MỤC LỤC
Lý do chọn đề tài và phạm vi nghiên cứu............................................3
CHƯƠNG1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
CÂY TRỒNG VẬT NUÔI....................................................................4
I. Một số vấn đề lý luận cơ bản về sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông
nghiệp..........................................................................................................4
1. Các khái niệm.........................................................................................4
1.1. Khái niệm cơ cấu ngành.......................................................................4
1.2. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành...............................................5
2. Cơ sở khoa học chuyển dịch cơ cấu kinh tế..........................................6
2.1. Quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engel...............................................6
2.2. Quy luật tăng năng suất lao động của A.Fisher...................................7
2.3. Lý thuyết về các giai đoạn phát triển kinh tế của W.Rostow................7
3. Cơ cấu nông nghiệp và sự cần thiết phải chuyển dich cơ cấu nông
nghiệp.........................................................................................................8
3.1. Cơ cấu ngành nông nghiệp:..................................................................8
3.2. Sự cần thiết phải chuyển dich cơ cấu nông nghiệp...............................9
II. Các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp...........10
1. Vấn đề quy hoạch ,chính sách của nhà nước......................................10
2. Điều kiện tự nhiên và ảnh hưởng........................................................13
3. Vốn và sự ảnh hưởng của vốn.............................................................13
4. Khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học.........................14
CHƯƠNG 2.........................................................................................15
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP
Ở VIỆT NAM....................................................................................15
SV: Lương Bá Thiện 1 Lớp: KTPT 47B_QN
I. T ổng quan về thực trạng kinh tế Việt Nam .....................................15
1. Tình hình phát triển kinh t ế xã hội Việt Nam....................................15
2. Tình hình phát triển nông nghiệp Việt Nam.......................................16
II. Đánh giá chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Việt Nam thời gian qua
và nông nghiệp còn thấp.
Với 80% dân số sống trong khu vực nông nghiệp và trên 70% lao động xã hội
đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông - lâm - nghiệp. Nên vấn đề phát huy
các lợi thế và tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp và đẩy mạnh sản xuất và xuất
khẩu, không chỉ là yêu cầu đối với sự nghiệp phát triển của nền kinh tế nông nghiệp,
mà còn là vấn đền có tính chiến lược, nhằm giải quyết có tính tổng thể về các quan
hệ kinh tế - xã hội... trong nông thôn và nông nghiệp
Tiếp tục đổi mới cơ cấu nông nghiệp và thể chế, chính sách, nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh và hiệu quả hàng hoá nông nghiệp trên thị trường trong nước và
thị trường thế giới là nội dung có tính cơ bản để Việt Nam hội nhập một cách có
hiệu quả vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Do vậy, em xin nghiên cứu đề tài:
"Chuyển địch cơ cấu Nông nghiệp ở Việt Nam , thực trạng và pháp .’’ với phạm
vi nghiên cứu trên toàn bộ nền nông nghiệp Việt Nam .
Đây là một đề tài có nội dung phong phú và phức tạp . Trong quá trình làm bài
mặc dù đã cố sự hướng dẫn nhiệt tình của thày giáo _Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sơn
nhưng trong điều kiện hạn chế về thời gian và kiến thức , kinh nghiệm nên bài viết
không thể tránh khỏi nhưng thiếu sót , em rất mong sự góp ý của thày cô để bài viết
được hoàn thiện hơn !
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Lương Bá Thiện 3 Lớp: KTPT 47B_QN
CHƯƠNG1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
CÂY TRỒNG VẬT NUÔI
I. Một số vấn đề lý luận cơ bản về sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông
nghiệp.
1. Các khái niệm.
1.1. Khái niệm cơ cấu ngành
Trước khi đi đến khái niệm cơ cấu ngành của nền kinh tế, cần làm rõ nội dung
của thuật ngữ “cơ cấu”.
1
đến chừng nào mà có được một tập hợp các ngành tương ứng. Ngoài ra, một số tác
giả còn đưa ra các cách phân ngành riêng tuỳ theo mục đích nghiên cứu.
Với một cách phân ngành hợp lý và một đại lượng giá trị được chọn thống
nhất, có thể xác định được chỉ tiêu định lượng phản ánh một mặt của cơ cấu ngành,
đó là tỷ trọng các ngành so với tổng thể các ngành của nền kinh tế. Loại chỉ tiêu
định lượng thứ nhất này đã được sử dụng trong các nghiên cứu về phát triển liên
quan đến cơ cấu ngành của nền kinh tế . Các chỉ tiêu loại một này chỉ cho biết số
ngành kinh tế và quy mô của chúng trong sự so sánh tương đối với nhau và với tổng
thể. Chỉ tiêu định lượng thứ hai có thể mô tả được phần nào mối quan hệ tác động
qua lại giữa các ngành kinh tế, đó là các hệ số trong bảng cân đối liên ngành ( của
hệ MPS ) hay bảng Vào-Ra (I/O) (của hệ SNA). Các hệ số về liên hệ phía “ thượng
lưu ”-CLAM
2
và các hệ số liên hệ phía “hạ lưu”-CLAV
3
cũng là một trường hợp của
loại chỉ tiêu này.
Như vậy, theo định nghĩa cơ cấu ngành đưa ra và xét về mặt định lượng, ít ra
phải có hai loại chỉ tiêu trên đây mới cho ta có được một sự hiểu biết đầy đủ hơn về
cơ cấu ngành của một nền kinh tế.
1.2. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu ngành.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (trong đó có cơ cấu ngành) đã được định nghĩa
như sau: “là quá trình cải biên kinh tế xã hội từ nền kinh tế lạc hậu, mang tính chất
tự cấp, tự túc bước vào chuyên môn hoà hợp lý, trang bị kỹ thuật, công nghệ hiện
đại, trên cơ sở tạo ra năng suất lao động cao và nhịp độ tăng trưởng mạnh cho nền
kinh tế nói chung ”. Định nghĩa này mang nhiều tính chủ quan, mong muốn hơn là
mô tả bản chất của sự việc, và thiếu một sự khái quát nhất định. Vì rằng không chỉ
có nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển (tự túc, tự cấp) mới có sự chuyển dịch cơ cấu
2
CLAM- Viết tắt của: Coefficient de liaison en a mont
giảm đi khi thu nhập tăng lên.
Quy luật của E.Engel được phát hiện cho sự tiêu dùng lương thực, thực phẩm
nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng cho việc nghiên cứu tiêu
dùng các loại sản phẩm khác. Các nhà kinh tế gọi lương thực, thực phẩm là các sản
phẩm thiết yếu, hàng công nghiệp là sản phẩm tiêu dùng lâu bền, và việc cung cấp
dịch vụ là sự tiêu dùng cao cấp. Qua quá trình nghiên cứu, họ phát hiện ra xu hướng
SV: Lương Bá Thiện 6 Lớp: KTPT 47B_QN
chung là khi thu nhập tăng lên thì tỷ lệ chi tiêu cho hàng tiêu dùng lâu bền tăng phù
hợp với tăng thu nhập, còn chi tiêu cho tiêu dùng cao cấp tăng nhanh hơn tốc độ
tăng thu nhập.
Như vậy, quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engel đã làm rõ tính xu hướng của
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển.
2.2. Quy luật tăng năng suất lao động của A.Fisher.
Năm 1953, trong cuốn “Các quan hệ kinh tế của tiến bộ kĩ thuật”, A.Fisher đã
giới thiệu khái niệm về việc làm ở khu vực thứ nhất, thứ hai và thứ ba. A.Fisher
quan sát thấy rằng, các nước có thể phân loại theo tỷ lệ phân phối tổng số lao động
của từng nước vào 3 khu vưc. Khu vực thứ nhất bao gồm sản xuất nông nghiệp,lâm
nghiệp và theo một số quan điểm còn bao gồm cả khai thác mỏ. Khu vực thứ hai
bao gồm công nghiệp chế biến và xây dựng. Khu vực thứ ba gồm có vận tải, thông
tin, thương nghiệp, dịch vụ Nhà nước, dịch vụ tư nhân. Theo A.Fisher, tiến bộ kĩ
thuật đã có tác động đến sự thay đổi phân bố lao động vào 3 khu vực này. Trong quá
trình phát triển, việc tăng cường sử dụng máy móc và các phương pháp canh tác mới
đã tạo điều kiện cho nông dân nâng cao năng suất lao động. Kết quả là, để đảm bảo
lượng lương thực, thực phẩm cần thiết cho xã hội thì không cần đến lượng lao động
như cũ và do vậy, tỷ lệ của lực lượng lao động trong nông nghiệp giảm. Dựa vào
các số liệu thống kê thu nhập được, A.Fisher cho rằng tỷ lệ giảm này có thể từ 80%
đối với các nước chậm phát triển nhất xuống 11-12%, ở các nước công nghiệp phát
triển và trong những điều kiện đặc biệt có thể xuống tới 5%. Ngược lại, tỷ lệ lao
động được thu hút vào khu vực thứ hai và khu vực thứ ba ngày càng tăng do tính co
dãn về nhu cầu sản phẩm của 2 khu vực này và khả năng hạn chế hơn của việc áp
Cơ cấu ngành nông nghiệp của một nền kinh tế là tập hợp tất cả các nhóm
ngành nông nghiệp (hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các ngành: nông-lâm-ngư
nghiệp; theo nghĩa hẹp bao gồm: trồng trọt và chăn nuôi) và các mối quan hệ tương
đối ổn định giữa chúng. Nói cách khác giữa các ngành nông nghiệp gồm các yếu tố
có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển trong những không gian
và thời gian nhất định, trong những điều kiện kinh tế nhất định.
Cơ cấu ngành nông nghiệp luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển của nền
kinh tế. Đó là sự thay đổi quan hệ tỷ lệ giữa các ngành (tỷ lệ giữa ngành trồng trọt
và chăn nuôi; giữa nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản ), các vùng, các thành phần
SV: Lương Bá Thiện 8 Lớp: KTPT 47B_QN
(do sự xuất hiện một số ngành ngoài nông nghiệp như: tiểu thủ công nghiệp, công
nghiệp, dich vụ nông thôn...) hay do sự gia tăng hoặc giảm sút tốc độ tăng trưởng
giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu ngành nông nghiệp là không đồng đều. Sự thay đổi
của cơ cấu ngành nông nghiệp từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp
với môi trường phát triển được gọi là sự chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp.
Mặt khác trong thực tế cũng như trong lý luận, cơ cấu nông nghiệp chịu ảnh
hưởng trực tiếp của cơ cấu đầu tư và cơ cấu lao động.
3.2. Sự cần thiết phải chuyển dich cơ cấu nông nghiệp.
Trong hơn 10 năm phát triển, nông nghiệp Việt Nam đã và đang đạt được
những thành tựu hết sức to lớn. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng bắt đầu xuất hiện
những vấn đề đáng lo ngại. Những năm gần đây, tỷ suất hàng hoá trong nông nghiệp
của nước ta có xu hướng ngày càng nâng cao. Nông nghiệp Việt Nam ngày càng có
nhiều mặt hàng tham gia vào thị trường thế giới, trong đó có một số mặt hàng có thứ
hạng cao trong thị phần như cà phê, gạo, hồ tiêu, điều...Có thể thấy, tăng trưởng của
nông nghiệp nước ta ngày càng tuỳ thuộc vào kinh tế và thị trường thế giới
Thế nhưng kinh tế thế giới và khu vực trong những năm qua vẫn đang nằm
trong chu kỳ suy thoái, thậm chí dường như nằm ở đáy của chu kỳ này. Do vậy,
những nỗ lực gia tăng sản lượng đã không đủ bù đắp lại thiệt hại về giá cả trên thị
trường thế giới.( xem biểu đồ)
S¶n lîng l¬ng thùc quy thãc
trong tình thế bất lợi. Năm nay, hàng bán ra thị trường thế giới lỗ lãi, tồn đọng ở thị
trường trongnc nhiều. Độ co dãn về cầu trong nước của những mặt hàng này lại
thấp. Những tín hiệu trên đây của thị trường mách bảo điều gì?.
Ít nhất thì cũng có hai điều có thể nhận biết từ động thái của thị trường trong
những năm gần đây, nhất là từ năm 2002. Một là, cần phải đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp, nông thôn cho thích ứng với đòi hỏi thị trường. Hai là, tổ chức
lại nền nông nghiệp, kinh tế nông thôn nhằm nâng cao năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm và nắm bắt thông tin thị trường thế giới cũng như trong nước.
II. Các nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
Mỗi giai đoạn phát triển nông nghiệp đều chịu tác động của rất nhiều yếu tố,
trong đó có nhân tố chủ quan do nhà nước tạo ra và những yếu tố khách quan của
môi trường đã được hình thành và thay đổi theo thời gian.
1. Vấn đề quy hoạch ,chính sách của nhà nước
Việc đưa ra các chính sách và quy hoạch cửa Nhà nước có tác động lớn tới
việc chuyển dịch cơ cấu .Về vấn đề này trong thời gian tới nhà nước ta đã có địng
hướng phat triển nông nghiệp với nội dung như sau :
Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam đầu thế kỷ 21.
Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề ra mục tiêu chiến lược về CNH-HĐH đất
nước là: từ nay (1996) đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan
hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất… Trong
cơ cấu kinh tế, tuy nông nghiệp tiếp tục phát triển mạnh, song công nghiệp và dịch
vụ sẽ chiếm tỷ trọng rất lớn trong GNP và trong lao động xã hội. Đặc biệt coi trọng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, phát triển toàn diện nông,
lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản… Hình thành
SV: Lương Bá Thiện 10 Lớp: KTPT 47B_QN