CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG TIỀN THƯỞNG TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1. Cơ sở lý luận về tiền lương
1.1.1. Khái niệm, bản chất, vai trò của tiền lương
* Khái niệm tiền công, tiền lương
Tiền công, tiền lương đều là số tiền mà người sử dụng lao động trả
cho người lao động. Tiền công thường được hiểu là số tiền mà người
sử dụng lao động trả cho người lao động tuỳ thuộc vào thời gian làm
việc thực tế (giờ công, ngày công), hay số lượng sản phẩm sản xuất ra,
hay tuỳ thuộc vào khối lượng công việc hoàn thành. Tiền công thường
hay biến đổi còn tiền lương thường ổn định trong một thời gian dài, ít
biến đổi và được trả định kỳ theo một đơn vị thời gian (tuần, tháng,
quý…) dựa trên thang bảng lương và bậc lương của từng người lao
động.
Có nhiều quan niệm khác nhau về tiền lương:
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Tiền lương là sự trả công
hoặc thu nhập, bất luận tên gọi hay cách tính thế nào mà có thể biểu
hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao
động và người lao động, hoặc bằng Pháp luật, pháp lý Quốc gia, do
người sử dụng lao động trả cho người lao động theo một Hợp đồng lao
động (HĐLĐ) được viết ra hay bằng miệng, cho một công việc đã thực
hiện hay sẽ phải thực hiện, hay cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải
làm”.
Hay có khía niệm: “Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình
thành qua thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động
phù hợp với quan hệ cung cầu trong nền kinh tế thị trường”.
Theo Điều 55 Bộ luật lao động nước CHXHCN Việt Nam: “Tiền
lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong HĐLĐ và được
trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức
lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do
Nhà nước quy định”.
không thể trả một mức tiền lương quá thấp để chi phí sản xuất thấp vì
tiền lương còn có ý nghĩa lớn trong việc thu hút, duy trì và giữ chân
những lao động giỏi, những lao động phù hợp với yêu cầu công việc của
tổ chức. Tiền lương là một công cụ hữu hiệu trong quản lý nhân lực của
tổ chức, là công cụ kích thích người lao động làm việc hăng say, nhiệt
tình và đạt được năng suất lao động cao.
Đối với xã hội: Tiền lương của người lao động có đóng góp một
phần đáng kể vào ngân sách Nhà nước thông qua thuế thu nhập. Tiền
lương cũng ảnh hưởng tới các nhóm người trong xã hội, phản ánh
chênh lệch xã hội. Nhà nước thông qua việc đánh thuế thu nhập để điều
tiết chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.
1.1.2. Những yêu cầu của tổ chức tiền lương
- Tiền lương cần có cách tính toán đơn giản, dễ hiểu, rõ ràng để
mọi người đều hiểu và kiểm tra được tiền lương của mình, hiểu được
tiền lương mình nhận được là thoả đáng, hợp lý, phù hợp với công sức
đóng góp. Từ đó, người lao động mới yên tâm làm việc, tận tuỵ với công
việc.
- Tiền lương phải đảm bảo tái sản sản xuất sức lao động, đáp ứng
được nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của người lao động, đồng thời không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần người lao động.
- Tiền lương trả cho người lao động phải căn cứ vào năng lực, sự
cố gắng nỗ lực, căn cứ vào những đóng góp của người lao động đối với
hoạt động phát triển của doanh nghiệp. Từ đó kích thích lao động làm
việc hăng say, không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng công việc.
- Hệ thống tiền lương phải tuân thủ theo yêu cầu của Pháp luật và
phải được thực hiện công bằng giữa các doanh nghiệp trong cùng
ngành nghề sản xuất kinh doanh để hạn chế hiện tượng nhảy việc. Tìm
hiểu và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về các vấn đề lao
động trước khi xây dựng cơ chế trả lương là việc làm bắt buộc. Doanh
nghiệp cần lưu ý đến các vấn đề như mức lương tối thiểu Nhà nước quy