Đề án “Giải pháp để nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam" - Pdf 68

Trường……….
Khoa……… Đề án

Đề tài:

“Giải pháp để nâng cao khả năng
cạnh tranh của ngành cà phê
Việt Nam"

0
LỜI MỞ ĐẦU
Sau 15 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn
và quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, tạo ra được khối lượng
nông sản không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có giá trị xuất khẩu
cao mang về hàng tỉ đô la. Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng liên tục với tốc
độ cao và ổn định, hình thành những vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá
với quy mô lớ
n. Sự phát triển nhanh của ngành nông nghiệp đã nâng cao vị
thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế, góp phần đẩy nhanh tiến độ công
nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước. Là một trong những mặt hàng nông sản
chủ lực, cà phê Việt Nam có tốc độ phát triển rất cao, hàng năm thu về hàng
trăm triệu đô la từ việc xuất khẩu, mang lại nguồn thu nhập ổn định, thường
xuyên cho một nhóm đông dân cư ở nông thôn, trung du và miền núi. Tuy
nhiên, bên cạnh những thế mạnh của mình, ngành cà phê vẫn tồn tại những
hạn chế ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh. Do đó, làm sao phát huy hết

ất phát triển.”
I.2. Khái niệm khả năng cạnh tranh
.
Hiện nay, một doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc trên thị trường
và thị trường ngày càng được mở rộng thì cần phải có một tiềm lực đủ mạnh
để có thể cạnh tranh trên thị trường. Cái đó chính là khả năng cạnh tranh của
một doanh nghiệp. Khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp chính là việc
có được các lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp đối thủ. C
ạnh tranh
để duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo
thực hiện mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc thực hiện mục
tiêu của doanh nghiệp.
I.3 .Phân loại cạnh tranh
3.1. Cạnh tranh quốc gia.

2
Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là năng lực của một
nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn
định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân.
3.2. Cạnh tranh ngành.
Xét theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được chia làm hai loại :
- Cạnh tranh trong nội bộ ngành : là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng
sản xuất kinh doanh mộ
t loại dịch vụ. Cạnh tranh trong nội bộ ngành là một
cuộc cạnh tranh tất yếu phải xảy ra, tất cả đều nhằm vào mục tiêu cao nhất là
lợi nhuận của doanh nghiệp. Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp phải cải tiến kỹ
thuật, năng lực quản lý...nhằm nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản
phẩm để tìm lợi nhuận siêu ngạch.
- Cạnh tranh giữa các ngành : là cạ
nh tranh giữa các chủ doanh nghiệp sản

pháp này, doanh nghiệp cần phải có những quyết định sáng suốt để đưa ra
một sả
n phẩm mới hoặc dừng việc cung cấp một sản phẩm đã lỗi thời.
I.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh.
4.1. Các nhân tố chủ quan.
4.1.1 Nhân tố con người
Con người ở đây phản ánh đến đội ngũ lao động. Đội ngũ lao động
tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua các yếu tố
như trình độ lao động, năng suất lao động, thái độ phục vụ khách hàng, sự
sáng tạo trong sản xuất... Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới việc nâng
cao chất lượ
ng sản phẩm, chi phí sản xuất ra sản phẩm hàng hóa.
4.1.2. Khả năng về tài chính .
Bất cứ một hoạt động đầu tư, sản xuất phân phối nào cũng đều phải
xét, tính toán đến tiềm lực, khả năng tài chính của doanh nghiệp. Một doanh
nghiệp có tiềm năng lớn về tài chính sẽ có nhiều thuận lợi trong việc đổi mới
công nghệ, đầu tư mua sắm trang thiết b
ị, bảo đảm nâng cao chất lượng sản
phẩm, hạ giá thành, duy trì và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, khuyến

4
khích việc tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, lợi nhuận và củng cố vị thế
của mình trên thương trường.
4.1.3. Trình độ công nghệ.
Tình trạng trình độ công nghệ máy móc thiết bị có ảnh hưởng một
cách sâu sắc tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp. Đó là
yếu tố vật chất quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sả
n xuất của một
doanh nghiệp, tác động trực tiếp đến chất lượng, năng suất sản xuất. Ngoài
ra, công nghệ sản xuất cũng ảnh hưởng đến giá thành và giá bán của sản

n kinh tế ảnh hưởng đến hệ thống chính trị
nhưng ngược lại hệ thống chính trị cũng tác động trở lại các hoạt động kinh
tế. Pháp luật và chính trị ổn định sẽ tạo ra một cơ chế chính sách trong hoạt
động sản xuất kinh doanh trong từng lĩnh vực cụ thể có được lợi thế cạnh
tranh trong xu thế toàn cầu hoá của thế giới.
Nói tóm lại, khi xem xét kh
ả năng cạnh tranh của một ngành, của một
doanh nghiệp thậm chí kể cả của đối thủ cạnh tranh, cần phải xem xét đầy đủ
các nhân tố tác động, từ đó tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao
khả năng cạnh tranh của ngành hay của doanh nghiệp đó.
II. Thực trạng về thị trường cà phê thế giới và ngành cà
phê Việt Nam
II.1. Tổng quan về thị trường cà phê thế giới.

Nhìn lại sự phát triển thị trường tiêu thụ cà phê thế giới cho thấy sau
thế chiến II, nhu cầu dùng cà phê ở nhiều quốc gia tăng lên nhanh chóng.
Bắt đầu từ Mỹ ở thập niên 1950-1960 khi những cựu chiến binh mang sở
thích uống cà phê về truyền bá trong quân đội và dân chúng, rồi dần dần
phát triển sang Châu Âu ở những năm 1960-1970. Vào cuối thập niên 1970,
khi thị trường Mỹ và Châu Âu gần như chững lại thì những thị
trường mới
lại mở ra ở vùng Viễn Đông như Nhật Bản và gần đây là thị trường Đông
Âu, Trung Quốc có dấu hiệu tăng. Cùng với sự mở rộng thị trường ở khắp
nơi, sản lượng cà phê thế giới không ngừng tăng lên, đáp ứng nhu cầu ngày

6
cao của người tiêu dùng. Sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2002-2003 đạt
122.6 triệu bao, tăng 10.7% so với mức 110.7 triệu bao của năm trước.
Brazil, nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới đạt mức sản lượng kỷ lục 46.9
triệu bao trong khi sản lượng của hai nước Côlômbia và Việt Nam, nước

ổng lượng tiêu thụ đạt
mức 1190 triệu bao.
Brazil là nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới chiếm khoảng 26%
tổng lượng xuất khẩu cà phê toàn cầu, chủ yếu là cà phê Arabica. Côlômbia
đứng thứ hai về xuất khẩu cà phê Arabica toàn cầu, chiếm khoảng 19%, chủ
yếu là loại cà phê Arabica dịu. Đứng thứ ba về xuất khẩu cà phê Arabica là
Guatêmala, chiếm khoảng 5% tổng sản lượng xuất khẩu cà phê toàn cầu.
Mỹ
là nước nhập khẩu cà phê lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 29%
tổng sản lượng cà phê nhập khẩu. Đứng thứ hai là Đức với tỷ trọng khoảng
18% tổng lượng nhập khẩu. Nhập khẩu cà phê của Nhật Bản tăng nhanh,
đưa Nhật Bản trở thành nước đứng thứ ba thế giới về nhập khẩu cà phê trong
những năm qua với tỷ trọng khoả
ng 9% tổng lượng cà phê nhập khẩu toàn
cầu.
Do mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân cung-cầu, giá cà phê đã
liên tục giảm trong những năm gần đây, giảm xuống tới mức kỷ lục trong
năm 2002 chỉ bằng 1/3 mức giá bình quân của thập niên 60 ( tính theo giá
thực tế ). Theo dự báo của WB( ngân hàng thế giới ), giá cả hai loại cà phê
Rôbusta và Arabica đều tăng lên trong năm 2003 và sẽ tiếp tục tăng trong
năm 2004. Tuy nhiên, giá cà phê khó có thể tăng nhanh do nguồ
n cung vẫn ở
trong tình trạng dư thừa. Về dài hạn, giá cà phê có thể hồi phục nhưng chắc
chắn khó có thể trở lại mức giá kỷ lục của những năm 70 hay đầu thập niên
90 của thế kỷ 20.
II.2. Thực trạng ngành cà phê Việt Nam.

8
2.1. Về sản xuất.
Cây cà phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam từ năm 1870, mãi đến

2001 847.0 105.5 931.0 127.0
2002 710.0 76.3
(số liệu theo tạp chí Thương nghiệp thị trường Việt Nam * số tháng 2/2002 )
Cà phê hiện đang là mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị lớn đứng
thứ hai sau gạo. Giá trị cà phê xuất khẩu thường chiếm gần 10% tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng năm. Ngay cả những thị trường khó tính như Mỹ,
Đức, Bỉ... cũng dần bị cà phê Việt Nam chinh phục.
5 nước nhập khẩu cà phê đứng
đầu niên vụ 2000/01:
STT tên nước sản lượng trị giá tỷ phần so với
tổng XK (%)
1 Bỉ 138.603 57.974.984 15.85
2 Mỹ 137.501 59.371.585 15.72
3 Đức 134.321 60.054.805 15.36
4 Tây Ban Nha 73.852 31.666.889 8.44
5 Ý 62.559 27.796.789 7.15
( số liệu theo trang web : vicofa.com )
2.2. Về công nghệ.
Sau 1975, khi đi vào phát triển sản xuất cà phê, chúng ta mới có một
ít xưởng chế biến cũ kỹ, chắp vá. Ở phía bắc có một số xưởng chế biến ở
Đồng Giao, Phủ Quỳ với thiết bị lắp đặt từ năm 1960-1962 do CHDC Đức
chế tạo. Ở phía nam có một số xưởng của các doanh điền cũ như Rossi,
Delphante
để lại công suất không lớn. Cùng với việc mở rộng diện tích trồng
cà phê, chúng ta cũng đã bắt tay vào xây dựng các xưởng chế biến mới, bắt
đầu từ những thiết bị lẻ, rồi đến các dây chuyền sản xuất sao chép theo mẫu
của Hang-xa như nhà máy 1/5 Hải Phòng, nhà máy A74 Bộ Công Nghiệp ở
Thủ Đức-TpHCM. Những năm gần đây, nhiều công ty, nông trưòng đã xây
dựng các xưởng chế
biến mới khá hoàn chỉnh với thiết bị nhập từ CHLB

t Nam
những năm qua cho thấy ngành đã đạt được nhiều thành tựu đáng ca ngợi.
Tuy nhiên, trong vài năm gần đây do kích thích mạnh mẽ của giá cả thị

11
trường cà phê đã ra khỏi kiểm soát của ngành cũng như của Nhà nước.
Chính vì thế mà sự tăng trưởng nhanh chóng với mức độ lớn đã có tác động
quan trọng trong việc góp phần đẩy ngành cà phê thế giới đến kỳ khủng
hoảng thừa. Giá cà phê thế giới liên tục giảm đến mức thấp kỷ lục 30 năm
lại đây. Ngành cà phê bước vào thời kỳ ảm đạm và có ph
ần hoảng loạn. Đài
phát thanh và báo chí thường xuyên đưa tin nông dân chặt phá cà phê ở nơi
này, nơi khác...Có thể nói, đây là tình hình chung của ngành cà phê toàn cầu
và nó có tác động lớn đến ngành cà phê nước ta.
II.3. Những lợi thế và bất lợi của ngành cà phê Việt
Nam
.
3.1. Lợi thế của ngành cà phê Việt Nam.
Qua đánh giá tổng quan về ngành cà phê Việt Nam trên đây có thể
thấy, trong những năm gần đây, Việt Nam đã nhanh chóng trở thành một
trong những nước sản xuất cà phê hàng đầu thế giới, chiếm lĩnh được một
thị phần đáng kể, có mặt trên 50 quốc gia, là nguồn thu ngoại tệ quan trọng
sau thủy hải sản và gạo. Có được những thành tựu
ấy là do ngành cà phê
Việt Nam đã có những lợi thế to lớn, giúp ngành phát triển.
3.1.1. Lợi thế khách quan.
Việt Nam có thế mạnh về trồng cây cà phê do điều kiện đất đai và
khí hậu thuận lợi. Đất đỏ bazan, rất thích hợp với cây cà phê, được phân
rộng khắp lãnh thổ, trong đó tập trung nhiều ở hai vùng Tây Nguyên và
Đông Nam Bộ với diện tích hàng triệu ha. Khí hậu nhiệt đới gió mùa , lượng

cho đất trồng cà phê, hoãn nợ và tiếp tục cho nông dân vay tiền chăm sóc
vườn cây... Bên cạnh đó, những sửa đổi các chính sách hành chính cho
nhanh và đơn giản thuận tiện, cùng với các chính sách mở cửa thu hút đầu
tư, kêu gọi đầu tư cũng góp phần phát triển ngành. Đây chính là những thế
mạnh, lợi thế của cà phê Việt Nam trên con đường cạnh tranh quốc tế.

13
3.2. Những hạn chế của ngành cà phê Việt Nam và nguyên nhân.
Tuy có nhiều lợi thế và thu được những thành quả đáng khích lệ
nhưng trong tình hình diễn biến phức tạp của thị trường hiện nay với sự cạnh
tranh ngày càng gay gắt, ngành cà phê Việt Nam đã và đang bộc lộ những
nhược điểm và hạn chế từ sản xuất đến xuất khẩu, ảnh hưởng đến khả n
ăng
cạnh tranh.
Vấn đề đặt ra lớn nhất trong xuất khẩu cà phê Việt Nam hiện nay là
tính bền vững chưa cao. Những năm gần đây, tuy sản lượng xuất khẩu nhanh
nhưng giá cả không ổn định, trong đó một số năm giảm sút lớn nên kim
ngạch xuất khẩu tăng chậm hoặc sút giảm. Vấn đề này có liên quan đến sản
xuất, chế biến và xuất khẩ
u, dẫn đến cung vượt cầu, công nghệ chế biến bảo
quản sau thu hoạch không đáp ứng được yêu cầu tăng sản lượng và chất
lượng, thị trường xuất khẩu chưa ổn định. Biểu hiện cụ thể là:
3.2.1. Tính bền vững của ngành cà phê Việt Nam chưa cao.
Thật thế, thị trường quy gom cà phê Việt Nam phụ thuộc chặt chẽ
vào thị trường quốc t
ế. Khi thị trường cà phê quốc tế sôi động làm cho hoạt
động thu mua, quy gom nhộn nhịp, việc tiêu thụ cà phê ở các hộ sản xuất
thuận lợi. Khi thị trường quốc tế thu hẹp, cà phê tụt giá, thị trường thu mua
nội địa sẽ chao đảo, ách tắc, việc tiêu thụ của các hộ sản xuất gặp nhiều khó
khăn. Giá bán ra không bù đắp đủ chi phí sản xuất, lượng hàng tồn nhiều gây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status