MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TIỀN TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN - Pdf 69

Luận văn tốt nghiệp Trường đại học KTQD
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TIỀN
TRONG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
DỊCH VỤ TƯ VẤN TÀI CHÍNH KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN
3.1. Nhận xét chung về công tác kiểm toán tại công ty Dịch vụ Tư vấn Tài
chính Kế toán và Kiểm toán (AASC)
Cấu trúc bộ máy của AASC hiện nay khá chặt chẽ, với sự nỗ lực hết mình
của Ban giám đốc công ty và đội ngũ cán bộ trong công ty, tổ chức bộ máy
đang ngày càng hoàn thiện hướng tới tạo lập sự thống nhất, đồng thuận về tư
tưởng từ ban giám đốc công ty đến các kiểm toán viên, kĩ thuật viên, trợ lý
kiểm toán viên và nhân viên tuy nhiên do đặc thù của loại hình hoạt động và
phân tán trên các địa bàn nên trong một số trường hợp cơ cấu tổ chức không thể
phát huy hết hiệu quả. Việc phân chia các phòng nghiệp vụ chỉ mang tính tương
đối nên không thể hiện được chức năng và thế mạnh chuyên biệt của các phòng
ban. Khi mà các loại hình dịch vụ cung cấp đa dạng thì cơ cấu tổ chức càng
phải chặt chẽ và khoa học nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn công ty
nhưng cũng cần linh hoạt vì kiểm toán là công việc mang tính mùa vụ.
Quy trình kiểm toán của AASC hiện nay được xây dựng dựa trên kinh
nghiệm của các kiểm toán viên, các chuyên gia và sự học hỏi các Công ty kiểm
toán, đặc biệt là các Công ty kiểm toán nước ngoài. Chương trình thường xuyên
được bổ sung, hoàn thiện và nâng cao qua các năm hoạt động, gồm: các hồ sơ
kiểm toán mẫu, các câu hỏi đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ, các mẫu quy
định chung về lập kế hoạch kiểm toán, chương trình kiểm toán cụ thể đối với
từng khoản mục trên Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nói chung. Quy
trình kiểm toán của AASC tuân thủ các yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán quốc
tế và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam. Tuy nhiên công ty cần tập trung cho việc
xây dựng một quy trình chuẩn áp dụng thống nhất giữa văn phòng công ty và
các chi nhánh đồng thời chú trọng hơn nữa vào việc lập kế hoạch kiểm toán đặc
1
Lª Mai Tó KiÓm to¸n 44
1

Lª Mai Tó KiÓm to¸n 44
2
Luận văn tốt nghiệp Trường đại học KTQD
trên các khoản mục khác nhằm giảm bớt các thủ tục kiểm tra chi tiết. Ví dụ có
thể khi kiểm tra chi tiết khoản mục chi phí quản lý có những đối ứng với tiền,
kiểm toán viên vừa kiểm tra các phiếu thu, phiếu chi, các chứng từ gốc đi kèm
và đưa ra nhận xét về thủ tục thu tiền chi tiền cũng như việc quản lý tiền tại
doanh nghiệp.
3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện kiểm toán khoản mục tiền tại AASC
3.3.1. Kiến nghị về chương trình kiểm toán
3.3.1.1. Cơ sở kiến nghị
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300, Lập kế hoạch kiểm toán, kế
hoạch kiểm toán phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán và được lập một cách
thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc kiểm
toán, phát hiện gian lận, rủi ro và những gian lận tiềm ẩn và đảm bảo cuộc kiểm
toán được hoàn thành đúng thời hạn. Phạm vi kế hoạch kiểm toán sẽ thay đổi
tuỳ theo quy mô khách hàng, tính phức tạp của công việc kiểm toán, kinh
nghiệm và những hiểu biết của kiểm toán viên về đơn vị và hoạt động của đơn
vị được kiểm toán.
3.3.1.2. Thực trạng
Hiện nay tại AASC đã thiết kế, xây dựng một chương trình kiểm toán mẫu
khá chi tiết và được cập nhật, hoàn thiện thường xuyên nhằm đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của công việc kiểm toán. Với đội ngũ kiểm toán viên được đào
tạo tại các trường đại học đầu ngành kế toán, kiểm toán, tài chính ngân hàng
nên chất lượng của các cuộc kiểm toán ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên,
việc soạn thảo các chương trình kiểm toán riêng biệt cho từng cuộc kiểm toán
vẫn chưa thực hiện được.
3.3.1.3. Kiến nghị
Theo em, AASC nên thực hiện việc soạn thảo chương trình cho mỗi cuộc
kiểm toán trên cơ sở chương trình kiểm toán mẫu và nếu trong quá trình thực

chính xác đồng thời hạn chế được việc bỏ sót các sai phạm mang tính trọng yếu
4
Lª Mai Tó KiÓm to¸n 44
4
Luận văn tốt nghiệp Trường đại học KTQD
trong quá trình kiểm toán. Mức trọng yếu có thể thay đổi hoặc được đánh giá
lại trong quá trình thực hiện kiểm toán cho phù hợp nếu kiểm toán viên thấy
cần thiết.
3.3.3. Kiến nghị về đánh hệ thống kiểm soát nội bộ
3.3.3.1. Cơ sở kiến nghị
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400, Đánh giá rủi ro và kiểm soát
nội bộ, kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống kế toán và hệ thống
kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán tổng thể và
chương trình kiểm toán thích hợp, có hiệu quả. Có ba phương pháp thường
được áp dụng để mô tả hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp là sử dụng
lưu đồ, bảng tường thuật, bảng câu hỏi.
3.3.3.2. Thực trạng
Hiện nay AASC đã thiết kế được một hệ thống các câu hỏi đánh giá hệ thống
kiểm soát nội bộ cho các phần hành: Nhân sự kế toán, Tiền mặt và tiền gửi
ngân hàng, Các khoản phải thu, phải trả, Hàng tồn kho, Tài sản cố định, Đầu
tư XDCB dở dang, Các khoản vay, Tiền lương và các khoản phải nộp theo l-
ương, Nguồn vốn chủ sở hữu, Doanh thu, Chi phí, Tài sản lưu động khác, với
các câu hỏi dạng đóng, câu trả lời là “có” hoặc “không”. Việc mô tả hệ thống
kiểm soát nội bộ theo cách này có ưu điểm chủ yếu là sự hoàn thiện tương đối
về mặt tin tức của từng phần hành kiểm toán, mặt khác với một bảng câu hỏi sẽ
rất thuận lợi cho kiểm toán viên có thể lập được khi bắt đầu cuộc kiểm toán.
Tuy vậy nhược điểm của phương pháp này là chỉ cho biết về kiểm soát nội bộ
đối với từng phần riêng lẻ trong hệ thống mà không của khách hàng mà không
cho phản ánh được một cách tổng quát đặc biệt là đối với những khách hàng có
quy mô nhỏ. Mặt khác các câu hỏi đóng không thể mô tả một cách có hệ thống

thời điểm kiểm toán và cộng trừ lùi nhằm xác minh số dư tồn quỹ thực tế của
doanh nghiệp tại thời điểm kết thúc năm tài chính.
6
Lª Mai Tó KiÓm to¸n 44
6
Luận văn tốt nghiệp Trường đại học KTQD
3.3.4.2. Thực trạng
Hiện nay tại AASC, khi thực hiện kiểm toán khoản mục tiền trong quy trình
kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên cũng đã thực hiện tham gia chứng
kiến việc kiểm kê quỹ tại khách hàng tại thời điểm kiểm kê cuối kì hoặc thời
điểm kiểm toán, tuy nhiên thủ tục này chỉ được thực hiện tại một số ít các cuộc
kiểm toán do hạn chế về thời gian và chi phí kiểm toán. Trong nhiều cuộc kiểm
toán, kiểm toán viên chỉ thu thập biên bản kiểm kê quỹ do khách hàng tự thực
hiện và cung cấp. Đối với xác nhận số dư tiền gửi ngân hàng, kiểm toán viên
thu thập các xác nhận do khách hàng thực hiện cho thời điểm kết thúc niên độ.
Việc xác nhận số dư trên các tài khoản ngân hàng do khách hàng thực hiện với
ngân hàng tại ngày lập báo cáo và kiểm toán viên thu thập các xác nhận đó làm
bằng chứng kiểm toán
3.3.4.3. Kiến nghị
Theo em, Công ty nên tăng cường hơn nữa việc chứng kiến kiểm kê quỹ của
khách hàng hoặc tiến hành kiểm kê bất thường đối với tiền mặt tại quỹ. Thủ tục
này đem lại bằng chứng chắc chắn, đáng tin cậy hơn.
Đối với thủ tục gửi thư xác nhận tới ngân hàng
Trong những trường hợp kiểm toán viên nghi ngờ tính chính xác của các số
dư tiền gửi, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh có liên quan đến tăng giảm tiền gửi
và để các bằng chứng kiểm toán thu được có tính thuyết phục cao, trong thời
gian thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên cần yêu cầu khách hàng gửi thư xác
nhận tới ngân hàng. Thực hiện gửi thư xác nhận không chỉ giúp kiểm toán viên
xác nhận về số dư của tài khoản mà còn có thể xác nhận về nội dung và quy mô
những nghiệp vụ tiền gửi phát sinh tại bất cứ thời điểm nào mà trong quá trình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status