Luận văn tốt nghiệp “Hoạt động kinh doanh dịch vụ internet ở công ty điện toán và truyền số liệu – VDC” - Pdf 68

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC .....
KHOA ....
ĐỀ TÀI
“Hoạt động kinh doanh dịch vụ
internet ở công ty điện toán và
truyền số liệu – VDC”
1
2
MỤC LỤC
CHƯƠNG I.................................................................................................................................4
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ INTERNET Ở
CÔNG TY ĐIỆN TOÁN VÀ TRUYỀN SỐ LIỆU - VDC.......................................................4
1. Giới thiệu về công ty VDC.....................................................................................................4
1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty VDC..............................................................9
1.3. Các sản phẩm và dịch vụ chính của công ty.....................................................................12
2. Thị trường dịch vụ Internet ở Việt Nam và vị thế cạnh tranh của công ty VDC trên thị
trường dịch vụ Internet.............................................................................................................15
2.1. Phân tích tổng số và cơ cấu các loại dịch vụ Internet ở Việt Nam...................................15
KẾT LUẬN...............................................................................................................................53
3
CHƯƠNG I
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
DỊCH VỤ INTERNET Ở CÔNG TY ĐIỆN TOÁN VÀ
TRUYỀN SỐ LIỆU - VDC
1. Giới thiệu về công ty VDC
Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) là một doanh nghiệp Nhà
nước, là đơn vị thành viên Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam,
được thành lập chính thức vò ngày 06 tháng 12 năm 1989, Quyết định số
1216-TCCB-LĐ của Tổng cục Bưu điện, với Giấy phép đăng kí kinh doanh
số: 109883 do Bộ kế hoạch và Đầu tư cấp ngày 20/6/1995.

- Giải pháp tích hợp cho phền mềm điều khiển, thiết bị và mạng
- Đào tạo, tư vấn, khảo sát thiết kế, xây lắp, bảo trí chuyên ngành tini
học.
- Sản xuất, kinh doanh các phần mềm tin học, vật tư, thiết bị công nghệ
thông tin.
- Kinh doanh dịch vụ quảng cảo, quảng cáo trực tiếp - Online
Advertising.
* Hiện tại trụ sở chính của Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC)
tại 292 Tây Sơn, Hà Nội, Việt Nam, là đơn vị của Tổng công ty Bưu chính
Viễn thông Việt Nam; với các đơn vị thành viên hoạch toán phụ thuộc:
1. Trung tâm Điện toán - Truyền số liệu khu vực 1 - VDC1, Trụ sở 292
Tây Sơn TP - Hà Nội.
2. Trung tâm Điện toán - Truyền số liệu khu vực 2 - VDC2, Trụ sở125
Hai Bà Trưng TP - Hồ Chí Minh
3. Trung tâm Điện toán - Truyền số liệu khu vực 3 - VDC3, Trụ sở 24
Lê Thánh Tông TP - Đà Nẵng.
1.1. Lịch sử phát triển của công ty
5
Năm 1989: Công ty Điện toán và Truyền số liệu chính thức được thành
lập. Xuất phát từ nhu cầu phát triển dịch vụ Tin học, Truyền số liệu của xã
hội, ngày 06 tháng 12 năm 1989, quyết định số 1216 - TCCB-LĐ của Tổng
cục Bưu điện thành lập Công ty Điện toán và Truyền số liệu Bưu điện (VDC).
Công ty Điện toán và Truyền số liệu là đơn vị hạch toán kinh tế trong
khối Thông tin Bưu điện, có quyền tự chủ về sản xuất kinh doanh theo các
quy định của Tổng cục. Có tư cách pháp nhân được mở tài khoản ở Ngân
hàng, có con dấu theo tên gọi để giao dịch.
Năm 1990 - 1992: Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) mở rộng
phạm vi hoạt động trên địa bàn cả nước
Tổng công ty BCVT Việt Nam giao cho Công ty Điện toán và Truyền
số liệu nhiệm vụ nghiên cứu và triển khai dịch vụ Truyền báo bằng phương

Đinh Tiên Hoàng - Hà Nội.
* Trung tâm Điện toán - Truyền số liệu khu vực 2 - VDC2, trụ sở 125
Hai Bà Trưng, TP - Hồ Chí Minh.
* Trung tâm Điện toán - Truyền số liệu khu vực 3 - VDC3, trụ sở 12 Lê
Thánh Tông TP - Đà Nẵng (nay là 24 Lê Thánh Tông).
Năm 1997: Cung cấp Internet VNN ở Việt Nam
Cung cấp dịch vụ Internet VNN với 08 lớp C địa chỉ, dung lượng 04
Mbps sử dụng phương thức vệ tinh và cáp biển đi các hướng Mỹ, Autralia,
Hong Kong. Chuyển DOMAIN NAME: VN của Việt Nam từ nước ngoài về
quản lý trong nước.
Ngày 19 tháng 11 năm 1997 nhận giấy phép IAP (Nhà cung cấp đường
truyền nối Internet), và ISP (Nhà cung cấp các dịch vụ Internet).
Ngày 01 tháng 12 năm 1997 chính thức cung cấp VNN công cộng.
Ngày 25 tháng 11 năm 1997, thành lập Trung tâm dịch vụ Gia tăng Giá
trị (VASC) trụ sở tại 258 Bà Triệu.
7
Năm 1998: Internet VNN sử dụng 2 Gateway tại Hà Nội có: Telstra
256Kbps; Hong Kong 2Mbps. Tại TP - Hồ Chí Minh có: Sprint 64Kbps;
Global One 2 Mbps. Nguồn IP có 7 Class.
Đón nhận thuê bao Internet thứ 10.000 đưa báo Nhân dân lên VNN.
Tăng từ 3 điểm lên 16 điểm truy nhập Internet trực tiếp trên cả nước.
Năm 1999: Internet VNN: Đưa Internet pha 2 vào khai thác, nâng tổng
số lên 10 Node truy nhập trực tiếp và mở rộng tới 54/56 Tỉnh thành phố có
truy nhập 1260.
Nâng cấp 2 tổng đài Gateway tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh để cung
cấp dịch vụ Truyền số liệu - Frame Relay.
Bổ sung dung lượng mạng, triển khai hoàn thành tốt dự án. Điện toán
hoá Xổ số, sử dụng 300 điểm truy nhập X.25 trong địa bàn Hà Nội
Nhận Huân chương Lao động hạng ba của chủ tịch nước.
Năm 2000: Thực hiện mở thêm 18Mbps của kênh đi quốc tế, nâng tổng

1.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty VDC
1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của công ty
Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) hoạt động trên các lĩnh vực
tin học, truyền báo, truyền số liệu và Internet. Công ty VDC có các chức năng
và nhiệm vụ sau:
- Quản lý, vận hành, khai thác mạng truyền số liệu quốc gia, Internet,tin
học, quảng cáo, giá trị gia tăng và các dịch vụ khác có liên quan.
- Sản xuất, kinh doanh;
- Các chương trình phần mềm tin học.
- Vật tư thiết bị chuyên ngành truyền số liệu, Internet, viễn ấn, máy tính
- Quảng cáo
- Truyền báo và chế bản điện tử
1.2.2. Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động của công ty
9
Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) có số lao động đến đầu
năm 2003 trên 1000 người, được tổ chức thành khối văn phòng công ty và 03
trung tâm tại 3 miền đất nước hoạt động trải rộng trên khắp lãnh thổ Việt
Nam.
1. Trung tâm Điện toán Truyền số liệu khu vực I - VDC1 có trụ sở tại
số 292 Đường Tây Sơn - Hà Nội. VDC1 chịu trách nhiệm hoạt động quản lý
và khai thác mạng từ Hà Tĩnh trở ra. ( 28 tỉnh thành).
2. Trung tâm Điện toán Truyền số liệu khu vực II - VDC2 có trụ sở tại
số 7 Phạm Ngọc Thạch Q.3 - TP HCM. VDC2 hoạt động, quản lý và khai
thác mạng từ Ninh Thuận trở vào.(21 tỉnh thàn)
3. Trung tâm Điện toán Truyền số liệu khu vực III - VDC3 có trụ sở tại
Số 24 Lê Thánh Tông - Đà Nẵng . VDC3 hoạt động quản lý và khai thác
mạng Từ Quảng Bình đến Khánh Hoà và Tây Nguyên (12 tỉnh thành)
* Sơ đồ tổ chức và cơ cấu lao động của công ty VDC như sau:
Sơ đồ tổ chức công ty
V

hành
Phòn
g
Đầu

phát
triển
Phòn
g
hành
chính
Phòn
g
Nghi
ên
cứu
ứng
dụng
PM
Phòn
g tính
cước
Phòn
g tích
hợp

phân
tích
hệ
thống

đối ngoại, thông tin tuyên truyền: nội vụ và làm đầu mối thông tin phục vụ
cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
- Phòng kinh doanh: có chức năng về công tác Marketing, kinh doanh
sản phẩm dịch vụ, bán hàng, hợp tác kinh doanh.
- Phòng kế toán tài chính: có chức năng về công tác kế toán, thống kê
tài chính của công ty
- Phòng kế hoạch: có chức năng về công tác kế hoạch, quản lý tài sản
cung ứng vật tư.
- Phòng kỹ thuật điều hành: có chức năng về kỹ thuật công nghệ, điều
hành khai thác mạng và thiết bị.
- Phòng đầu tư phát triển: có chức năng về công tác quản lý chất lượng
trong các hoạt động của ht sản xuất kinh doanh và quản lý cy.
- Phòng Quản lý tin học: có chức năng về quản lý khoa học công nghệ
và sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực tin học.
- Phòng tính cước: Có chức năng về công tác tính cước và các vấn đề
liên quan đến việc tính cước phí các loại hình dịch vụ trên mạng của công ty.
- Ban biên tập báo điện tử: có chức năng về công tác xây dựng, quy
hoạch, quản lý nội dung các Websites của công ty; xây dựng; quản lý nội
dung trang web VDC - media; Quản lý các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng
11
- Phòng nghiên cứu ứng dụng phần mềm: là bộ phận sản xuất, thực
hiện công tác nghiên cứu công nghệ thông tin và sản xuất các sản phẩm tin
học.
- Phòng tích hợp và Phát triển hệ thống: thực hiện công tác nghiên cứu
triển khai công nghệ, tư vấn, xây dựng vàphát triển các giải pháp tích hợp
phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và điều hành quản lý của công ty.
- Phòng danh bạ: thực hiện làm danh bạ điện tử.
- Ban quản lý dự án VDCA: thực hiện quản lý hoạt động, thực hiện và
hỗ trợ các dự án được Công ty giao.
Các phòng Ban thuộc Văn phòng công ty có trách nhiệm tư vấn cho

hướng thành một giải pháp tổng thể cho phép người sử dụng thực hiện các
hoạt động kinh doanh trên phạm vi toàn cầu thông qua mạng Internet. Dịch vụ
này bao gồm một hệ thống các dịch vụ như: thiết kế trang web, lắp đặt, kết
nối mạng Internet và các dịch vụ như thanh toán điện tử, lưu trữ dữ liệu, giao
dịch kinh doanh với "Văn phòng ảo".
* Dịch vụ thư điện tử (VNMail)
VNMail là tên gọi chung cho các loại hình dịch vụ thư điện tử do VDC
cung cấp trên thị trường Việt Nam, dịch vụ này bao gồm các loại như là
VNNMail, Fmail, Mail Offline, Mail puls và Webmail.
- Dịch vụ thư điện tử Fmail (tiết kiệm - hiệu quả) là dịch vụ thư điện tử
độc lập (theo chuẩn SMTP, POP3) với mức cước cố định hàng tháng.
- Dịch vụ mail Offline (Giải pháp thư điện tử trên mạng nội bộ LAN
cho những doanh nghiệp, tổ chức vừa và nhỏ) là dịch vụ cung cáp cho khách
hàng khả năng tự xây dựng, quản lý và khai thác hệ thống thư điện tử của
riêng mình.
13
- Dịch vụ Mailplus (Chia sẻ thông tin và chi phí) là dịch vụ vừa sử
dụng thư điện tử vừa có khả năng truy nhập Internet giúp cho khách hàng có
thể đăng ký Domain Name riêng.
- Dịch vụ Web - Mail (dễ sử dụng với giao tiếp tiếng việt và miễn phí)
là dịch vụ thư điện tử với chuẩn SMTP, giao diện Web, hỗ trợ tiếng việt, sử
dụng miễn phí và truy nhập mọi nơi với các trình duyệt Web thông dụng.
* Dịch vụ cung cấp thông tin VNN Inforworld
Cung cấp các loại hình thông tin thời sự, văn hoá xã hội, pháp luật,
kinh tế,phân tích kinh tế, thị trường chứng khoán.. theo yêu cầu. Và một số
các dịch vụ khác như: Trang vàng "Yellow Pages", Điện hoa, các dịch vụ
Multimedia, phát thanh truyền hình trên mạng.
1.3.3. Dịch vụ truyền số liệu
* Dịch vụ truyền số liệu VIETPAC (Vietnam Packet Swiching
Network)

2. Thị trường dịch vụ Internet ở Việt Nam và vị thế cạnh tranh
của công ty VDC trên thị trường dịch vụ Internet
2.1. Phân tích tổng số và cơ cấu các loại dịch vụ Internet ở Việt
Nam
Các dịch vụ cơ bản trên Internet tại Việt Nam bao gồm 4 dịch vụ: Thư
điện tử (e-mail), Truyền tệp dữ liệu (files tranfer), Truy nhập từ xa (remote
login), Truy nhập cơ sở dữ liệu theo các phương thức khác nhau.
Các phương thức kết nối Internet cơ bản gồm: kết nối gián tiếp qua
mạng thoại, kết nối trực tiếp và các loại kết nối khác (vô tuyến, vệ tinh…)
Phân loại và định hình các dịch vụ trên Internet tại Việt Nam dùng kết
hợp dịch vụ cơ bản, dịch vụ gia tăng trên Internet và phương thức kết nối
Internet để xác định.
Đến cuối năm 2002 tổng số và cơ cấu dịch vụ trên Internet tại Việt
Nam như sau:
15
- Các dịch vụ truy nhập, đầu nối Internet: trực tiếp và gián tiếp (bao
gồm Internet Dailup và Internet Card).
- Các dịch vụ cơ bản trên Internet: Web, FTP, Email, Telnet.
- Các dịch vụ gia tăng trên Internet:
+ Dịch vụ cho thuê chỗ: đặt trang Web, cho thuê chỗ đặt máy chủ.
+ Các dịch vụ thương mại điện tử.
+ Các dịch vụ thông tin, dịch vụ trực tuyến, danh bạ và danh bạ điện tử.
+ Các dịch vụ Multimedia: phát thanh, truyền hình trên mạng.
+ Dịch vụ quảng cáo, kinh doanh quảng cáo trực tuyến Internet -
Online Advertising.
Từ khi chính thức cung cấp Internet tại Việt Nam, từ tháng 12 năm
1997 chỉ có VDC (thuộc Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam -
VNPT) là IAp (Internet Access Provider - nhà cung cấp kết nối Internet , nay
gọi là IXP - Internet Exchance Provider). Đến cuối năm 2002, FPT và
VietTel cũng nhận được giấy phép làm IXP,nhưng hai đơn vị này đang trong

Advertising: được VDC và FPT phát triển cung cấp cho khách hàng.
+ Các dịch vụ thương mại điện tử (E-Commerce) trên Web, các dịch vụ
Multimedia: phát thanh, truyền hình trên mạng: đang ở giai đoạn triển kha thử
nghiệm, thường được kết hợp giữa các ISP với các công ty tin học và các tổ
chức chính phủ khác.
+ Các dịch vụ thông tin, dịch vụ trực tuyến, danh bạ và danh bạ điện tử:
chỉ có ISP và VDC kết hợp với một số đơn vị thuộc VNPT để cung cấp.
Nhìn chung trong giai đoạn 1997 - 2002, là giai đoạn đầu Internet tại
Việt Nam, các nhà cung cấp dịch vụ - ISP của Việt Nam rất chú trọng phát
triển dịch vụ Internet gián tiếp qua thoại cho khách hàng có gắn liền cung cấp
các dịch vụ cơ bản của Internet (Web, Email). Các dịch vụ gia tăng Internet
đang bước đầu được các ISP phát triển, hứa hẹn nhiều dịch vụ liên tục phát
triển trên các dịch vụ đã có, đây sẽ là các dịch vụ mà các đơn vị sẽ cạnh tranh
17
trong tương lai vì là các dịch vụ tiềm năng và cho lợi nhuận cao trong tương
lai.
Dịch vụ Internet gián tiếp trong giai đoạn 1997 -2002 với hai chỉ tiêu
cơ bản: số lượng thuê bao và sản lượng thời gian truy nhập, được các ISP đặc
biệt quan tâm, nhưng tiêu chí số lượng thuê bao thể hiện thị phần chiếm lĩnh
thị phần của các đơn vị, vì thời gian truy nhập trung bình của thuê bao của các
ISP là như nhau.
Do đó thị phần Internet Việt Nam giai đoạn 1997 - 2002 thường được
tính trên thuê bao gián tiếp của các ISP. Trong giai đoạn này số lượng phát
triển thuê bao Internet gián tiếp qua một số năm như sau:
Biểu 2: Thuê bao Internet gián tiếp của ISP
Đơn vị: Thuê bao
Nhà cung cấp 1999 2000 2001 2002 20003
VDV 29.123 60.456 94.072 123.066 420.112
FPT 20.700 29.911 50.969 57.921 113.202
NetNam 2.357 5.332 9.584 10.910 32.526

(Nguồn: Trung tâm Internet Việt Nam)
* Về lý do sử dụng Internet:
Tập trung phần lớn là nhu càu tra cứu thông tin và phục vụ công việc,
các nhu cầu phục vụ do sở thích người tiêu dùng còn tương đối thấp và tập
trung chủ yếu vào đối tượng là học sinh, sinh viên
Biểu 4: Lý do sử dụng Internet
Lý do sử dụng Internet Tỷ lệ (%)
Yêu cầu của công việc chuyên môn 19%
Yêu cầu của cơ quan 17%
Sở thích cá nhân 28%
Nhu cầu trao đổi thông tin 30%
Ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp 4%
Những yêu cầu khác 2%
(Nguồn: Trung tâm Internet Việt Nam)
* Về độ tuổi người tiêu dùng
Số người sử dụng Internet tập trung nhiều nhất ở độ tuổi từ 26 - 35
(chiếm 51%), tuy nhiên không thể bỏ qua một bộ phận tương đối đông đảo
khác là giới trẻ chiếm khoảng 30%. Cụ thể như sau:
19
Biểu 5: Số người sử dụng Internet phân theo độ tuổi
Lý do sử dụng Internet Tỷ lệ (%)
Dưới 25 tuổi 30%
Từ 26 đến 35 tuổi 51%
Từ 36 đến 45 tuổi 11%
Từ 45 tuổi trở lên 8%
(Nguồn: Trung tâm Internet Việt Nam)
2.2. Tình hình cung cấp dịch vụ Internet trên thị trường
- Cơ sở mạng
Năm 1997 được đánh dấu bằng sự kiện dự án mạng trục Internet quốc
gia hoàn thành, góp phần đưa Việt Nam hoà nhập vào mạng lưới thông tin

Singapore 4225000 2100000 49,70
Brunei 362000 35000 9,66
Thái Lan 63300000 60310000 9,52
Philippines 81500000 3500000 4,29
Việt Nam 81000000 3500000 4,32
Indonesia 231340000 800000 3,45
Lào 592100 15000 0,25
Cambodia 13124000 30000 0,22
Myanmar 51000000 28000 0,05
Khu vực Asean 555772000 31868000 5,73
(Nguồn: Bộ Bưu chính Viễn thông - Trung tâm Internet Việt Nam)
Nhìn vào bảng trên ta thấy tỷ lệ số người sử dụng Internet ở Việt Nam
thấp hơn tỷ lệ trung bình của khu vực Asean, một số nước phát triển như
Singapore có số người sử dụng Internet gấp 10 - 20 lần nước ta. Để nhằm thúc
đẩy và phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ Internet ngang tầm với các
nước trên thế giới và trong khu vực, Bộ chính trị đã đưa ra chỉ thị 58 tạo thêm
cơ hội cho các nhà kinh doanh dịch vụ Internet, giúp chúng ta vượt qua mọi
thách thức và hội nhập thành công vào nền kinh tế quốc tế ở ngay những thập
kỷ đầu của thế kỷ.
Bước đầu thực hiện chiến lược đó, hiện nay chúng ta có 3 công ty cung
cấp dịch vụ kết nối Internet, 5 công ty cung cấp dịch vụ truy nhập Internet
và16 nhà cung cấp thông tin trên Internet.
2.3. Tình hình cầu dịch vụ Internet trên thị trường
21
- Lĩnh vực thương mại điện tử
Thương mại điện tử đang phát triển nhanh trên bình diện toàn cầu và
được xem như là sự phát triển tất yếu của Thương mại trong nền kinh tế số
hoá. Thương mại điện tử thực sự có vai trò và hiệu quả đích thực khi có một
hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin vững vàng (bao gồm các chuẩn của doanh
nghiệp, của các nước và sự liên kết của các chuẩn ấy với các chuẩn quốc ế, kỹ

này thông qua ngành giáo dục. Trước đây chỉ có một số trường đại học và
trung học nối mạng Internet nhưng con số này là không nhiều. Vì vậy, để hỗ
trợ đưa mạng Internet tới trường học đây là một chính sách đúng đắn của
Đảng và Nhà nước ta. Tính đến nay, đã có tất cả 64 tỉnh thành trên cả nước đã
hoàn thành xong chương trình đưa Internet tới các trường đại học, cao đẳng
và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh, thành phố (nguồn bộ giáo dục và
đào tạo… Tổng số trường họcd dã hoàn thành kết nối Internet trên cả nước
như sau:
Tổng số trường đại học và cao đẳng đã hoàn thành là 235/235 trường
đạt 100%. Tổng số trường trung học phổ thông là 1923/2057 trường,đạt
93,48%.
- Các đối tượng khác:
Đồng bào Việt Nam trên khắp thế giới, trước kia không thể có điều
kiện thì nay đã nhận được đều đặn hàng ngày, hàng giờ các thông tin thời sự
về sự phát triển và đi lên không ngừng của đất nước.
Trong mấy năm qua kể từ ngày khai trương Internet ở Việt Nam
19/11/1997. Internet đã bổ sung một cách hoàn hảo cho báo chí (bản giấy),
phát thanh truyền hình tạo thành một hệ thống truyền thông hữu hiệu, góp
phần tạo nên thắng lợi của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới những năm qua.
Như vậy, có thể thấy rằng, nhu cầu sử dụng Internet ngày càng lớn và
được phổ biến áp dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực. Với một nền kinh tế hứa
hẹn phát triển cao, Việt Nam có thể trở thành một thị trường hấp dẫn cho
Internet trong một hai thập kỷ tới. Thị trường Việt Nam là hứa hẹn hơn nhiều
23
so với thoạt nhìn, nếu quan niệm một cách đúng đắn rằng thị trường không
chỉ là mục đích tiêu thụ, mà đồng thời là một nguồn cung cấp. Trong trường
hợp của Việt Nam, đó là nguồn tri thức yêu lao động dồi dào hiếm có trên thế
giới.
Như vậy, muốn thực hiện được nhiều giải pháp nêu trên thì không
những cần sự nỗ lực của công ty VDC mà còn cần sự nỗ lực của toàn xã hội.

0
500000
1000000
1500000
2000000
2000 2001 2002 2003 2004
(Nguồn: Tạp chí Xã hội thông tin kỳ 1 - số xuân năm 2005)
Nhìn vào biểu đồ trên ta thấy số lượng thuê bao Internet ở Việt Nam
tăng trưởng rất nhanh từ 104120 thuê bao năm 2000 lên 2000000 thuê bao
năm 2004.
Như vậy có thể thấy rằng thị trường Internet của Việt Nam phát triển
một cách nhanh chóng cả về quy mô cũng như chất lượng.
+ Về quy mô: Khối lượng khách hàng sử dụng dịch vụ Internet ngày
càng tăng,không chỉ giới hạn ở những thành phố lớn mà được mở rộng trên
phạm vi cả nước, không chỉ giới hạn ở những người có thu nhập cao nữa mà
đã được phổ biến sử dụng cả ở những đối tượng là học sinh, sinh viên tại các
trường đại học, cao đẳng và trung học phổ thông…
+Về chất lượng: Chất lượng dịch vụ Internet không ngừng được cải
thiện với nhiều hệ thống thiết bị hiện đại
2.5. Tình hình cạnh tranh của VDC trong lĩnh vực kinh doanh dịch
vụ Internet
2.5.1. FPT (công ty truyền thông FPT)
- Là công ty thành viên của tập đoàn FPT, trước đây Công ty Truyền
thông FPT là Trung tâm Internet FPT thuộc Công ty FPT trực thuộc Bộ Khoa
học công nghệ.
- Là IXP, ISP lớn thứ hai trên thị trường, (IXP: Internet Exchance
Provider = Nhà cung cấp đường truyền Internet, ISP: Internet Service
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status