Hà nội trong phim mùa hè chiều thẳng đứng và mùa ổi dưới góc nhìn văn hóa - Pdf 69

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------

PHẠM THỊ NGỌC

HÀ NỘI TRONG PHIM
MÙA HÈ CHIỀU THẲNG ĐỨNG VÀ MÙA ỔI
DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÝ LUẬN & LỊCH SỬ, PHÊ BÌNH ĐIỆN ẢNH – TRUYỀN HÌNH

Hà Nội-2020


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------

PHẠM THỊ NGỌC

HÀ NỘI TRONG PHIM
MÙA HÈ CHIỀU THẲNG ĐỨNG VÀ MÙA ỔI
DƢỚI GÓC NHÌN VĂN HÓA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận & Lịch sử,
phê bình Điện ảnh - Truyền hình
Mã số: 60210231

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Phương Liên

1.3 Phương pháp tiếp cận điện ảnh từ văn hóa học .................................. 23
1.4 Hai hiện tượng điện ảnh tiếp cận ........................................................ 27
Chương 2. Không gian văn hóa Hà Nội quan Mùa ổi và Mùa hè chiều
thẳng đứng ................................................................................................... 36
2.1 Không gian đô thị ............................................................................... 36
2.2 Văn hóa ẩm thực ................................................................................. 46
2.3 Sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng ............................................................. 55
2.4 Trang phục .......................................................................................... 63
Chương 3. Chủ thể văn hóa trong Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng .... 69
3.1 Con người trong giao tiếp ................................................................... 69
3.2 Con người với những giá trị về gia đình ............................................. 74
3.3 Sự va đập giữa những giá trị tinh thần truyền thống và văn hóa ngoại
lai ............................................................................................................... 82
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................... 94


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1 Điện ảnh du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Cuối năm 1895 ghi dấu sự
khởi thủy của nền điện ảnh thế giới với buổi công chiếu phim của hai anh em
Auguste và Louis Lumiere tại Paris. Và chỉ sau đó ít năm, năm 1899, bộ phim đầu
tiên đã được chiếu tại Hà Nội bởi Gabriel Veyre - một trong những học viên đời
đầu của anh em nhà Lumiere. Tuy nhiên, phải đến năm 1923, bộ phim đầu tiên do
Việt Nam sản xuất mới xuất hiện. Cho đến nay, hơn 100 năm điện ảnh đặt bước
chân tới Việt Nam, song vốn tài sản kể đến về điện ảnh nước nhà lại còn khiêm tốn.
Trước năm 1986, điện ảnh chủ yếu tập trung vào các để tài chiến tranh, nông thôn
và cuộc sống nông nghiệp Việt Nam. Sau Đổi Mới năm 1986, đất nước đã đạt được
sự phát triển ổn định, kinh tế tăng trưởng có tích lũy, đảm bảo an ninh lương thực,
bước đầu xóa đói giảm nghèo… Tuy nhiên, những mặt trái của kinh tế thị trường đã

dân cư làm nông nghiệp quần cư bên các đồng bằng ven sông lớn, Hà Nội cũng vậy.
Mang vị trí trung tâm thuận lợi, lại là vùng đồng bằng màu mỡ, chủ nhân Hà Nội từ
những nông dân làng xã chuyển dần thành những tiểu thương đô thị. Bởi vậy bên
cạnh sự hào hoa, phong nhã, lịch thiệp, người Hà Nội còn mang theo sự ân cần, mộc
mạc, ân tình… Cùng với lịch sử phát triển lâu đời, gắn liền với các trung tâm chính
trị trọng yếu qua nhiều thời kỳ, Hà Nội khoác lên mình khí chất hào hoa của chốn
đô thị và vẻ thâm trầm của vùng đất ghi dấu bao lần chuyển mình cùng lịch sử.
Trong nỗ lực đô thị hóa, hiện đại hóa, Hà Nội đang dần gột đi những điều
xưa cũ để tiếp nhận lấy những điều mới. Nhưng trong số những điều bị trút bỏ, lại
có những nét văn hóa tưởng chừng như làm nên hồn cốt thủ đô. Những năm gần
đây, theo làn sóng nhập cư, Hà Nội tiếp tục mở rộng thành phố của mình đón nhận
những trào lưu văn hóa, những cách sống mới. Người Hà Nội co cụm lại với mong
muốn giữ lại những nét đẹp cho mảnh đất nghìn năm văn hiến.
1.4 Có lẽ vì Hà Nội đẹp và riêng đến vậy, nên biết bao hồn thi sĩ gửi gắm nơi
đây. Một chàng thi nhân vì mùi hương hoa sữa nồng nàn, vì hương cốm Vòng
thoang thoảng trong tiết lạnh chiều thu, vì cô gái Hà Nội nhẹ nhàng thanh lịch mà
phải lòng, mà say đắm. Và rồi hết thảy cái đẹp ấy đi vào thơ ca, âm nhạc như một lẽ
tất yếu. Những thước phim về Hà Nội có lẽ cũng vì hồn cốt Hà Nội mà trở nên thật
khác biệt.

2


Có lẽ bởi chất riêng đặc biệt ấy, mà không ít đạo diễn Việt Nam đã chọn Hà
Nội là đề tài cho riêng mình. Trong số các bộ phim về đề tài Hà Nội, với phạm vi
công trình, người viết chọn tìm hiểu về Mùa hè chiều thẳng đứng của đạo diễn Trần
Anh Hùng và Mùa ổi của đạo diễn Đặng Nhật Minh.
Mỗi cá nhân, dựa vào vốn sống, các tác nhân về lịch sử xã hội, sẽ có những
cách đọc, nhìn và hiểu về văn hóa khác nhau. Chọn hai bộ phim với hai đạo diễn có
xuất phát điểm khác nhau, người viết mong muốn tìm ra sự đa dạng, phong phú của

biệt, mỗi góc nhìn đều có giá trị bình đẳng, cần thiết, bổ sung cho nhau và không
loại trừ nhau. Tính hiệu quả, tính ưu việt của mỗi cách tiếp cận được quy định bởi
người nghiên cứu có xác định đúng đối tượng, phạm vi nghiên cứu thích hợp và vận
dụng, xử lý mối quan hệ giữa chúng với mục tiêu đặt ra. Do vậy cần có một cái nhìn
toàn diện về góc nhìn văn hóa xuất phát từ yêu cầu của thời đại, đáp ứng và thừa
nhận tác phẩm văn học như một bộ phận của văn hóa.
Nghệ thuật là một thành tố quan trọng cấu thành nên văn hóa, nên từ thở sơ
khai, chúng đã gắn liền và có nhiều tác động qua lại. Chính bởi vậy, soi chiếu
nghệ thuật từ văn hóa, có thể xem như một cuộc “giải phẫu” tìm về với căn
nguyên, là một cuộc bóc tách để hiểu rõ hơn về sự vận động trong các mối quan
hệ của nghệ thuật. Có rất nhiều khái niệm về văn hóa, nhưng ta có thể thấy mẫu số
chung của các định nghĩa này chính là văn hóa được coi như một tổng thể, một hệ
thống, bao gồm nhiều yếu tố trong đó có nghệ thuật. Nghệ thuật ngay từ thuở sơ
khai đã tồn tại và phát triển trong sự gắn bó mật thiết với đời sống lao động. Từ
triệu năm trước, khi con người thoát thai khỏi dáng vóc động vật, có thể đi hai
chân, thì một xã hội loài người gắn liền với lao động sản xuất đã bắt đầu. Từ việc
chế tạo công cụ, với xuất phát điểm thô sơ, con người ngày càng biết cải thiện để
chúng hữu ích và đẹp hơn. Chính nhu cầu về cái đẹp đầy tính sơ khai ấy đã ươm
mầm cho các loại hình nghệ thuật được phát triển. Không ai có thể khẳng định
chắc chắn rằng nghệ thuật tạo hình được bắt đầu từ bao giờ, họ chỉ có thể lần theo
những dấu khắc trên những hang đá, những bức tượng nhỏ bằng các chất liệu ngà,
xương hay cách ăn mặc mà cho rằng nghệ thuật ra đời như thế - sự ra đời gắn liền
với con người từ thuở sơ khai.
Nảy sinh từ và gắn liền với quá trình phát triển lao động của con người, các
loại hình nghệ thuật có mối liên hệ chặt chẽ với thế giới hiện thực hiện hữu xung
quanh mình. Mỗi thời đại lịch sử lại có một nền nghệ thuật tương ứng: “Xã hội thế
4


nào, văn nghệ thế ấy” – Quan niệm chung của Hồ Chí Minh về văn hóa. Những



Phần IV: Tranh ghép mảnh.
Nếu như ở phần I của cuốn sách, Đỗ Lai Thúy tập trung vào những bài viết
giải thích, phân tích, đánh giá một số khía cạnh của văn hóa, thì ở phần II, tác giả đã
đưa ra nhiều đánh giá rất đáng lưu tâm khi nghiên cứu văn học từ văn hóa. Đỗ Lai
Thúy đã chỉ ra rằng, trước đây khi quan hệ văn hóa và văn học được coi là tương
hỗ, thì việc nghiên cứu coi việc soi chiếu vào văn học từ văn hóa như một dạng tài
liệu hoặc ngược lại. Nhưng khi định nghĩa văn hóa được mở rộng và phát triển hơn,
đặc biệt coi văn hóa là một động lực phát triển, thì văn hóa được xem như một yếu
tố chi phối văn học. Nhiều nhà nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước đều đi theo
hướng nghiên cứu này, có thể kể đến như: Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương, Đỗ
Lai Thúy, Trần Nho Thìn,…. hay công trình nước ngoài như của M.Bakhtin. Tuy
nhiên, việc nghiên cứu chưa thực sự có một hệ thống lý thuyết rõ ràng, mạch lạc về
mối quan hệ và tác động qua lại giữa văn hóa – văn học. Trong các bài viết của
mình, Đỗ Lai Thúy cũng đã chỉ ra rằng, văn học là một bộ phân rất năng động trong
các thành tố cấu thành nên văn hóa. Vì thế, một mặt văn học nằm trong một sự chi
phối mang tính hệ thống, nhưng ở mặt khác, nó luôn có những khoảng trượt ra khỏi
hệ thống. Điều này có thể lý giải cho việc, văn chương không thể tùy ý phản ánh
một hiện thực “tưởng tượng”, huyễn hoặc, mà chỉ có thể phản ánh thông qua "lăng
kính" văn hóa, thông qua "bộ lọc" của các giá trị văn hóa. Tiếp đó, ở khoảng không
năng động của mình, văn chương luôn biết cách tìm đến cho mình cách tiếp cận
mới, những sáng tạo độc đáo.
Từ những bài viết của cuốn sách, cũng như những công trình được nhắc đển,
có thể thấy rất khả thi khi xây dựng một cách tiếp cận văn học mới: Phê bình văn học
từ văn hóa. Cách tiếp cận này không chỉ giải nghĩa văn chương từ lớp vỏ ngôn từ, mà
còn đặt nó vào các điều kiện văn hóa, lịch sử để khám phá hết nội hàm ý nghĩa.
Cùng với đó, trong công trình Giải mã văn học từ văn hóa, nhà nghiên cứu
Trần Lê Bảo đã chỉ ra rằng: Văn học là sự tự ý thức văn hóa. Điều này có thể hiểu
rằng, văn học không chỉ là một một phận của văn hóa, chịu sự chi phối, ảnh hưởng

Thùy Mai từ góc nhìn văn hóa – Tác giả Phạm Thị Thu Hương; Văn chương Vũ
Bằng dưới góc nhìn Văn hóa – Tác giả Đỗ Thị Ngọc Chi; Nghiên cứu văn học từ
góc nhìn văn hóa qua trường hợp tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh – Tác giả
Nguyễn Quang Huy,… Có thể thấy việc nghiên cứu văn học từ văn hóa không phải

7


là sự nỗ lực "phá cũ xây mới", mà là một sự vận động nội tại. Trong tình hình sáng
tác và nghiên cứu mới, việc xác lập lại lý thuyết một cách hệ thống là cần thiết.
Các công trình trên đã chỉ ra một yêu cầu tất yếu trong nghiên cứu văn học
chính là: cần đặt tất cả những gì thuộc về tác phẩm văn học (trong đó có chủ thể
sáng tác) vào mối quan hệ với văn hóa để giải mã hiện thực được phản chiếu trong
tác phẩm. Thông qua văn hóa, các hình ảnh biểu tượng được bóc dần lớp nghĩa,
người đọc như tham gia vào một cuộc giải mã các tín hiệu của tác giả mà ở đó, mỗi
một tín hiệu được phát hiện lại đưa người thường thức nghệ thuật đến gần hơn với
nghệ sĩ. Có thể nói, tác phẩm kể trên là một trong số nhiều công trình góp cho phần
hệ thống lý thuyết nghiên cứu văn học từ văn hóa tại Việt Nam. Công trình của
chúng tôi không nghiên cứu đối tượng văn học, song nhận thấy, giữa điện ảnh và
văn học có một số điểm tương đồng vì chúng đều thuộc nhóm thành tố nghệ thuật
và chịu tác động từ văn hóa. Vì vậy, dù không có bất cứ bài viết nào đề cập đến
điện ảnh, song những lý thuyết được đưa ra hoàn toàn giúp người viết xây dựng một
cách tiếp cận điện ảnh mới trong bối cảnh hệ thống lý thuyết chưa được tạo dựng
một cách chặt chẽ.
Về việc nghiên cứu điện ảnh có thể điểm đến một số bài viết có tính chuyên
môn trên Tạp chí văn hóa nghệ thuật như: Một vài ý kiến về tính dân tộc trong
phim truyện Việt Nam (Trần Ngọc Thanh, số 6/1992); Vấn đề bản sắc dân tộc
trong điện ảnh (Lê Châu, số 1/1995); Bản sắc văn hóa từ góc nhìn của người làm
phim (Lê Ngọc Minh, số 3/2010)… Trong só nhiều công trình nghiên cứu về tác
động giữa văn hóa và điện ảnh, có thể kể đến Tính dân tộc và tính hiện đại trong

sẽ phải được thay đổi, chỉ có tình cảm con người là không bao giờ cũ đi. Những gì
trải nghiệm trong đời đều vẫn sống như chính họ đang sống”.[39] Nhà phê bình
Đức, tổng biên tập tạp chí điện ảnh Shomingeki – Rudiger Tomczack – trong bài
viết Nỗi lo âu về thế giới mà tất cả chúng ta đang sống – Về phim của Đặng Nhật
Minh đã viết: “Tình yêu của Đặng với mọi sinh thể cũng biểu hiện qua tính trực
cảm phi thường của phim. Con người, muông thú, cây cối và cảnh quan hiển lộ gần
như đến mức người xem phải sởn mình” [15; tr. 229]. Hay khi nhận xét về Mùa ổi,
Rudiger Tomczack đã viết “Trong những năm gần đây tôi không được xem một bộ
phim nào mà tác giả đã bày tỏ một mối loa âu sâu sắc về thế giới mà tất cả chúng ta
đang sống như trong Mùa ổi” [15; tr. 233]. Cũng giống như tác giả trên, các nhà

9


nghiên cứu, phê bình khác cũng bị cuốn vào những hình ảnh phim giàu ý nghĩa của
Mùa ổi. Thật tiếc khi chưa có công trình nào bàn đến tính văn hóa, các biểu tượng
văn hóa trong tác phẩm thật sâu sắc.
Mùa hè chiều thẳng đứng là một trong ba bộ phim về đề tài Việt Nam của
đạo diễn Trần Anh Hùng. Trưởng thành và tạo tiếng vang tại Pháp, Trần Anh Hùng
trở về Việt Nam, đem hết những kí ức và ấn tượng của ông về Hà Nội và gửi gắm
vào Mùa hè chiều thẳng đứng. Có thể nói, bộ phim là một hiện tượng được các nhà
nghiên cứu và các nhà phê bình quan tâm. Được chọn tham dự Liên hoan phim
quốc tế Cannes cùng với những ấn tượng trong khuôn hình, màu sắc, góc quay, lời
thoại, sản phẩm về Hà Nội của Trần Anh Hùng đã tạo cho người xem nhiều cảm
xúc và thu hút quan tâm của báo giới, nghiên cứu. Trong Xem Mùa hè chiều thẳng
đứng: Bản giao hưởng sắc màu, tác giả Nguyễn Hải đã nhận xét “Có thể nói đây là
một bữa tiệc ngon về hình ảnh và màu sắc”. Hình ảnh phố phường bình dị, những
con người nhẹ nhàng và tinh tế quả thực đã tạo nên một hình ảnh đẹp về Việt Nam
và văn hóa Hà Nội. Ngoài ra còn nhiều bài báo khác đánh giá về anh như: Trần Anh
Hùng: Tôi rất tin vào linh cảm và bản năng của mình (trên trang vietbao.vn), Đạo

3.2 Đối tượng nghiên cứu
Với đề tài Hà Nội trong hai phim “Mùa ổi” và “Mùa hè chiều thẳng đứng”
dưới góc nhìn văn hóa trước hết, đối tượng mà chúng tôi nghiên cứu là hai bộ phim
Mùa ổi, Mùa hè chiều thẳng đứng và Văn hóa Hà Nội.
Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn
đề: Hà Nội trong hai phim “Mùa ổi” và “Mùa hè chiều thẳng đứng” dưới góc nhìn
văn hóa trên các bình diện:
- Mối quan hệ giữa điện ảnh và văn hóa thể hiện qua hai phim Mùa ổi và
Mùa hè chiều thẳng đứng
- Đặc sắc văn hóa Hà Nội được tái hiện trong Mùa ổi và Mùa hè chiều thẳng đứng
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Do sự hạn chế về nguồn tài liệu và thời gian thực hiện đề tài, chúng tôi đã
giới hạn phạm vi nghiên cứu ở hai bộ phim: Mùa ổi (2000) của đạo diễn Đặng Nhật
Minh và Mùa hè chiều thẳng đứng (2000) của Đạo diễn Trần Anh Hùng
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Lựa chọn nghiên cứu về văn hóa, hướng tiếp cận chủ yếu của chúng tôi là
văn hóa học để cung cấp một cái nhìn đa diện. Bởi văn hóa là một hệ thống bao
11


gồm đời sống con người như ăn, ở, mặc, đi lại, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa...
Từ các hình ảnh mang tính chất thẩm mĩ, chúng tôi đưa ra các biểu tượng văn hóa
dược đạo diễn lựa chọn. Trong đó, chúng tôi xem xét văn hóa Hà Nội trong mối
quan hệ với thời gian, đời sống sinh hoạt, tập quán của nhân vật. Ngoài ra, chúng tôi
sẽ phân tích văn hóa Hà Nội trong sự tương tác với các hệ thống giá trị văn hóa
truyền thống của Việt Nam, để thấy được nét riêng trong văn hóa Hà Nội và bản sắc
chung của dân tộc. Đồng thời chỉ ra sự thay đổi của căn tính con người Việt Nam
trong thời đại mới.
Trong công trình này, chúng tôi kết hợp sử dụng thao tác phân tích – tổng
hợp, so sánh, đối chiếu để phân tích, tổng hợp, so sánh các tác phẩm điện ảnh có

Thế giới, 2017, đã chỉ ra rằng “Người ta cho rằng văn hóa là chỉ những học thuật tư
tưởng của loài người, nhân thế mà xem văn hóa vốn có tính chất cao thượng đặc
biệt. Thực ra không phải như vậy […] Hai tiếng văn hóa chẳng qua là chỉ chung tất
cả những phương tiện sinh hoạt của loài người cho nên ta có thể nói rằng: Văn hóa
tức là sinh hoạt.” [1;tr. 11] Và cũng từ định nghĩa này, nhà nghiên cứu Đào Duy
Anh đã khẳng định rằng, Văn hóa tức là sinh hoạt, thì mọi dân tộc không kể trình độ
văn minh đều có văn hóa của riêng mình. Mỗi dân tộc với lối sống sinh hoạt khác
nhau được truyền từ đời này qua đời khác đã tạo ra sự khác biệt trong văn hóa.
Với nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, trong cuốn Tìm về bản sắc Văn hóa
Việt Nam, Nxb TP HCM, 1997, đã khẳng định: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ
các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình
hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự
nhiên và xã hội của mình.” [37; tr. 27]

13


Theo Trần Quốc Vượng trong Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục, 2013,
thì “Văn hóa là sản phẩm do con ngƣời sáng tạo, có từ thuở bình minh của xã
hội loài ngƣời”. [38; tr.16] Bởi vậy mà từ văn hóa đã sớm xuất hiện trong đời sống
ngôn ngữ của con người, đặc biệt là người Phương Đông.
Theo Đỗ Lai Thúy trong Văn hóa Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hóa thì:
“Văn hóa là tất cả những gì phi tự nhiên”. [43; tr. 16] Tác giả cũng cho rằng, đây
là định nghĩa khái quát nhất, rộng lớn nhất.
Định nghĩa về văn hóa có tính chất cấu trúc luận, tác giả Phan Ngọc cho
rằng: "Văn hóa là quan hệ. Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tƣợng và thế
giới thực tại. Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc
ngƣời, một cá nhân so với một tộc ngƣời khác, một cá nhân khác. Nét khác biệt
giữa các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóa
khác nhau là độ khúc xạ". [ 31, tr.17]

phát bản năng ấy, các nhóm cùng tồn tại trên một phạm vi lãnh thổ, cùng lao động,
tích lũy, làm giàu cho bản thân và cộng đồng. Song hành cùng quá trình đó chính là
sự tự ý thức về chủ quyền, quyền lực ngày càng rõ ràng hơn. Quá trình tất yếu tiếp
theo chính là nhu cầu về sự mở rộng phạm vi sống, chinh phục những miền đất mới
và làm giàu tích lũy. Sự chia cắt, sáp nhập, di rời, lưu vong đã tạo ra những biến cố
liên tục dẫn đến những thay đổi tất yếu và thường xuyên trong cộng động người. Để
có thể vượt qua các mâu thuẫn nảy sinh đó, con người chọn cách gắn kết chặt chẽ
lại với nhau và phân biệt nhau không chỉ trên lãnh thổ. Điều này nghĩa là gì? Văn
hóa được tạo ra không phải sự tách biệt, riêng biệt, mà như chúng tôi đã chỉ ra ở
trên, nó là sản phẩm của sự sáng tạo trong quá trình phát triển. Ở phần trình bày
thêm này, chúng tôi muốn chỉ ra rằng, văn hóa cũng chính là một dạng “cương vực,
lãnh thổ” bởi nó mang đặc trưng dân tộc, hay căn tính dân tộc.
Trong phạm vi khóa luận, chúng tôi không bàn nhiều đến căn tính dân tộc
như một khái niệm riêng biệt. Chúng tôi cho rằng: Căn tính dân tộc là một phạm trù
có tính lịch sử của tồn tại xã hội, được xác lập trên cơ sở những đặc điểm của hiện
hữu khách quan ban đầu khi cộng đồng mới hình thành và vẫn tiếp tục thay đổi, ổn
định trong quá trình cộng đồng đó vận động, phát triển. Căn tính của một dân tộc
được hợp nhất bởi căn tính của mỗi cá nhân trong cộng đồng trên nguyên lí của sự
đồng hóa, dung hòa và thích nghi để cùng tồn tại do đó, nó đại diện cho một nhóm
người trong một phạm vi không gian văn hóa nhất định. Như vậy, văn hóa chính là
15


một mặt biểu hiện quan trọng của căn tính dân tộc. Đi tìm bản sắc văn hóa, căn tính
dân tộc (national identity) hay tính dân tộc (nationality) thực chất đều là đi tìm cái
riêng, cái đặc thù về văn hóa của dân tộc ấy.
Điều này có thể hiểu là, nếu lãnh thổ là cơ sở đầu tiên để xác định một dân
tộc thì nền tảng tiếp theo để làm nên dân tộc tính của một cộng đồng người chính là
những tập quán và tính cách được hình thành trong một thời gian dài chung sống
với những điều kiện tự nhiên xã hội nhất định. Mỗi một cá nhân khi sinh ra sẽ mang

dùng để chỉ ra sự khác biệt trong trình độ phát triển cao – thấp của mỗi dân tộc, văn
hóa hay cụ thể là bản sắc văn hóa ở đây không cầu tiến một cái đích thật cao, thật xa
để vươn tới. Văn hóa càng ăn sâu, bám chắc vào cội rễ truyền thống thì càng tạo
được điểm tựa cũng như cơ sở vững chắc để làm nên cái riêng, cái độc đáo, đồng
hành cùng dân tộc trên mọi chặng đường phát triển.
1.2 Mối quan hệ giữa văn hóa và điện ảnh
“Chủ nghĩa hiện thực duy nhất trong nghệ thuật là của trí tưởng tượng”.
Trong thế giới của mỗi loại hình nghệ thuật, ở khoảng không riêng, các loại hình
xoay chuyển và thể hiện sự giàu có, đặc sắc của mình, nhưng tất cả đều tựu chung
lại ở trí tưởng tượng. Có lẽ bởi vậy mà mỗi tác phẩm nghệ thuật đều giàu có sự sáng
tạo của trí tưởng tượng. Đứng trước mỗi hiện thực, từng loại hình nghệ thuật lại có
các xử lý riêng biệt. Nếu như văn học phản ánh hiện thực bằng ngôn ngữ, âm nhạc
dùng giai điệu, nốt nhạc, thì điện ảnh mang hiện thực vào từng thước phim, từng
chuyển động. Là loại hình nghệ thuật ra đời muộn nhất trong bảy loại hình của nghệ
thuật, điện ảnh mang tính chất tổng hợp nhất. Nó kết hợp giữa tính chất tạo hình của
hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc; nghệ thuật biểu diễn với rung động từ thính giác của
âm nhạc và những đặc điểm về ngôn ngữ của văn học. Chúng ta gọi điện ảnh là
nghệ thuật tổng hợp không có nghĩa là nó vay mượn đặc điểm của các loại hình
khác để tồn tại. Mỗi sự vật trong thế giới đều có lý do tồn tại của nó và ra đời từ
chính mục đích sử dụng của con người.
ElieEaure, nhà phê bình điện ảnh người Pháp đã nhận xét: “Điện ảnh là thứ
âm nhạc mà chúng ta cảm nhận thông qua mắt”. Một tác phẩm điện ảnh là sản phẩm
không thể của một cá nhân, bởi vậy cái tính chất tổng hợp ta nói, không đơn giản
chỉ là sự tổng hợp về mặt chất liệu, mà nó còn là sự tổng hợp về mặt nhân lực trong
quá trình tạo nên một bộ phim. Cũng giống như các loại hình nghệ thuật khác, song

17


hành với nhu cầu giải trí, một tác phẩm điện ảnh luôn hướng đến cái chân – thiện –

diễn luôn phải gắn mình với các hệ giá trị. Đặc biệt những giá trị này luôn luôn
được đặt trên sự soi chiếu của những giá trị truyền thống. Cũng giống như các loại
hình nghệ thuật khác, một bộ phim được công nhận ở mọi thời đại không nằm ở sự
quyết định về trình độ hay sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, mà nằm ở những giá trị
nó lưu dấu lại được. Những giá trị về văn hóa đó nằm ngoài quy luật đào thải, lựa
chọn của mỗi thời đại. Văn hóa là toàn bộ những gì con người sáng tạo ra, bởi vì
vậy nó cũng phản chiếu nhận thức chung và trình độ phát triển. Với điện ảnh, văn
hóa là “bộ chỉnh” để điều chỉnh sự sáng tạo sao cho phù hợp với những giá trị
truyền thống và không “vượt ngưỡng” trong tâm thế đón nhận của cộng đồng.
Không chỉ vậy, văn hóa còn là dấu chỉ phân biệt điện ảnh giữa các vùng miền, cao
hơn là giữa các dân tộc, quốc gia. Điện ảnh có thể trùng lặp về mặt ý tưởng giữa các
quốc gia nhưng không thể sao chép về mặt văn hóa. Bởi sự sao chép đó không chỉ
phá hủy một bộ phim mà nó còn làm gia tăng nguy cơ biến đổi văn hóa dân tộc, trực
tiếp gây ra những ảnh hưởng trầm trọng đến những giá trị truyền thống. Điều này có
thể thấy rất rõ trong trào lưu làm phim remake trên toàn cầu. Một kịch bản gốc xuất
sắc có thể được đón nhận ở nhiều quốc gia, vậy điều gì thu hút người xem khi kịch
bản phần nhiều không thay đổi? Đó chính là dấu ấn quốc gia hay rõ hơn chính là
dấu ấn về văn hóa dân tộc. Kịch bản làm tại Việt Nam phải mang dấu ấn khác với
Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản,… Sự thất bại không nằm ở chỗ đạo diễn biến
đổi kịch bản không đủ hấp dẫn, mà một phần nó nằm ở việc, người xem thấy một sự

19


sao chép y hệt không hợp lý về mặt văn hóa trong những thước phim. Sự điều chỉnh
của văn hóa là một bộ đo giá trị với điện ảnh.
Ở chiều thứ hai, điện ảnh với đặc trưng tổng hợp đã góp phần tái hiện và
quảng bá các giá trị văn hóa. Cũng chính bởi điều này, mà những thước phim ngoài
giá trị về mặt chân – thiện – mỹ, nó còn như một “di sản văn hóa” bởi nó chứa trong
mình những giá trị bền vững cùng thời gian. Có thể nói, một thước phim có giá trị

phương (trong bài viết này chúng tôi đề cập đến người Hà Nội và văn hóa Hà Nội)
các tác giả, đạo diễn, người tiếp xúc nhiều hay ít tiếp xúc, người trong nước hay
Việt kiều thường mặc định tin người Hà Nội thanh lịch, cầu kì, và kiểu cách. Nói
đến điều này để chúng tôi muốn đề cập đến dấu ấn cá nhân trong việc tái hiện lại
văn hóa. Dấu ấn cá nhân này ảnh hưởng đầu tiên từ cách tiếp nhận. Cá nhân đón
nhận văn hóa từ đâu? Truyền miệng, sách vở hay từ thực tế quan sát được? Chính vì
vậy, ở phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi lựa chọn hai đạo diễn với điểm
nhìn về văn hóa khác nhau: Một người Việt Nam sinh sống và làm việc đã lâu tại
nước ngoài và một người sinh sống tại Việt Nam cùng nhìn về Hà Nội với cách tiếp
cận văn hóa như thế nào? Lựa chọn hai đạo diễn được cho là có điểm nhìn khác
nhau, chúng tôi muốn làm rõ hơn mối quan hệ giữa điện ảnh và văn hóa, đặc biệt
thấy được dấu ấn cá nhân trong sự phản chiếu và quảng bá văn hóa trong điện ảnh.

Ảnh 2: Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa điện ảnh và văn hóa

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status