Thực trạng cơ cấu đầu tư ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 đến
2009
I. Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn
Cơ cấu đầu tư theo nguồn vốn có thể chia ra làm ba khu vực chính là khu vực
nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực đầu tư nước ngoài. Trong giai đoạn 1986-1990
nguồn vốn khu vực nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng cao do những năm đầu của thời kỳ mở
cửa hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính chưa phát triển và
gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động, đặc biệt là trong việc huy động vốn.
Nhưng bước sang giai đoạn 2000 – 2009 thì cơ cấu này đã có sự thay đổi đáng
kể.
Bảng 1: Vốn đầu tư toàn xã hội qua các năm
Đơn vị: tỷ đồng
Năm Tổng số Khu vực
Nhà nước
Khu vực tư
Nhân
Vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài
2000
151183 89417 34594 27172
2001
170496 101973 38512 30011
2002
200145 114738 50612 34795
2003
239246 126558 74388 38300
2004
290927 139831 109754 41342
2005
343135 161635 130398 51102
2006
2003 126558 56992 38988 30578
2004 139831 69207 35634 34990
2005 161635 87932 35975 37728
2006 185102 100201 26837 58064
2007 197989 107328 30504 60157
2008 184400 100900 32928 50572
2009 245000 153800 30473 60727
Nguồn: Tổng cục thống kê.
Qua bảng 2, ta thấy vốn đầu tư từ nguồn Ngân sách Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn
nhất trong tổng số vốn từ khu vực Nhà nước và có xu hướng ngày càng tăng cao. Thật
vậy, trong giai đoạn 2000 – 2009, tỷ trọng vốn ngân sách trong tổng số vốn đầu tư của
khu vực nhà nước có xu hướng tăng lên từ 43.623% năm 2000 tăng lên 62,77% năm
2009. Tính riêng năm 2009 vốn từ Ngân sách Nhà nước đạt 153800 tỷ đồng, chiếm
21,8% tổng vốn đầu tư cả nước và bằng 106,8% kế hoạch.
Về cơ cấu chi đầu tư của NSNN trong thời kỳ này cũng đã chuyển biến theo
hướng tập trung hơn cho các lĩnh vực ưu tiên của giai đoạn này, đó là: giao thông, thủy
lợi giáo dục - đào tạo và các công trình phúc lợi dành cho người nghèo. Những chính
sách này đã được tiến hành trong một thời gian khá dài, và nó đã thể hiện sự cố gắng
của nhà nước trong việc phân bổ những nguồn lực hạn hẹp để tạo đà cho tăng trưởng
kinh tế.
1.2. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước
Là nguồn vốn có vai trò quan trọng trong phục vụ cho công tác quản lý nhà nước
và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Thông qua nguồn này, nhà nước khuyến khích phát triển
các ngành, vùng, lĩnh vực theo định hướng chiến lược của mình. Nguồn vốn còn được
phân bổ để thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội.
Bảng 3: Vốn tín dụng đầu tư phát triển nhà nước.
Đơn vị: nghìn tỷ VND
Năm Vốn tín dụng đầu tư phát triển Nhà nước % vốn tín dụng/ tổng vốn đầu tư
2002 24,12 1,21
2003 28,51 2,85
Năm Vốn doanh nghiệp nhà nước( tỷ
đồng)
Tỷ trọng trong vốn đầu tư
(Đơn vị: %)
2000 22637 14,97
2001 27656 16,22
2002 29591 14,78
2003 30578 12,78
2004 34990 12,03
2005 37728 10,99
2006 47901 11,83
2007 60900 11,44
2008 64620 10,14
2009 60000 8,52
Nguồn: Tổng cục thống kê, vneconomy.vn
- Trong giai đoạn 2000- 2009, các DNNN vẫn làm tốt vai trò là loại hình DN đi
đầu, chiếm tỉ trọng đáng kể trong nền kinh tế. Song càng ngày, tỷ trọng doanh thu của
các DNNN càng giảm. Nguyên nhân là do quá trình cổ phần hóa các DNNN đang diễn
ra nhanh chóng. Tính đến hết 8/2006, cả nước đã sắp xếp được 4.447 doanh nghiệp,
trong đó, CPH 3.060 doanh nghiệp. Riêng từ năm 2001 đến nay đã sắp xếp được 3.830
doanh nghiệp Nhà nước, bằng gần 68% số doanh nghiệp Nhà nước đầu năm 2001.
Sau quá trình thực hiện sắp xếp, số lượng doanh nghiệp Nhà nước giảm nhưng
vẫn tiếp tục giữ vai trò chi phối những ngành, lĩnh vực then chốt. Khu vực doanh
nghiệp Nhà nước vẫn đóng góp gần 40% GDP và 50% tổng thu ngân sách Nhà nước.
1.4. Nguồn vốn đầu tư của tư nhân và dân cư:
Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tiết kiệm trong dân cư và các doanh
nghiệp doanh dân chiếm bình quân khoảng 15% GDP, trong đó phần tiết kiệm của dân
cư tham gia đầu tư gián tiếp vào khoảng 3,7% GDP, chiếm khoảng 25% tổng tiết kiệm
của dân cư; phần tiết kiệm của dân cư tham gia đầu tư trực tiếp vào khoảng 5% GDP và
bằng 33% số tiết kiệm được. Trong giai đoạn 2001-2005, vốn đầu tư của dân cư và tư
qua:
Đơn vị: triệu USD
Năm Số dự án
Vốn đăng ký
Tổng số
vốn thực
hiện
Tổng số
Vốn điều lệ
Tổng số
Nước ngoài
góp
Việt Nam góp
2000 391 2838.9 1312.0 951.8 360.2 2413.5
2001 555 3142.8 1708.6 1643 65.6 2450.5
2002 808 2998.8 1272 1191.4 80.6 2591
2003 791 3191.2 1138.9 1055.6 83.3 2650
2004 811 4547.6 1217.2 1112.6 104.6 2852.5
2005 970 6839.8 1973.4 1875.5 97.9 3308.8
2006 987 12004 4674.8 4328.3 346.5 4100.1
2007 1544 21347.8 8183.6 6800 1383.6 8030
2008 1171 64011.0
2009 839 16345.9
Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và đầu tư
Từ năm 1991 đến 1996 là thời kỳ FDI tăng trưởng nhanh, đạt kết quả cao nhất
trong 20 năm và góp phần ngày càng quan trọng vào việc thực hiện kinh tế – xã hội.
Trong kế hoạch 5 năm 1991- 1995 thu hút được 17663 triệu USD vốn FDI đăng ký, tốc
độ tăng trưởng hàng năm rất cao. Đây là thời kỳ hoạt động FDI rất sôi động, hàng nghìn
đoàn khách quốc tế đến Việt Nam tìm kiếm cơ hội đầu tư, hàng trăm dự án mới chờ
thẩm định, hàng chục nhà máy được khởi công cùng một lúc, bản đồ FDI thay đổi từng
Do ảnh hưởng của thời kỳ suy thoái nên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
Việt Nam năm 2009 giảm đáng kể, chỉ có 893 dự án đăng ký với tổng số vốn 16345,9,
giảm gần 4 lần so với năm 2008.
2.2. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức – ODA
Trong thời gian qua, cộng đồng tài trợ tại Việt Nam đã được mở rộng rất nhiều và
hiện có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương và 23 nhà tài trợ đa phương
đang hoạt động thường xuyên tại Việt Nam. Ngoài các nước là thành viên của Tổ chức
OECD-DAC còn có các nhà tài trợ mới nổi như Trung Quốc, Ấn độ, Hung-ga-ri, Séc,...
Bảng 5: Cam kết, ký kết và giải ngân vốn ODA giai đoạn 2000 – 2009
Đơn vị: TriệuUSD
Năm Cam kết Ký kết Giải ngân
2000 2.400,50 1.772,02 1.650
2001 2.399,10 2.427,42 1.500
2002 2.462,00 1.826,17 1.528
2003 2.838,40 1.772,98 1.422
2004 3.440,70 2.569,22 1.650
2005 3.748,00 2.529,11 1.782
2006 4.445,60 2.824,58 1.785
2007 4.455 3.122,47 2.130
2008 5.426 3500 2.175
2009 5.014,67 6.144,4 3.600
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Qua bảng số liệu ta thấy số vốn ODA cam kết và ký kết của nước ngoài dành cho
Việt Nam tăng đáng kể và lượng giải ngân ngày càng hiệu quả hơn. Trong thời kỳ 2006
– 2010, Việt Nam dự kiến giải ngân khoảng 11,9 tỷ USD vốn ODA để hỗ trợ phát triển
nông nghiệp và nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng theo hướng đồng bộ và hiện đại;
phát triển cơ sở hạ tầng xã hội; bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên;
phát triển thể chế và tăng cường năng lực con người.
Trong kế hoạch 5 năm 2006-2010, Việt Nam có kế hoạch huy động khoảng 11 tỷ
USD Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vào đầu tư phát triển. Như vậy, trung bình
huyện, các công trình thủy lợi, các chợ nông thôn,...
ODA có vai trò quan trọng hỗ trợ Việt Nam xây dựng và hoàn thiện khung thể
chế, pháp lý (xây dựng và hoàn thiện các Luật, các văn bản dưới Luật) thông qua việc
cung cấp chuyên gia quốc tế, những kinh nghiệm và tập quán tốt của quốc tế và khu vực
trong lĩnh vực pháp luật đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế
thị trường và hội nhập quốc tế.
Nguồn vốn ODA có vai trò tích cực hỗ trợ phát triển năng lực con người trong
việc đào tạo và đào tạo lại hàng vạn cán bộ Việt Nam trong thời gian qua trên rất nhiều
lĩnh vực như nghiên cứu cơ bản và ứng dụng khoa học, công nghệ, quản lý kinh tế và
xã hội, thông qua việc cung cấp học bổng nhà nước, cử chuyên gia nước ngoài để đào
tạo tại chỗ trong quá trình thực hiện các chương trình, dự án ODA, chuyển giao công
nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, cung cấp trang thiết bị nghiên cứu và triển khai...
2.3. Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại quốc tế.
Trong các nguồn vốn được đầu tư thì nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng
thương mại cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể.
Các số liệu của Ngân hàng thế giới WB đã cho thấy luồng vốn đầu tư từ các
Ngân hàng thương mại nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu tăng, WB đã ước tính luồng
vốn đầu tư thật sự vào Việt Nam có thể đạt được mức tăng 10%/năm. Các kết quả khả
quan này, theo các nhà đầu tư nước ngoài, là do môi trường đầu tư ở Việt Nam đã được
cải thiện đáng kể. Việc gia nhập vào tổ chức Thương mại thế giới WTO vào tháng
11/2006 đã giúp cho Việt nam rất nhiều trong việc thu hút vốn từ các ngân hàng thương
mại quốc tế. Với tư cách là thành viên của WTO, Việt Nam sẽ trở nên hấp dẫn hơn đối
với các nhà đầu tư nước ngoài do đã tạo ra được sự tin tưởng vào cơ chế, chính sách ổn
định ở nước ta.
Trong năm 2008, Ngân hàng Thế giới WB đã dành cho Việt Nam nhiều khoản
vay ưu đãi với số tiền cho vay rất lớn, cùng với thời gian vay kéo dài. Có nhiều dự án
cho vay với kỳ hạn 40 năm. Đó là cơ sở, nền tảng vững chắc tạo điều kiện thuận lợi cho
nước ta đi lên. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ngân hàng Thế giới đã
ký kết Hiệp định Tín dụng và các văn kiện khác cho khoản tín dụng xóa đói giảm nghèo
lần thứ 7 (PRSC-7) với trị giá 150 triệu USD (kí kết vào ngày 29/7/2008, tại Việt Nam).
quốc tế. Đầu tháng 6/2007, BTC đã kiến nghị Chính phủ thông qua Nghị quyết phát
hành 1 tỷ USD trái phiếu ra thị trường vốn quốc tế với thời hạn từ 15 đến 20 năm (hiện
tại được mở rộng thời hạn huy động từ 10 đến 30 năm) cho Tập đoàn Dầu khí, Tổng
công ty Hàng hải, Tổng công ty Sông Đà và Lilama vay lại để đầu tư các dự án...
Hiện có ba hình thức phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế: thứ nhất, Chính
phủ phát hành trái phiếu rồi lựa chọn doanh nghiệp đầu tư (như đã làm với Vinashin);
hình thức thứ hai là doanh nghiệp phát hành, Chính phủ bảo lãnh và thứ ba là doanh
nghiệp tự phát hành.
Theo ý kiến của các chuyên gia, hình thức thứ nhất và thứ hai là phù hợp với các
doanh nghiệp VN vì doanh nghiệp có thể dựa vào năng lực và hệ số tín nhiệm của
Chính phủ đã được các nhà đầu tư quốc tế công nhận mà không phải thực hiện lại các
bước đi phức tạp từ đầu như tiếp xúc với các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm và thực
hiện quảng bá, xúc tiến với các nhà đầu tư...
3. Hạn chế
- Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước còn thấp, sử dụng vốn ngân
sách cho đầu tư còn giàn trải, phân tán; các dự án còn chậm tiến bộ.
- Việc thực hiện và giải ngân nguồn vốn Ngân sách Nhà nước và trái phiếu chính
phủ còn chậm chễ. Nguyên nhân đầu tiên phải nói đến, đó chính là công việc chỉ đạo,
điều hành và quản lý thực hiện dự án của các Bộ, ngành, địa phương còn nhiều hạn chế,
đồng thời công tác xây dựng, thẩm định, phê duyệt dự án, tổng dự toán và thiết kế kỹ
thuật… vừa chậm trễ, vừa chưa đảm bảo yêu cầu chất lượng; công tác khảo sát ban đầu
thiếu chính xác, không xác định đầy đủ các yếu tố liên quan. Thủ tục phê duyệt tổng dự
toán, kế hoạch đấu thầu, kết quả trúng thầu…của một số Bộ, ngành và địa phương còn
rất rườm rà và phức tạp. Các quy định hướng dẫn tính toán điều chỉnh chi phí, định mức
đầu tư thường chậm được xử lý của các cấp thẩm quyền và không đồng bộ với các biến
động thị trường, nhiều lúc dẫn đến tình trạng chi vượt dự toán, giảm nguồn thu.
- Lãng phí kép trong sử dụng vốn. Ở Việt Nam tồn tại một nghịch lí là nước nghèo
nhưng không biết tiêu tiền hợp lí, gây lãng phí. Chúng ta chưa quan tâm đầy đủ việc sử
dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư kể cả ngân sách, nguồn đầu tư trong nước cũng
như nước ngoài và ODA. Đầu tư trong nước cũng là một nguồn lực tốt, thậm chí, năm
Chưa kể nó sẽ kìm hãm sự phát triển của khu vực, lĩnh vực đưa ODA vào.
II. Thực trạng cơ cấu vốn đầu tư
1.Vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước
VĐT xây dựng cơ bản là chi phí đầu tư chủ yếu cho hệ thống cơ sở hạ tầng KT_XH bao
gồm: chi phí cho việc khảo sát, quy hoạch xây dựng, chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và
xây dựng, chi phí mua sắm, lắp đặt máy thiết bị và các chi phí khác, ghi trong tổng dự
toán.VĐT xây dựng cơ bản chiếm phần lớn VĐT phát triển xã hội và rất được quan tâm
trong cân đối chi tiêu ngân sách. Đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn NSNN chiếm tỷ trọng
cao nhất. Đây là cốt lõi của đầu tư phát triển toàn xã hội, có vai trò quan trọng trong
việc định hướng các thành phần kinh tế với các loại nguồn vốn ngoài NSNN để đầu tư
phát triển phục vụ các mục tiêu KT – XH đã được Đảng và Nhà nước xác định trong
qua trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.
Bảng 1: tỷ lệ đầu tư XDCB trong tổng chi NSNN.
( đơn vị : tỷ đồng)
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009
Chi ĐTPT 29624 40236 45218 59629 66115 79199 88341 112160
Chi XDCB 26211 36139 40740 54430 61746 72842 81078 107440 115274 228242
Tỷ lệ
( % )
88,42 89,81 90,09 91,28 93,39 91,97 91,78 95,79
Nguồn : Tổng cục thống kê
Từ bảng 1 ta thấy được sự quan tâm của Đảng và nhà nước ta đối với việc đầu
tư xây dựng cơ bản.Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản không ngừng tăng lên cả về giá
trị tương đối và tuyệt đối qua các năm. Nếu như năm 2000 vốn XDCB là 26211 tỷ đồng
( 88,42% ) thì đến năm 2006 đã tăng lên hơn 3 lần (81087tỷ đồng) và tới năm 2007
tăng 4,3 lần (107440 tỷ đồng), một tỷ lệ cho thấy chi cho XDCB chính là chi cho đầu tư
phát triển .Năm 2008 chi cho XDCB từ ngân sách nhà nước là 115274 tỷ đồng,năm
2009 là 228242 tỷ đồng tăng 98% so với năm 2008 và là số vốn đầu tư NSNN lớn nhất
trong 1 năm.
Những thống kê trên cho thấy những kết quả tích cực từ cơ cấu, định hướng cân
2002 17844 1852
2003 22881 1853
2004 25343 2362
2005 28611 2584
2006 37332 2540
2007 53774 7604
Nguồn : Tổng cục thống kê
2.1. Giáo dục – Đào tạo.
Đầu tư cho GD-ĐT hiện nay từ các nguồn: NSNN (cả công trái giáo dục, vay
nợ, viện trợ) và ngoài NSNN (học phí, thu dịch vụ khoa học công nghệ…) trong đó
ngân sách chiếm 78,2% và là nguồn chủ yếu và có ý nghĩa quyết định nhất. Ngân sách
nhà nước dành cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo năm 2000 là 12677 tỷ đồng chiếm
11,63% tổng chi ngân sách nhà nước,tới năm 2007 là 53774 tỷ đồng (tăng gấp 4,24 lần
so với năm 2000)chiếm 13,46 % tổng chi ngân sách nhà nước năm 2007.
Khi đánh giá về việc sử dụng nguồn ngân sách nhà nước (NSNN) đầu tư cho
GD-ĐT trong những năm qua, nhiều người đã cho rằng, kinh phí đầu tư lớn nhưng hiệu
quả chưa cao. Theo tính toán tổng chi phí cho giáo dục ở Việt Nam so với GDP không
những thuộc loại cao nhất thế giới mà còn đạt giải quán quân trong những nước cao
nhất.Năm 2006 tổng chi cho giáo dục lên tới 8,4% GDP, năm 2007 lên tới 9,2% GDP
khi ngân sách nhà nước tăng thêm gần 1% nữa. Trong tổng chi phí, phần chi ngân sách
nhà nước cho giáo dục cũng tăng từ 4,2% năm 2000 lên 5,6% GDP năm 2006, chứng tỏ
nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến giáo dục, nhưng đồng thời cũng chứng tỏ sự lãng
phí và thiếu hiệu quả của việc chi phí trên, tuy nhiên rất đáng buồn là không thể tìm ra
nguồn gốc của chúng vì sự thiếu minh bạch trong số liệu tài chính hiện nay.
Thực tế thì, từ năm 2001 đến 2007, chi NSNN cho giáo dục tăng qua mỗi năm,
với tỷ trọng trong GDP tăng từ 4,1% lên 5,6%. Song, do GDP của nước ta thấp nên cơ
sở vật chất của ngành còn hết sức thiếu thốn, chỉ nói riêng về cơ sở vật chất tối thiểu là
phòng học thì năm 2006 vẫn còn 38% số phòng bán kiên cố, 10,6% phòng học tạm; đời
sống giáo viên còn rất khó khăn với lương bình quân thấp nhất là giáo viên mầm non
1,6 triệu đồng/tháng, cao nhất là giảng viên CĐ, ĐH là 2,5 triệu đồng/tháng... nhưng