LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN DOANH THU
1.1. Đặc điểm của doanh thu với vấn đề kiểm soát và kiểm toán
1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh thu
Khái niệm về doanh thu
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: ”Doanh thu là tổng thu do kinh doanh nhập
trong một thời kỳ nhất định bao gồm cả vốn lẫn lãi”.
Theo quan điểm của Mác về tuần hoàn và chu chuyển tư bản thì: “Doanh thu
là kết quả của quá trình tiêu thụ, đó là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử
dụng của sản phẩm hàng hoá. Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện
vật sang trạng thái tiền tệ và kết thúc một vòng chu chuyển vốn”
(9,180)
Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14- Doanh thu và thu nhập khác:
“Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế
toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh
nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”.
Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu
được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi
ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi
là doanh thu. Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ
sở hữu nhưng không là doanh thu.
Phân loại doanh thu
Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 - Doanh thu và thu nhập khác:
Doanh thu được phân loại theo các giao dịch và nghiệp vụ như sau:
Doanh thu từ hoạt động bán hàng: Là doanh thu bán sản phẩm do doanh nghiệp
sản xuất ra và bán hàng hoá mua vào.
Doanh thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ: Là doanh thu do thực hiện một công
việc đã thoả thuận theo hợp đồng trong một hoặc nhiều kỳ kế toán.
Doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia.
Tiền lãi: là số tiền thu được phát sinh từ việc cho người khác sử dụng tiền,
các khoản tương đương tiền hoặc các khoản còn nợ doanh nghiệp như: lãi cho
vay, lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, chiết khấu thanh toán,…
sử dụng hoá đơn GTGT.
Nếu doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực
tiếp thì doanh thu bán hàng là doanh thu có tính thuế GTGT và doanh nghiệp sử
dụng hoá đơn bán hàng.
Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm
Giảm giá hàng bán: Là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơn hay
hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như hàng kém phẩm
chất, không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời gian địa điểm trong hợp
đồng…
Hàng bán bị trả lại: Là số hàng đã được coi là tiêu thụ nhưng bị người mua
từ chối, trả lại do không tôn trọng hợp đồng kinh tế
Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp giảm giá niêm yết cho khách
hàng mua với khối lượng lớn.
Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là số chênh lệch giữa doanh
thu bán hàng với các khoản giảm trừ đã nêu trên
1.1.2. Vai trò của khoản mục doanh thu trong báo cáo tài chính
Theo quy định của Nhà nước, cuối kỳ các doanh nghiệp phải lập báo cáo tài
chính phản ánh tình hình hoạt động của doanh nghiệp trong kỳ. Hiện nay, các
BCTC được lập bao gồm bốn loại báo cáo sau: Bảng cân đối kế toán; Báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo
tài chính.
Kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm ba phần: Trong
đó có phần phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi
kỳ. Phần này có nhiều chỉ tiêu liên quan đến doanh thu chi phí của hoạt động
sản xuất kinh doanh và các chỉ tiêu liên quan đến thu nhập, chi phí của từng
hoạt động tài chính và các hoạt động bất thường cũng như toàn bộ kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu thuộc phần này đều
theo dõi chi tiết theo số quý trước, quý này và luỹ kế từ đầu năm. Khoản mục
doanh thu là yếu tố quan trọng trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Không có chỉ tiêu này, báo cáo kết quả kinh doanh không thể lập được. Do đó,
dịch cung cấp dịch vụ đó
Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia
của doanh nghiệp được ghi nhận khi thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau:
Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó
Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn
Doanh thu này được ghi nhận trên cơ sở
Tiền lãi được ghi nhận trên cơ sở thời gian và lãi suất thực tế từng kỳ
Tiền bản quyền được ghi nhận trên cơ sở dồn tích phù hợp với hợp đồng
Cổ tức và lợi nhuận được chia được ghi nhận khi cổ đông được quyền nhận
cổ tức hoặc các bên tham gia góp vốn được quyền nhận lợi nhuận từ việc góp
vốn.
Nguyên tắc kế toán doanh thu:
Hiện nay, công tác hạch toán kế toán tại các doanh nghiệp được thực hiện
theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ban hành ngày 20/03/2006 của Bộ Tài
chính về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp thay thế cho Quyết định số
1141-TC/QĐ/CĐKT do Bộ Tài chính ban hành ngày 1.11.1995. Nội dung của
Quyết định mới có một số thay đổi nhằm giúp cho công tác hạch toán kế toán
trong các doanh nghiệp được thực hiện thuận lợi hơn. Chế độ Kế toán doanh
nghiệp được áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành
phần kinh tế trong cả nước. Chế độ kế toán doanh nghiệp gồm 4 phần: Hệ thống
tài khoản kế toán; Hệ thống báo cáo tài chính; Chế độ chứng từ kế toán; Chế độ
sổ kế toán. Việc hạch toán được chia thành các phần hành kế toán khác nhau và
trợ giúp cho kế toán tổng hợp trong công tác kế toán cuối kỳ. Kế toán doanh thu
nằm trong phần hành kế toán xác định kết quả kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp. Mỗi một hoạt động bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ cho khách hàng
đều phải tiến hành ghi nhận doanh thu phù hợp với chi phí phát sinh.
Đối với hoạt động bán hàng: Doanh thu và chi phí liên quan tới cùng một
giao dịch phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp. Các chi phí,
bao gồm cả chi phí phát sinh sau ngày giao hàng thường được xác định chắc
chắn khi các điều kiện ghi nhận doanh thu được thoả mãn.
được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ nhận về, sau khi
điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi
không xác định được giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ nhận về thì doanh
thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ đem trao đổi,
sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu
thêm.
Doanh thu bao gồm doanh thu bán hàng và doanh thu bán hàng nội bộ
Doanh thu bán hàng được theo dõi trên TK 511- Doanh thu bán hàng: TK này
được dùng để phản ánh doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp trong kỳ
và các khoản giảm doanh thu. TK này cuối kỳ không có số dư và được chi tiết
thành 4 TK cấp hai
TK 5111 – Doanh thu bán hàng hóa: Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần
của khối lượng hàng hoá đã xác định là tiêu thụ… TK này được sử dụng chủ
yếu trong các doanh nghiệp kinh doanh vật tư hàng hoá.
TK 5112 – Doanh thu bán các thành phẩm: Phản ánh doanh thu và doanh thu
thuần của khối lượng thành phẩm và bán thành phẩm đã được xác định là tiêu
thụ. TK này được sử dụng chủ yếu cho các doanh nghiệp sản xuất như công
nghiệp, nông nghiệp, xây lắp, ngư nghiệp, lâm nghiệp.
TK 5113 – Doanh thu cung cấp dịch vụ: Phản ánh doanh thu và doanh thu
thuần khối lượng dịch vụ, lao vụ đã hoàn thành, đã cung cấp cho khách hàng và
đã được xác định là tiêu thụ. TK này được sử dụng cho các ngành các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ như giao thông vận tải, bưu điện, dịch vụ công cộng,
du lịch.
TK 5114 – Doanh thu trợ cấp, trợ giá: Phản ánh các khoản thu từ trợ cấp, trợ
giá của Nhà nước khi doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ cung cấp sản phẩm
hàng hoá dịch vụ theo yêu cầu của Nhà nước.
Doanh thu bán hàng nội bộ được theo dõi trên TK 512 – Doanh thu bán hàng
nội bộ: dùng để phản ánh doanh thu của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, lao vụ tiêu
thụ trong nội bộ. TK này cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành ba TK
cấp hai sau:
cách theo quy định trong hợp đồng kinh tế. TK này cuối kỳ không có số dư.
1.1.4. Hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp
Hệ thống kiểm soát nội bộ được xây dựng nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý
cũng như đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của bất cứ một doanh nghiệp nào.
Kiểm soát nội bộ là hoạt động thường xuyên của các đơn vị tổ chức có chức
năng cơ bản sau:
Bảo vệ tài sản cho đơn vị: Tài sản đơn vị bao gồm cả tài sản hữu hình và vô
hình, chúng có thể bị đánh cắp, lạm dụng vào các mục đích khác nhau hoặc bị
hư hại nếu không được bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp
Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin: Thông tin kinh tế, tài chính do bộ máy
kế toán của các doanh nghiệp tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình thành
các quyết định của các nhà quản lý. Như vậy, các thông tin cung cấp phải đảm
bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính xác và tin cậy về thực trạng hoạt động
và phản ánh đầy đủ các nội dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế, tài chính.
Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý: Hệ thống kiểm soát nội bộ trong
doanh nghiệp phải đảm bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể hệ thống kiểm soát nội bộ
bao gồm:
Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các hoạt
động của doanh nhiệp
Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian lận
trong mọi hoạt động của doanh nghiệp
Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác cũng như việc lập BCTC
trung thực và khách quan
Đảm bảo hiệu quả của hoạt động và năng lực của quản lý: Các quá trình
kiểm soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn ngừa sự lặp lại không cần
thiết các tác nghiệp, gây ra sự lãng phí trong hoạt động và sử dụng kém hiệu
quả các nguồn lực trong doanh nghiệp. Đồng thời, định kỳ các nhà quản lý
thường đánh giá kết quả hoạt động với cơ chế giám sát của hệ thống kiểm soát
nội bộ nhằm nâng cao khả năng quản lý, điều hành của bộ máy quản lý trong
biệt là kế hoạch tài chính gồm những ước tính cân đối tình hình tài chính, kết
quả hoạt động và sự luân chuyển tiền trong tương lai là những nhân tố quan
trọng trong môi trương kiểm soát.
Uỷ ban kiểm soát: Bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao nhất
của đơn vị như thành viên của Hội đồng quản trị nhưng không kiêm nhiệm các
chức vụ quản lý và những chuyên gia am hiểu về lĩnh vực kiểm soát.
Môi trường bên ngoài: Là các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp song có ảnh
hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành cũng như sự thiết kế và vận
hành các quy chế và thủ tục kiểm soát của các nhà quản lý. Các nhân tố này bao
gồm: sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của Nhà nước, ảnh hưởng của các
chủ nợ, môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước.
Hệ thống thông tin: hệ thống thông tin chủ yếu là hệ thống kế toán trong đơn
vị đó bao gồm hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống tài
khoản kế toán và hệ thống báo cáo kế toán. Mục đích của một hệ thống kế toán
là sự nhận biết, thu thập, phân loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài
chính của tổ chức đó, thoả mãn chức năng thông tin và kiểm tra của hoạt động
kế toán. Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải đảm bảo các mục tiêu kiểm soát
chi tiết như: Tính có thực, sự phê chuẩn, tính đầy đủ, sự đánh giá, sự phân loại,
tính đúng kỳ, quá trình chuyển sổ tổng hợp chính xác.
Các thủ tục kiểm soát: Các thủ tục kiểm soát do ban giám đốc đơn vị thiết lập
và thực hiện nhằm đạt được bốn mục tiêu quản lý cụ thể. Các thủ tục kiểm soát
chủ yếu bao gồm:
Lập, kiểm tra, so sánh và phê duyệt các số liệu, tài liệu liên quan đến đơn vị;
Kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán;
Kiểm tra chương trình ứng dụng và môi trường tin học;
Kiểm tra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết;
Kiểm tra phê duyệt các tài liệu kế toán;
Đối chiếu số liệu nội bộ với bên ngoài;
So sánh, đối chiếu kết quả kiểm kê thực tế với số liệu trên sổ kế toán;
Giới hạn việc tiếp cận trực tiếp với các tài sản và tài liệu kế toán;
sau:
Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và thu nhập khác: Chuẩn
mực này được Bộ Tài chính đưa ra trong Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC
ngày 31/12/2001 có quy định và hướng dẫn các nguyên tắc kế toán doanh thu và
thu nhập khác.
Thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 hướng dẫn kế toán thực hiện
bốn chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định trên.
Nghị định số 105/2004/NĐ-CP ban hành ngày 30/03/2004 của Chính phủ về
Kiểm toán độc lập và các Thông tư hướng dẫn thi hành Nghị định này.
Hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam đã ban hành và các Thông tư
hướng dẫn thực hiện hệ thống Chuẩn mực này.
Bên cạnh các Chuẩn mực và Luật định liên quan đến lĩnh vực kế toán, kiểm
toán, KTV khi tiến hành thực hiện kiểm toán khoản mục doanh thu cũng có thể