THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIÊP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH HÀ TÂY
2.1. TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TÂY
2.1.1. Tổng quan về kinh tế – xã hội
2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Hà Tây là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, phía Đông giáp
Hà Nội, phía Tây giáp Hoà Bình, phía Nam giáp Nam Hà, phía Bắc giáp Vĩnh
Phúc, nằm cạnh khu tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long, hạt nhân
kinh tế của miền Bắc, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 11 km về phía Tây Nam,
Tỉnh có diện tích tự nhiên 2.193 km
2
. Với 3 cửa ngõ vào Thủ đô là quốc lộ 1,
quốc lộ 6 và quốc lộ 32.
Về tài nguyên, Hà Tây có một số khoáng sản chính là đá vôi, đá Granit,
sét, cao lanh, vàng sa khoáng, đồng, than bùn, nước khoáng, …với chất lượng
và trữ lượng cho phép khai thác và chế biến ở quy mô công nghiệp vừa.
Hà Tây cũng là một tỉnh đứng thứ 3 trên cả nước về số lượng các di tích
lịch sử (trên 300 di tích). Nhiều điểm du lịch của tỉnh đạt tầm cỡ quốc gia và
quốc tế. Các cảnh quan này được hình thành theo 3 cụm: Chùa Hương; Ba Vì -
Suối Hai - Ao Vua - Đồng Mô Ngải Sơn và Thạch Thất - Quốc Oai. Do vậy, có
điều kiện quy hoạch thành những trung tâm du lịch lớn.
Với những đặc điểm cơ bản trên, Hà Tây là một tỉnh có vị trí địa lý thuận
lợi, có nhiều tiềm năng về tài nguyên, cảnh quan và gần các trung tâm khoa học
kỹ thuật của trung ương, nên có điều kiện khai thác và mở rộng giao lưu thị
trường, phát triển các dịch vụ, hợp tác và phát triển với thủ đô Hà Nội và khu
tam giác kinh tế phía Bắc là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Điều kiện tự nhiên chia thành 3 vùng rõ rệt khác nhau: vùng đồng bằng có độ
cao trung bình 5 - 7m, có khí hậu của đồng bằng sông Hồng, chịu ảnh hưởng
của gió biển, khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ trung bình 23,5
0
nghiệp, dịch vụ còn thấp với trình độ kỹ thuật còn lạc hậu. Vốn đầu tư còn hạn
chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của địa phương.
Ngành nông nghiệp thời gian qua có tốc độ tăng trưởng bình quân từ 4%-
6%. Sản lượng lương thực đạt 100 vạn tấn, trong đó sản lượng lúa hàng năm
trên 80 vạn tấn. Năng suất lúa bình quân toàn tỉnh đạt 4,6 tấn/ha.
Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được duy trì mức tăng trưởng
hàng năm là 14%. Công nghiệp quốc doanh được sắp xếp lại một bước, một số
cơ sở được đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, gắn sản xuất với nhu cầu thị
trường nên sản xuất tăng và đạt hiệu quả hơn. Thủ công nghiệp được phát triển
nhanh ở các làng nghề và được mở rộng ở một số địa phương. Ngoài những
ngành nghề truyền thống còn có thêm nghề mới, sản phẩm mới vừa tiêu thụ nội
địa vừa xuất khẩu.
Về thương mại, dịch vụ, du lịch: tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ
tiêu dùng xã hội cả năm 2005 đạt 8.450 tỷ đồng, tăng 18,2% so với năm 2004;
Trong đó, khu vực Nhà nước chiếm tỷ trọng 9,5%, khu vực ngoài quốc doanh
chiếm tỷ trọng 90,5%. Giá trị xuất khẩu đạt gần 94,6 triệu USD. Hoạt động du
lịch ngày càng tiến bộ, số lượng khách đến tham quan, lễ hội, nghỉ ngơi giải trí
đạt 2,72 triệu lượt người, tăng 14,5% so với năm trước.
Giá trị tổng sản phẩm toàn tỉnh năm 2005 đạt 5.740 tỷ đồng. Tổng thu
ngân sách địa phương đạt 1.650 tỷ đồng. Đời sống nhân dân từng bước được cải
thiện, bộ mặt nông thôn từng ngày được thay đổi cùng với việc nâng cao dân trí
và xây dựng nông thôn mới. Trong 3 năm 2002-2005 tổng sản phẩm quốc dân
tăng bình quân 9,3% năm.
Nền kinh tế của tỉnh đã thay đổi theo cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp -
dịch vụ, du lịch . Xem bảng 2.1.
Bảng 2.1: Cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2002 - 2005
Đơn vị: %
Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005
1- Nông, lâm nghiệp 35,9 34,54 33,61 31,39
2- Công nghiệp 34,6 35,94 37,1 38,4
Bảng 2.2: Tổng quan hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng
trên địa bàn tỉnh Hà Tây năm 2005
STT
Tên các tổ chức tín
dụng
Nguồn vốn Dư nợ
Tiền
(tỷ đồng)
Tỷ trọng
(%)
Tiền
(tỷ đồng)
Tỷ
trọng
(%)
1 NHNo&PTNT Hà Tây 4767 50,1% 4242 56%
2 NH Công Thương 1857 19,5% 1183 15,6%
3 NH Đầu tư và Phát triển 1450 15,2% 1050 13,9%
4 NH CSXH 347 3,6% 347 4,6%
5 NH Phát triển nhà 247 2,6% 36 0,5%
6 Quỹ TDTW 207 2,2% 149 2,0%
7 Quỹ TDND 644 6,8% 563 7,4%
Tổng cộng 9519 100% 7.570 100%
Nguồn: Báo cáo tổng kết của NHNN Hà Tây 2005
Về quy mô hoạt động dịch vụ phi tín dụng của các Tổ chức tín dụng trên
địa bàn tỉnh Hà Tây có thể thấy rõ ở bảng 2.3 dưới đây :
Bảng 2.3: Số điểm giao dịch có dịch vụ phục vụ khách hàng của các
tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tây năm 2005
TT Tên các sản phẩm
Tổng số
9 Dịch vụ bảo lãnh 16 14 1 1 0 0
10 Kinh doanh Ngoại tệ 72 68 2 2 0 0
11
TT séc ngoại tệ, thẻ tín
dụng
72 68 2 2 0 0
12 Chi trả kiều hối 72 68 2 2 0 0
13 Chi trả Western Union 68 68 0 0 0 0
14 C.tiền TT phi mậu dịch 2 1 1 0 0 0
Nguồn: báo cáo tổng kết của NHNN Hà Tây năm 2005
Trong số các chi nhánh NHTM và TCTD trên địa bàn thì NHNo&PTNT
Hà Tây có màng lưới rộng nhất và thị phần hoạt động kinh doanh lớn nhất. Tính
đến hết năm 2005, NHNo&PTNT Hà Tây có mạng lưới rộng khắp trên địa bàn
toàn tỉnh. Đây là thế mạnh của NHNo&PTNT Hà Tây về lĩnh vực huy động
vốn, đầu tư cho vay và ứng dụng các dịch vụ phục vụ khách hàng ngày một
rộng rãi.
Về quy mô hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Hà Tây có thị phần
nguồn vốn chiếm tỷ trọng trên 50%, dư nợ chiếm trên 56% trên tổng nguồn vốn
và dư nợ của các tổ chức tín dụng trên địa bàn. Các dịch vụ phục vụ khách hàng
đa dạng như: dịch vụ chuyển tiền nhanh trong tỉnh, ngoại tỉnh và trên 535 ngân
hàng trên thế giới, dịch vụ chi trả kiều hối, chi trả Western Union, ATM và thẻ
tín dụng, …trên toàn các chi nhánh, từ đó đã mang lại lợi ích không nhỏ cho
khách hàng và ngân hàng.
2.1.3. Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Hà Tây
2.1.3.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Hà Tây
Một là, NHNNo&PTNT tỉnh Hà Tây là một chi nhánh có quy mô hoạt
động vào loại lớn nhất của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt
Nam.
Với đặc điểm này, hoạt động của NHNo &PTNT Hà Tây sẽ chịu sự chi
nghiệp có quan hệ tín dụng với NHNo&PTNT Hà Tây.
Tổng số các cá nhân mở tài khoản giao dịch với NHNo&PTNT Hà Tây
và phát hành thẻ ATM là 9.912 tài khoản; trong đó trên 6000 tài khoản phát
hành thẻ ATM
* Khu vực kinh tế hợp tác xã :
Sau khi chuyển đổi theo luật, đến nay toàn tỉnh có 533 hợp tác xã, trong
đó hợp tác xã nông nghiệp có 494, hợp tác xã công nghiệp, vận tải có 39. Qua
khảo sát cho thấy các hợp tác xã đã chuyển đổi theo luật từ các HTX cũ, hoạt
động kinh doanh yếu kém, năng lực tài chính khó khăn, không đủ sức cạnh
tranh trên thương trường, khả năng sử dụng các dịch vụ ngân hàng thấp và hầu
như không có.
* Khu vực kinh tế hộ tư nhân, cá thể :
Toàn tỉnh có 56 vạn hộ dân cư, trong đó hộ giàu chiếm khoảng 9%, hộ
khá chiếm khoảng 26%, hộ trung bình chiếm khoảng 54,5%, hộ nghèo chiếm
khoảng 10,5%. Khu vực kinh tế này trong những năm gần đây hoạt động phát
triển tốt, đã từng bước phát triển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng
hoá, gắn được việc sản xuất kinh doanh với thị trường đặc biệt nơi có làng nghề.
Đây là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển các sản phẩm dịch vụ của ngân
hàng.
2.1.3.3. Tổng quan hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn Hà Tây
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tây được thành lập từ
tháng 10 năm 1991 trên cơ sở sát nhập 8 ngân hàng huyện, thị xã thuộc tỉnh Hà
Sơn Bình cũ và 6 ngân hàng huyện, thị xã của Hà Nội chuyển giao.
Trong thời gian mới thành lập, toàn tỉnh Hà Tây có 14 chi nhánh Ngân hàng
huyện, thị xã, với 28 phòng giao dịch và bàn tiết kiệm, với tổng số 1181 cán bộ
công nhân viên. Tổng nguồn vốn huy động 77 tỷ đồng, dư nợ 46 tỷ đồng chủ
yếu cho vay doanh nghiệp quốc doanh và hợp tác xã (chiếm 90%). Chất lượng
cho vay thấp, nợ quá hạn chiếm 17% tổng dư nợ. Kết quả kinh doanh thua lỗ.
Đó là những thách thức không nhỏ về thực trạng hoạt động kinh doanh, trình độ
NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây đã được trang bị hệ thống mạng truyền thông
gồm: 01 đường Leasd-line 128Kb từ trụ sở NHNo&PTNT tỉnh đi trụ sở chính
phục vụ cho việc ứng dụng chương trình giao dịch một cửa và công tác đào tạo;
13 đường Leasd-line 64 Kb cho 13 ngân hàng huyện, thị xã kết nối về trụ sở
NHNo tỉnh; 14 đường truyền dự phòng nếu đường Leasd-line có sự cố; Mỗi chi
nhánh trang bị 01 máy phát điện dự phòng; đường điện thoại, điện lưới của chi
nhánh đã được cải tạo đủ khả năng đáp ứng cho việc mở rộng quy mô hoạt động
2.2.2. Thực trạng hoạt động dịch vụ tại NHNo&PTNT tỉnh Hà Tây
2.2.2.1. Về huy động vốn
Hiện nay, NHNo&PTNT Hà Tây đã và đang thực hiện nhiều biện pháp
hữu hiệu trong công tác huy động vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với
nhiều hình thức như:
- Nhận tiền gửi của khách hàng (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn
và các loại tiền gửi khác).
- Tiền gửi tiết kiệm: Không kỳ hạn; tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn; tiền gửi
tiết kiệm bậc thang; tiền gửi tiết kiệm gửi góp; Tiền gửi tiết kiệm có thưởng;
Tiền gửi tiết kiệm bằng VNĐ bảo đảm giá trị theo vàng; Tiền gửi tiết kiệm bằng
vàng; Tiền gửi tiết kiệm có tặng quà bằng vàng 3 chữ A (4 con 9) và có dự
thưởng.
- Giấy tờ có giá ngắn hạn: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và tín phiếu;
- Giấy tờ có giá dài hạn: trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn.
- Chiết khấu các loại chứng từ có giá.
- Vay vốn của NHNN và các TCTD khác; ...
Kết quả huy động vốn những năm qua đạt kết quả khả quan. Tổng nguồn
vốn huy động đến 31/12/2005 là 4.767 tỷ đồng, chiếm trên 50% thị phần nguồn
vốn trên địa bàn, tăng 842 tỷ đồng so với năm 2004, tốc độ tăng trưởng 21,5%/
năm. Trong đó cơ cấu theo thời hạn như sau:
Bảng 2.4: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn các năm 2000 - 2005
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004 2005