1
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
THỰC TRẠNG HẠCH TOÁN TIÊU THỤ HÀNG HÓA VÀ
XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ TIÊU THỤ HÀNG HÓA TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP
VÀ NÔNG SẢN CẤP I HÀ NỘI
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VẬT TƯ
NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG SẢN CẤP I HÀ NỘI
1. Quá trình hình thành và phát triển
Việt Nam là một trong những nước có gần 80% dân số làm nghề nông,
tuy thế nền nông nghiệp nước ta vẫn chưa thực sự phát triển. Hàng năm,
chúng ta phải nhập khẩu rất nhiều sản phẩm nông nghiệp để phục vụ tiêu
dùng và sản xuất.
Sau Đại Hội Đảng VI năm 1986, Nhà nước đổi mới sự quản lý nền kinh
tế, bộ mặt ngành nông nghiệp nước ta có nhiều sự biến đổi. Tuy nhiên sự biến
đổi này chỉ ở mức độ nhất định nhưng thành quả của nó rất đáng kể. Một
trong số đó phải kể đến chính sách ưu đãi của Nhà nước khuyến khích các
doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh sản phẩm nông nghiệp phục vụ
cho công cuộc đổi mới đất nước. Công ty vật tư nông nghiệp ra đời từ sự đổi
mới này.
Giai đoạn trước năm 1986, công ty chỉ là trạm vật tư nông nghiệp Hà
Nội. Đây là thời kỳ nước ta thực hiện cơ chế quản lý tập trung nên trạm chỉ
thực hiện chức năng thu mua và cung cấp các sản phẩm nông nghiệp theo kế
hoạch phân phối của các cơ quan chủ quản.
Từ sau năm 1986, nhận thấy sự đổi mới là cần thiết, trạm vật tư nông
nghiệp I Hà Nội được đổi thành xí nghiệp vật tư nông nghiệp I Hà Nội. Đây
là thời kỳ đầu nước ta xây dựng chủ nghĩa xã hội, xí nghiệp chủ yếu kinh
SVTH: Đặng Trung Phong Lớp: Kế toán 44C
1
2
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
2. Đặc điểm họat động sản xuất kinh doanh
2.1. Mặt hàng kinh doanh và thị trường trường tiêu thụ
Sau khi nghiên cứu thị trường, thu thập thông tin về khách hàng, kết hợp
với một số thông tin khác, công ty có kế hoạch khai thác nguồn hàng cũng
như kế hoạch mua bán cho từng mặt hàng cụ thể.
Hệ thống cửa hàng của công ty có chức năng lưu chuyển hàng hoá đến
khách hàng cuối cùng. Do vậy, công ty đã hình thành nhiều mặt hàng kinh
doanh giúp người tiêu dùng có khả năng lựu chọn đầy đủ hàng hoá đáp ứng
nhu cầu và khả năng thanh toán của minh. Mặt hàng kinh doanh của công ty
được thực hiện ở bảng sau:
TT Tên hàng
1 Đạm URÊA
2 Đạm SA
3 DAP các loại
4 Kali-clorua
5 Lân các loại
6 NPK
7 Nông sản
Từ bảng trên cho thấy công ty kinh doanh chủ yếu là mặt hàng phân
bón.Cho đến nay,mặt hàng này vẫn giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh
doanh của công ty.Bên cạnh đó,công ty cũng kinh doanh thêm nhiều mặt hàng
phục vụ sản xuất nông nghiệp làm phong phú thêm mặt hàng kinh doanh,
đồng thời cũng làm tăng thêm sự lựa chọn cho người tiêu dùng nhằm đáp ứng
tối đa nhu cầu của họ.Nhờ tiến bộ trong công nghệ sinh học,ngày nay xuất
hiện rất nhiều giống cây trồng mới đòi hỏi sự chăm sóc thích hợp đã đặt ra
những yêu cầu cho công ty cần phải đưa ra những loại phân bón phù hợp
hơn.Thêm vào đó những vấn đề về môi trường,sức khoẻ con người đã khiến
mọi người tập trung nhiều vào các mặt hàng phân bón vi sinh.Chính vì
SVTH: Đặng Trung Phong Lớp: Kế toán 44C
SVTH: Đặng Trung Phong Lớp: Kế toán 44C
4
5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
theo cơ cấu trực tuyến chức năng nghĩa là có một thủ trưởng và các nhân viên
dưới được nhóm vào các bộ phận , phòng ban trên cơ sở các hoạt động tương
tự nhau . Tuy vẫn có nhược điểm nhưng đây là kiểu quản lý tiến bộ nhất hiện
nay và được thể hiện qua (Biểu bảng 2)
2.2.1. Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban:
*Ban Giám Đốc:
-Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm giám đốc là người điều hành cao nhất,
trực tiếp chỉ đạo mọi hoạt động của công ty.
-Phó giám đốc và kế toán trưởng : Giúp việc cho Giám đốc có 2 phó
Giám đốc và 1 kế toán trưởng.
Phó Giám đốc trợ giúp, điều hành các mảng hoạt động mà Giám đốc giao
phó, đồng thời thay mặt Giám đốc quản lý điều hành công việc khi được uỷ quyền.
Kế toán trưởng phụ trách chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác kế toán
thống kê của công ty.
Các phòng ban :
-Phòng Kế toán – Tài vụ: Phòng này có nhiệm vụ :
Giúp Giám đốc kiểm tra, quản lý chỉ đạo điều hành các hoạt động tài
chính tiền tệ của công ty và các đơn vị cơ sở.
Quản lý tính toán hiệu quả kinh tế trong kinh doanh, cân đối giữa vấn đề
vốn và nguồn vốn nhằm đảm bảo quyền tự chủ của công ty trong sản xuất và
kinh doanh và chủ động trong các vấn đề chính.
-Phòng Kế hoạch Kinh doanh:
- Phòng này gồm 2 bộ phận:
SVTH: Đặng Trung Phong Lớp: Kế toán 44C
5
+ Điều chỉnh các mặt thiếu cân đối trong quá trình thực hiện mục tiêu
phương hướng kế hoạch kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty như: tiếp
nhận và phân phối hàng, thanh toán hợp đồng, giải quyết thương vụ.
Bộ phận các cửa hàng bao gồm:
+ Cửa hàng ga Văn Điển.
+ Cửa hàng ga Đồng Văn.
+ Cửa hàng ga Hà Đông.
+ Cửa hàng Do Lộ.
Nhiệm vụ của các cửa hàng này là:
Giao nhận và bảo quản hàng hoá.
Bán hàng theo lệnh của công ty.
Thanh quyết toán tiền hàng với công ty.
- Phòng Tổ chức – Hành chính. Phòng nay có nhiệm vụ :
+ Tham mưu cho Ban Giám đốc để sắp xếp bộ máy về tổ chức và công
tác cán bộ của công ty nhằm thực hiện có hiệu quả của công việc kinh doanh
của công ty.
+ Giúp Ban Giám đốc trong các nhiệm vụ thanh tra, kiểm soát các hoạt
động kinh tế của các đơn vị cơ sở.
+ Thực hiện các chế độ chính sách đào tạo bồi dưỡng cán bộ.
SVTH: Đặng Trung Phong Lớp: Kế toán 44C
7
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
-Trạm Vật tư Nông nghiệp cấp I Thanh Hoá: Phụ trách thị trường các
tỉnh miền Trung.
+ Tiếp nhận hàng hóa từ đầu mối của công ty phân phối cho thị trường.
+ Bán hàng theo lệnh của công ty.
+ Thanh quyết toán tiền hàng với công ty.
2.2.2. Kết cấu lao động của công ty
Lao động là một trong ba yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất,kinh
2005
Kết quả kinh doanh của công ty trong 2 năm 2004 ; 2005 được thể hiện
bằng các chỉ tiêu ở bảng sau: ( Biểu bảng trang bên)
Tổng doanh thu năm 2005 đạt 615655887893 đồng tăng 130396835325
(tức là tăng 27%) nguyên nhân là do công ty đã bán được số lượng hàng hoá
nhiều hơn, thị trường tiêu thụ được mở rộng, công ty đã có kế hoạch kinh
SVTH: Đặng Trung Phong Lớp: Kế toán 44C
9
10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
doanh tốt hơn năm trước. Giá vốn hàng bán năm 2005 là 585279025866 đồng
tăng 128950673184 đồng( tức là tăng 28%) trong khi đó tỷ lệ tăng doanh thu
là 27%. Đây là sự biến động cùng chiều giữa doanh thu và giá vốn hàng bán,
điều đó có nghĩa là sản lượng bán ra và sản lượng nhập vào tỷ lệ thuận với
nhau. Như vậy công ty kinh doanh khá ổn định; Tổng chi phí bán hàng năm
2005 giảm so với năm 2004 là (3702470493)tức là gần 19% chứng tỏ doanh
nghiệp đã có kế hoạch chi tiết kiệm, trong khi sản lượng hàng hoá nhập và
hàng hoá bán được đều tăng. Về lợi nhuận hoạt động kinh doanh năm 2004
là(1379120463), như vậy năm này công ty làm ăn không hiệu quả nguyên
nhân chủ yếu là do công ty không bán được nhiều hàng thể hiện thông qua chi
phí bán hàng cao. Tuy nhiên thu nhập từ hoạt động khác lại cao là
1879918083 do lợi nhuân từ việc cho thuê cửa hàng, và được nhận hàng
không mất tiền.Lợi nhuận sau thuế năm 2005 là 396 triệu đồng tăng so với
năm 2004 là 360574286 đồng hay là 10%. Như vậy tuy có gặp nhiều khó
khăn như: giá các mặt hàng nông nghiệp, nông sản giảm nhưng công ty vẫn
tăng lãi.
Tóm lại từ những số liệu trên cho thấy công ty vẫn còn nhiều mặt hạn
chế cần khắc phục như là công ty công ty chưa có kế hoạch nhằm tiết kiệm
chi phí vì vậy cần để lợi nhuận đạt hiệu quả công ty cần nghiên cứu giảm chi
phí. Mặt khác hiện nay trên thị trường đối thủ cạnh tranh về mặt hàng nông
* Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Vật tư Nông nghiệp và Nông sản cấp I
Hà Nội hoạt động sản xuất kinh doanh với quy mô tương đối lớn, địa bàn hoạt
động chủ yếu ở miền Bắc và một số tỉnh khác là : Thanh Hoá, Hải Phòng,
Thành phố Hồ Chí Minh. Để đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành có hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh công ty đã chọn mô hình kế toán tập trung cho
phù hợp với đặc điểm kinh doanh của mình.
Với mô hình này, phòng kế toán của cong ty thực hiện toàn bộ công tác
kế toán từ thu nhận, ghi sổ, xử lý thông tin trên hệ thống báo cáo phân tích và
tổng hợp của công ty. Các đơn vị trực thuộc gồm trạm vật tư nông nghiệp Hải
phòng, trạm vật tư nông nghiệp Thanh Hoá, và tổ kinh doanh phía Nam
không mở sổ sách và hình thành bộ máy kế toán riêng, toàn bộ công việc ghi
sổ tới lập báo cáo kế toán đều thực hiện ở phòng kế toán trung tâm tại công
ty. Các đơn vị này chỉ thực hiện hạch toán ban đầu theo chế độ báo sổ.
Bộ máy kế toán của công ty được thiết lập theo sơ đồ sau:
KẾ TOÁN TRƯỞNG
Kế toán công nợ
Kế toán ngân hàng
Kế toán tiền mặt
Thủ quỹ
SVTH: Đặng Trung Phong Lớp: Kế toán 44C
Kế toán
hàng hoá&
tổng hợp
12
13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
SVTH: Đặng Trung Phong Lớp: Kế toán 44C
13
14
15
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
Loại 4:Chứng từ về tiền tệ
Loại 5:Chứng từ về tài sản cố định.
Sơ đồ hệ thống sổ kế toán trong kế toán hàng hoá, tiêu thụ hàng hoá và
xác định kết quả tiêu thụ hàng hoá tại công ty.
Chứng từ gốc
Chứng từ ghi sổ theoTài khoản 156.511,632,911..
Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ (1 tháng 1 lần)
Sổ cái tài khoản 156,511,632,911,,,
Bảng cân đối số phát sinh
Hệ thống báo cáo tài chính
Sổ( thẻ) kế toán chi tiết TK 156,511,632,911…
Sổ quỹ
Bảng tổng hợp chi tiết TK156…
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Ghi cuối kì
Quan hệ đối chiếu
* Các phần hành công việc kế toán của công ty
Phòng kế toán của công ty có 6 người trong đó 4 người có trình độ đại
học, được chia thành các bộ phận có chức năng nhiệm vụ sau:
-Kế toán trưởng
.Kế toán trưởng có nhiệm vụ tổ chức điều hành toàn bộ hệ thống kế toán
của công ty, thực hiện chỉ đạo công tác chung về kế toán, nghiên cứu áp dụng
các chế độ kế toán của Nhà nước vào tình hình cụ thể của công ty. Bố trí sắp
xếp nhân sự trong phòng kế toán.
.Phân tích , cung cấp thông tin tài chính cho lãnh đạo công ty đồng thời
tham mưu cho Ban Giám Đốc nhằm đưa ra các quyết định về kinh doanh
.Kiểm tra giám sát các phần hành kế toán trong công ty
-Kế toán hàng hoá & tổng hợp
hàng hóa phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp. Từ sau năm 1975 cho
SVTH: Đặng Trung Phong Lớp: Kế toán 44C
16
17
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
tới nay, nông nghiệp của nước ta có nhiều biến chuyển, do đó nhu cầu các mặt
hàng nông nghiệp từng thời kỳ có sự khác nhau. Nhận thấy được điều đó,
Công ty đã thay đổi kinh doanh các mặt hàng vật tư nông nghiệp mũi
nhọn tùy theo nhu cầu của thị trường. Hiện nay các mặt hàng kinh doanh của
công ty bao gồm:
TT Tên hàng
1 Đạm URÊA
2 Đạm SA
3 DAP các loại
4 Kali-clorua
5 Lân các loại
6 NPK
7 Nông sản
Trong đó, công ty chú trọng vào các mặt hàng : Đạm Urea, đạm SA,
Kaly, bởi đây là những mặt hàng đáp ứng được nhu cầu lớn của thị trường.
Đối với mặt hàng Urea, đây là mặt hàng có chất lượng cao bởi được nhập từ
các nước có uy tín về nông nghiệp như: Trung quôc , Arap.
3.1. Các phương thức tiêu thụ và vai trò của công tác tiêu thụ hàng hoá đối
với hoạt động sản xuất kinh doanh.
3.1.1. Các phương thức tiêu thụ hàng hoá
Trong nền kinh tế thị trường nước ta, hoạt động kinh doanh thương mại
ngày một phát triển, mở rộng với đa dạng chủng loại hàng hoá. Trong đó các
mặt hàng về vật tư nông nghiệp và nông sản chiếm một tỷ trọng lớn nhất định.
Hiện nay, trên đất nước ta có rất nhiều các đơn vị với các hình thức sở hữu từ
tư nhân cho tới Nhà nước đều kinh doanh những mặt hàng này. Chính vì vậy
công ty cho phép khách hàng trả lại hàng hoá đã tiêu thụ do không đúng quy
cách, chủng loại, do chất lượng kém… như đã ghi trong hợp đồng.
Bên cạnh việc quản lý hàng hoá tiêu thụ về mặt giá bán và chất lượng,
công ty còn tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong phương thức thanh
SVTH: Đặng Trung Phong Lớp: Kế toán 44C
18
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Nguyễn Minh Phương
toán tiền hàng. Hiện nay, công ty đang áp dụng ba hình thức thanh toán để
khách hàng lựa chọn là: Thanh toán trực tiếp, khách hàng trả tiền ứng trước
và trả chậm.
Với phương thức bán lẻ được thực hiện tại các cửa hàng, thì người bán
hàng đồng thời thực hiện chức năng nhiệm vụ thu tiền của một nhân viên thu
ngân. Cuối ca bán nhân viên quầy hàng kiểm hàng, kiểm tiền, và lập các báo
cáo bán hàng, báo cáo thu ngân và nộp cho kế toán bán lẻ để ghi sổ kế toán.
Như vậy, với việc thực hiện đồng thời hai phương thức tiêu thụ trên,
trong những năm qua việc tiêu thụ hàng hoá của công ty khá hiệu quả. Tuy
nhiên, hiện nay giá các mặt hàng về vật tư nông nghiệp và nông sản liên tục
thay đổi, giảm. Đó là một thách thức không nhỏ đối với việc tiêu thụ hàng hoá
của công ty.
3.1.2. Vai trò của công tác tiêu thụ hàng hoá đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty.
Trong bất kỳ đơn vị kinh doanh thương mại nào, công tác tiêu thụ hàng
hoá luôn đóng một vai trò đặc biệt, vô cùng quan trọng. Công ty cổ phần Xuất
nhập khẩu vật tư nông nghiệp và nông sản cấp I Hà Nội không phải là một
ngoại lệ.
Kết quả của công tác tiêu thụ hàng hoá ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.Trong những năm qua, hoạt động
kinh doanh của công ty bao gồm lợi nhuận từ hoạt động bán hàng, thu nhập
hoạt động tài chính, và thu nhập khác.