THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ VIỆT
NAM.
2.1. Khái quát chung về thị trường bán lẻ Việt Nam:
Hình thức phân phối hàng hoá ở Việt nam trước năm 1986 đa phần theo hình thức
tem phiếu. Khi đó hầu hết các hàng hoá đều do nhà nước thu thập rồi phân phối theo
kiểu phổ thông đầu phiếu. Vớ kiểu phân phối này người dân đều được nhận một số
lượng hàng hoá như nhau. Ban đầu, hình thức này tỏ ra vô cùng hiệu quả đặc biệt trong
trường hợp chiến tranh. Nhưng sau này, khi giành được độc lập cuộc sống của người
dân bắt đầu thay đổi thị hình thức phân phối này không còn phù hợp nữa.
Sau năm 1986 cùng với sự thay đổi của đất nước thị thị trường bán lẻ VIệt Nam
cũng có sự thay đổi. Hàng hoá đã bắt đầu được phân phối theo kiểu thị trường tức là
theo nhu cầu, thu nhập của người dân. Hệ thống cửa hàng bán lẻ và các chợ phát triển
nở rộ. Hàng hoá được tự do lưu thông trên thị trường. Trên thị trường bắt đầu xuất hiện
nhiều mặt hàng ngoại nhập. Cùng với sự nở rộ của thị trường hàng loạt các doanh
nghiệp bán lẻ và tầng lớp thường gia được hình thành.
Người tiêu dùng Việt Nam bắt đầu làm quen với các kênh phân phối hiện đại từ
năm 1993, khi một siêu thị nhỏ Minimart khai trương tại thành phố Hồ Chí Minh. Siêu
thị đầu tiên ở Hà Nội cũng là siêu thị Minimart ở tầng hai chợ Hôm được khai trương
vào năm 1995. Do nền khinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng và đặc biệt sau
cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997 thị hệ thống siêu thị ở Việt Nam phát triển
nở rộ. Trong thời gian này, nổi danh trong lĩnh vực bán lẻ như Saigonco.op với hệ thông
siêu thị Co.opmart; công ty Đông Hưng với hệ thống siêu thị Citimart...
Đến năm 1999, thị trường bán lẻ Việt Nam bắt đầu có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với
các nhà đầu tư nước ngoài, đi đầu là tập đoàn Bourbon của Pháp với siêu thị đầu tiên
BigC tại Đồng Nai. Tiếp sau đó hàng loạt các tên tuổi khác Metro Cash& Carry (Đức),
Parkson( Malaixia)... thâm nhập thị trường bán lẻ Việt Nam.
Đến năm 2007 là mốc quan trọng của thị trường bán lẻ Việt Nam. Năm 2007, Việt
Nam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giớ WTO và với cam kết mở
cửa hoàn toàn thị trường bán lẻ vào năm 2009. Khi đó, thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ có
sự góp mặt của các doanh nghiệp bán lẻ 100% vốn nước ngoài.
Sau 20 năm đổi mới, thị trường bán lẻ Việt Nam phát triển nhanh chóng. Tổng mức
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Cả nước 220410,6 245315,0 280884,0 333809,3 398524,5 480293,5 580710,1
Đb sông
Hồng
43119,7 47233,0 56036,0 66146,3 79280,2 96422,3 117912,5
Đông
Bắc
11332,2 15526,0 17840,0 20722,4 25297,3 30146,2 35907,5
Tây Bắc 2059,4 2976,0 2778,0 2973,1 3894,1 4953,1 6050,5
Bắc
Trung
Bộ
14858,0 16235,0 17868,0 20556,6 24646,8 30021,4 35734,6
Dh Nam
Trung
Bộ
17129,0 20532,0 22020,0 27290,4 31665,8 37824,4 46408,5
Tây
Nguyên
7599,0 8006,0 9254,0 10543,6 12926,8 17398,2 21285,5
Đông
Nam Bộ
80807,6 88203,0 101120,0 121640,1 144480,9 166026,7 201792,0
Đb sông
CửuLong
43505,7 47254,0 53968,0 63936,8 76332,6 97501,2 115618,9
Nhìn chung, sự phát triển hoạt động bán lẻ của các vùng trên cả nước đều có tốc độ
tăng trưởng đồng đều cùng với sự tăng trưởng chung của hoạt động bán lẻ trên cả
nước. Trong tất cả các năm, tất cả các vùng thì tổng mức bán lẻ tăng trung bình các năm
đều là khoảng 10,8%.
(Nguồn: www.sgtt.com.vn-Kịch bản nào mở cửa ngành bán lẻ)
Ta có thể thấy hệ thống phân phối bán lẻ của Việt Nam chủ yếu vẫn theo cách
truyền thống chiếm tới 84%. Lượng hàng hóa thông qua hệ thống phân phối hiện đại
(trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tự chọn…) mặc dù có tăng thêm nhưng cũng
chỉ chiếm 10%. Riêng hai thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh lượng hàng lưu
thông qua kênh phân phối hiện đại có cao hơn mức trung bình của cả nước chiếm 23%.
Trong khi đó ở các vùng sâu, vùng xa thuộc các tỉnh phía nam, miền trung và miền bắc,
tiểu thương, tư thương đảm nhận vai trò phân phối hàng là chủ yếu. Nếu đem so sánh
với các nước khác trên thế giới thì càng chứng tỏ hệ thống phân phối bán lẻ của Việt
Nam vẫn còn lạc hậu. Tại các nước phát triển thị phần của siêu thị trong lĩnh vực bán lẻ
chiếm tới 80-90%. Ở các nước như Nam Mỹ, Đông Á trừ Trung Quốc thì lượng hàng
hóa qua kênh phân phối hiện đại chiếm tới 50-60%. Ngay cả các nước ở Đông Nam Á (
Thái Lan, Philipin) tỷ lệ này cũng là 30-50%.
Cụ thể như tỷ lệ phân phối truyền thống và hiện đại ở Việt Nam là 8,5:1,5. Trong
khi đó so sánh với một nước trung bình như Thái Lan tỷ lệ này là 4:6.
2.2.1.3. Các doanh nghiệp bán lẻ:
Theo số liệu tổng điều tra, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ
phân phối tăng hơn 2 lần trong thời kỳ 2000-2004, từ gần 14.100 doanh nghiệp lên gần
28.600 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp hoạt động bán buôn tăng gần 170% và bán
lẻ tăng gần 50%. Các doanh nghiệp bán lẻ (bao gồm tất cả các doanh nghiệp bán lẻ
chính thống và các doanh nghiệp thương mại khác thực hiện thêm chức năng bán lẻ,
chẳng hạn doanh nghiệp bán buôn nhưng vẫn tham gia bán lẻ) ở các thành phần kinh tế
khác nhau có mức đóng góp trong tổng mức bán lẻ cũng khác nhau. Có thể nhìn vào
biểu đồ cơ cấu các thành phần kinh tế trong tổng mức bán lẻ hàng hóa để thấy rõ hơn
điều đó.
Biểu đồ 2.3
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của cả nước phân theo cơ cấu các thành phần
đến nay tổng tài sản trị giá vài trăm tỷ đồng và hiện là DNBL hàng đầu tại Việt
Nam. Đến nay Sài Gòn Co.op đã có 25 siêu thị mang nhãn hiệu Co.op Mart hoạt động
chủ yếu ở TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Quy Nhơn, Tiền Giang sắp tới là An Giang, Vĩnh
Long, Long An. Ngoài ra doanh nghiệp này còn mở rộng thêm kênh phân phối là các
cửa hàng tiện lợi mang tên Co.op “bày bán khoảng 2.000 mặt hàng với 80% nguồn
hàng do Sài Gòn Co.op cung cấp, 20% còn lại tùy vị trí và nhu cầu dân cư mà người
quản lý cửa hàng sẽ đưa vào thêm.”
- Công ty cổ phần Thương mại và dịch vụ G7: Công ty chủ trương xây dựng hệ
thống chuỗi các cửa hàng tiện lợi G7 Mart. Công ty chủ trương không hình thành những
cửa hàng trong chuỗi các cửa hàng được trang bị quá hiện đại. Mỗi cửa hàng công ty
chỉ đầu tư khoảng từ 50-200 triệu. Chủ yếu các cửa hàng là các cửa hàng có sẵn cơ sở
1
vật chất (địa điểm cửa hàng) nhân công tại chỗ ( chủ cửa hàng). Điểm chung nhất của
các cửa hàng này là chuẩn hoá. Tức là công ty tiến hành nâng cấp, trang trí thiết kế lại
cửa hàng; tổ chức trưng bày lại hàng hoá; thống nhất và ổn định nguồn cung; chuẩn hoá
các dịch vụ thông qua đào tạo kỹ năng bán hàng, ứng dụng công nghê... Hiện nay dự án
bán lẻ này phát triển rất nhanh chóng đã có tới hơn 500 cửa hàng tiện lợi được thành
lập.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn Phú Thái: Đây là một tập đoàn phân phối phát triển
rất nhanh và có phong cách làm việc rất hiện đại, chuyên nghiệp. Công ty có tốc độ tăng
trưởng ấn tượng trung bình khoảng 40% / năm trong những năm gần đây. Hiện nay
công ty đã có hơn 3000 đại lý bán sỉ; 50000 đại lý bán lẻ; hàng trăm nhà phân phối
phụ...
- Công ty cổ phần đầu tư và phát triển hệ thống phân phối Việt Nam VDA: Công ty
được thành lập dựa trên sự liên kết của 4 doanh nghiệp bán lẻ hàng đầu tại Việt Nam :
công ty trách nhiệm hữu hạn Phú Thái; tổng công ty Sài Gòn Co.op; Công ty Thương
mại Sài Gòn (SATRA); tổng công ty thương mại Hà Nội (HAPRO). Công ty này được
kỳ vọng sẽ là công ty đầu tàu trên thị trường bán lẻ Việt Nam. Đồng thời, sự thành lập
của công ty có thể coi là bước đi kịp thời của các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đó là
thành lập các tổng công ty mạnh về vốn và quy mô để có thể cạnh tranh với các tập
và có ảnh hưởng lớn trong công tác quản lý. Hệ thống siêu thị Metro đem lại rất nhiều
lợi ích cho khách hàng:
+ Chủng loại hàng hoá đa dạng
+ Giá rẻ: Nhờ có sức mua lớn và chi phí thấp nên Metro đảm bảo cung ứng hàng
chất lượng cao với giá rẻ nhất cho khách hàng
+ Dịch vụ hậu mãi: Bộ phận dịch vụ khách hàng hỗ trợ một cách hữu hiệu mọi vấn
đề liên quan đến bảo hành sản phẩm
+ Nhà kho của khách hàng: Nhờ có hệ thống quản lý hiện đại của Metro, mọi hàng
hoá luôn sẵn sàng thoả mãn nhu cầu theo số lượng, giúp các nhà bán lẻ giảm tối đa
lượng hàng lưu kho và vận dụng tối đa nguồn vốn.
+ Ngoài ra: bãi đậu xe miễn phí, thông tin trực tiếp đến khách hàng, giờ mở của
thuận tiện...
Chính những lợi thế cạnh tranh lớn như vậy mà trong vòng 4 năm (tính đến hết năm
2006) hệ thống siêu thị của Metro đã lên tới con số 8.
- Bên cạnh đó cũng cần kể đến một số doanh nghiệp bán lẻ nước ngoài khác như:
Parkson (Malaisia), Zen plaza (Nhật Bản)...
2.2.1.4. Thương mại điện tử:
Thương mại điện tử là một hình thức vẫn còn mới mẻ tại Việt Nam nhưng đang có
xu hướng phát triển tích cực. Ngoài việc xây dựng các trang web để giới thiệu, quảng
bá hình ảnh, sản phẩm của doanh nghiệp mình các doanh nghiệp có thể tìm kiếm bạn
hàng, giao dịch buôn bán với khách hàng, người tiêu dùng qua mạng. Chính những tiện
ích đó và tỷ lệ người sử dụng Internet tại Việt Nam luôn tăng trưởng ở mức cao (năm
2005 là 123,4%) là cơ sở để thúc đẩy thương mại điện tử phát triển.
Ngày 26/8/2005, cổng thương mại điện tử quốc gia www.ecvn.gov.vn đã chính thức
ra mắt với mục đích hỗ trợ các công ty có thể nhanh chóng làm quen và xây dựng, tham
gia vào thương mại điện tử để nâng cao sức cạnh tranh của mình. Mặc dù, đã có rất
nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam đã nhanh nhạy với hình thức kinh doanh trực tuyến tuy
nhiên vẫn còn ở mức sơ khai. Hầu hết các trang web của các doanh nghiệp chỉ mới
dừng ở mức giới thiệu hàng hoá, hình ảnh của công ty mình. Các hình thức giao dịch,
kinh doanh qua mạng thực tế vẫn còn thấp.