụng ngân hàng ra đời và ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhờ có
khả năng đáp ứng tốt mọi nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà nó đã
không ngừng được mở rộng sang tất cả các ngành, lĩnh vực khác nhau
trong đó có hoạt động XNK, nó đã trở thành một nguồn tài trợ không thể
thiếu đối với hoạt độ
ng XNK của các quốc gia. Sự tham gia hỗ trợ của các
ngân hàng cho hoạt động XNK có tác động tích cực không chỉ về mặt tài
chính mà còn về cả việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
2.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động XNK được thể hiện
qua các mặt sau:
- Thứ nhất, giống như các nguồn tài trợ khác tín d
ụng ngân hàng là
một nguồn vốn quan trọng đối với các doanh nghiệp XNK để thu mua dự
của các tổ chức tài chính- tiền tệ quốc tế cho một quốc gia nào đó được
thực hiện qua các ngân hàng nước sở tại.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động XNK càng có ý
nghĩa hơn khi ngân hàng thực hiện các chính sách của Nhà nước, trong đó
có chính sách hướ
ng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu. Ngân hàng sẽ
cung cấp cho các nhà XNK những khoản tín dụng lớn với lãi xuất ưu đãi
mà nhờ đó họ có thể giải quyết vấn đề thiếu vốn trong hoạt động kinh
doanh của mình.
16 17
2.2. Các hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu của ngân hàng
thương mại.
Thương mại quốc tế bao gồm những mối quan hệ rất đa dạng, phức
tạp. Với tư cách là trung gian tài chính, ngân hàng đóng vai trò quan trọng
trong việc đảm bảo cho hoạt động XNK diễn ra liên tục nhanh chóng, thuận
lợi cho cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu. Dựa trên các tiêu chí ta có thể
chia tín dụng XNK ra thành các hình thức như sau:
2.2.1. Cho vay trong khuôn khổ thanh toán bằng L/C
Thư tín dụng (L/C) là một văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng
cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu hoặc chấp nhận hối
đơn xin vay ngoại tệ ký quỹ L/C.
- Cho vay thanh toán hàng nhập khẩu hoặc tài tr
ợ thanh toán toàn bộ
chứng từ giao hàng.
Theo hình thức này khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh
doanh mang tính khả thi cho lô hàng nhập về phục vụ sản xuất kinh doanh.
Đồng thời khách hàng phải lên kế hoách tài chính nhằm xác định khả năng
thanh toán khi đến thời điểm thanh toán dự kiến, xác định khoản thiếu hụt
với ngân hàng tài trợ. Trên cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch và phản
ánh của khách hàng, ngân hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác đị
nh mức
ngân hàng chấp nhận tài trợ.
* Đối với L/C trong thanh toán hàng xuất khẩu
- Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở trên cơ sở L/C
đã được chấp nhận do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà
nhập khẩu. Ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu để tiêu thụ
sản phẩm và có thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
- Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước tiền hàng xu
ất khẩu:
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có
thể thương lượng với ngân hàng thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng
trước tiền cho mình trước khi bộ chứng từ được thanh toán. 19
2.2.2. Cho vay trong khuôn khổ phương thức nhờ thu kèm chứng từ
* t/3600) - P
Trong đó:
Tck: Giá trị chiết khấu
M: Mệnh giá hối phiếu
20
Lck: Lãi suất chiết khấu
t: Thời hạn chiết khấu(ngày)
P: lệ phí
Có 2 hình thức chiết khấu:
- Chiết khấu miễn truy đòi
Ngân hàng mua lại bộ chứng từ của người xuất khẩu, giá mua sẽ thấp
hơn giá trị bộ chứng từ, do ngân hàng tính trừ lại chi phí chiết khấu và thời
gian cần thiết trung bình để đòi tiền nhà nhạap khẩu nước ngoài. Chiết khấ
u
miễn truy đòi có nghĩa là người xuất khẩu bán hãn bộ chứng từ cho ngân
hàng, nhạn tiền và không còn trách nhiệm hoàn trả, trách nhiệm thu tiền và
quyền sữ dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân hàng. ở Việt Nam
các ngân hàng ít sữ dụng hình thức chiết khấu này vì nó tiềm ẩn nhiều rủi
ro cho ngân hàng.
- Chiết khấu được phép truy đòi
Cũng tương tự như hình thức trên nhưng trách nhiệm thanh toán hối
phi
ếu vẩn còn đối với người chiết khấu hối phiếu(nhà xuất khẩu ) và giá trị
chiết khấu cao hơn.
- Chấp nhận hối phiếu:
Tín dụng chấp nhận hối phiếu là khoản tín dụng mà ngân hàng ký
- Bao thanh toán toàn phần (factoring): là một hình thức tài trợ
chính trong hoạt động xuất khẩu. Đó là hoạt động mua bán những khoản
thanh toán chưa tới hạn và ngắn hạn từ những hoạt động xuất khẩu, cung
ứng hàng hoá dịch vụ.
Khác với hoạt động mua bán lại chứng từ thanh toán ở phần trên,
hoạt động factoring chỉ sử dụng cho những hoạt động xuất kh
ẩu thường
xuyên theo định kỳ, theo hợp đồng ngắn hạn và cho nhiều nhà xuất khẩu
khác nhau trong cùng một nước hoặc nhiều nước trong cùng một thời điểm.
Chỉ có những khoản thanh toán đáp ứng những điều kiện sau mới được
phép mua bán:
+ Những khoản mua bán phải tồn tại một cách hợp pháp, phải
có đủ tư cách pháp lý độc lập với quyền một người thứ
ba.
+ Hàng hoá đã được cung ứng đầy đủ và đảm bảo chất lượng
cho những khoản thanh toán này.
+ Thời hạn thanh toán này tối đa là 180 ngày.
22
+ Không có quyền cấm chuyển nhượng các khoản thanh toán
này của người nhập khẩu hoặc nước nhập khẩu.
- Bao thanh toán từng phần (forfaiting): cũng là nghiệp vụ mua bán
những khoản thanh toán chưa tới thời hạn như factaring nhưng khác ở một
số điểm sau:
+ Forfaiting chỉ bao những khoản thanh toán cụ thể riêng lẻ
trong toàn bộ quá trình XNK dài hạn và cho từng đối tượng nhập khẩu riêng.
+ Thờ
So với hình thức cho vay truyền thống, hình thức thuê mua này có
những ưu điểm sau:
+ Các doanh nghiệp sẽ không phải bỏ tiền mua thiết bị ngay
lập tức mà trả tiền thuê thiết bị theo định kỳ, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp chủ động hơn về vốn để tập trung cho sản xuất. Hình thức này có ý
nghĩa nhất đối với doanh nghiệp không đủ vố
n nhưng vẫn có thể đi thuê
thiết bị thiết bị để sản xuất và dùng một phần lợi thu được từ sản xuất để trả
tiền thuê định kỳ.
+ So với đi vay ngân hàng, việc thế chấp để được thuê máy
móc thiết bị đơn giản hơn nhiều do thiết bị thuê thuộc quyền sở hữu của
bên cho thuê trong suốt thừoi gian thuê, nên khi bên thuê không trả được
n
ợ, bên cho thuê có thể lấy lại toàn bộ tài sản cho thuê. Ngày nay các ngân
hàng thường lập công ty tài chính riêng để hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp
và làm phong phú thêm hoạt động của mình.
* Tài trợ bảo lãnh và tái bảo lãnh
Trong thương mại quốc tế, rủi ro là một yếu tố luôn luôn xuất hiện
trong các thương vụ khác nhau (rủi ro thanh toán, rủi ro không thực hiện
hợp đồng). Từ đó nảy sinh nhu cầu bảo lãnh để hạn chế rủi ro.
Trong mua bán quốc t
ế, đôi khi nhà xuất khẩu không nắm chắc được
khả năng tài chính để thanh toán và mức độ tín nhiệm của nhà nhập khẩu. Do
vậy, nhà xuất khẩu sẽ yêu cầu nhà nhập khẩu phải có một tổ chức thường là
ngân hàng đứng ra bảo lãnh thanh toán. Ngược lại, do không biết rõ hoặc
không tin tưởng nhau, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu nhà xuất khẩu có ngân
hàng đứng ra bảo lãnh giao hàng hoặc bảo lãnh thực hiện hợp
đồng.
Ngân hàng nhận bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng, dùng để vay
vốn nước ngoài dưới hình thức tín dụng thương mại hoặc tín dụng tài
chấp. Khi đến hạn, nếu nhà
nhập khẩu không có đủ khả năng thanh toán, thì cần phải làm thủ tục xin vay
tại ngân hàng. Như vậy, mục đích bảo lãnh đã được thực hiện, nghĩa là ngân
hàng bảo lãnh muốn khách hàng của mình vay nhằm thu thêm được một
khoản lãi, có khách hàng mới về mặt tín dụng và chi phí bảo lãnh.
3. Rủi ro trong tín dụng tài trợ XNK của ngân hàng thương mại
Rủi ro trong hoạt động tín dụng tài tr
ợ XNK là một dạng rủi ro trong
hoạt động của ngân hàng thương mại. Đó là những biến cố bất thường, không
mong đợi xảy ra, dẫn đến tổn thất cho ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường