ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THANH BÌNH
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CUNG ỨNG
DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
C u nn
n C n tr
HÀ NỘI – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THANH BÌNH
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG CUNG ỨNG
DỊCH VỤ CÔNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Luận văn T ạ s
u n n n C n tr
s
N ờ
C
ơnMỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VỚI VAI TRÒ
CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG .................................................................................
1.1 D ch vụ công: cách tiếp cận, khái niệm và phân loại ........................................
1.1.1Một số cách tiếp cận về dịch vụ công ..................................................................
1.1.2
Khái niệm và đặc điểm dịch vụ công ..............................
1.1.3
Phân loại dịch vụ công ....................................................
1.2 Hoạt động cung ứng d ch vụ công: chủ thể, nội dung, và mô hình ...............
1.2.1 Ngoại diên khái niệm dịch vụ công và mối tương quan giữa các chủ thể trong
cung ứng dịch vụ công ...............................................................................................
1.2.2
Nội dung trong hoạt động cung ứng dịch vụ công của nh
1.2.3
Mô hình tổ chức cung ứng dịch vụ công của nhà nước ...
1.3
Kinh nghiệm cải cách cung ứng d ch vụ công ....................................
trò ủ n
2.2 D ch vụ công ở Việt N m (P ân t
n ớc trong cung ứng d ch vụ công....49
tr ờng hợp)....................................... 51
2.2.1 Cung ứng dịch vụ giáo dục – đào tạo.............................................................. 53
2.2.2 Cung ứng dịch vụ hành chính công................................................................. 59
2.3 Những vấn đề còn tồn tại trong cung ứng d ch vụ công................................ 64
2.3.1 Hiệu quả cung ứng dịch vụ công còn thấp....................................................... 64
2.3.2 Bộ máy hành chính nhà nước còn nhiều bất cập............................................. 66
2.3.3 Thiếu hụt ngân sách trong cung ứng dịch vụ công.......................................... 69
2.4. Một s khuyến ngh.......................................................................................... 70
2 4 1 N ng cao n ng lực và tính hiệu quả của
ản th n nhà nước trong cung ứng
ịch vụ c ng.............................................................................................................. 71
2 4 2 Xác định lại chức n ng vị thế của nhà nước trong mối tương quan với các tác
nh n phi nhà nước..................................................................................................... 76
2.5 Tiểu kết.............................................................................................................. 81
KẾT LUẬN............................................................................................................. 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 84
Ở ĐẦU
1. Lý do ch n đề tài
Việt Nam. Các nội dung của cải cách hành chính được nhà nước ta xác định bao
gồm: cải cách thể chế hành chính, cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức, cải cách tài chính công, ứng dụng công nghệ thông tin trong
hoạt động của bộ máy nhà nước...Các nội dung của cải cách hành chính hướng
vào xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng ước
hiện đại hóa, nhằm phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ
bản của ngư i dân. Thông qua cải cách hành chính nhà nước từng ước nâng cao
chất lượng cung ứng dịch vụ công cho nhân dân.
Trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội ngày càng phát triển ở Việt Nam,
nhu cầu của ngư i n đối với các dịch vụ c ng ngày càng gia t ng cả về số
lượng lẫn chất lượng, việc cung ứng dịch vụ công của nhà nước vẫn còn bộc lộ
nhiều hạn chế, yếu kém ví dụ như giá cả chưa tương xứng với chất lượng, một
bộ phận ngư i n chưa tiếp cận được với các dịch vụ cơ ản, ở một số nơi xảy ra
tình trạng quá tải dẫn đến tiêu cực hay chưa giải quyết thỏa đáng ài toán giữa
hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội. Chính vì vậy, việc nghiên cứu vai trò của
nhà nước trong việc quản lý điều hành, phân phối điều tiết đối với việc cung
ứng các dịch vụ công ngày càng trở nên cấp ách
chức n ng nhà nước trong xu thế x hội h a các
cung ứng ịch vụ c ng của nhà nước th o hướng giảm
ần chức n ng cai trị và
gia t ng chức n ng phục vụ là vấn đề mới mẻ mang tính chính trị học và được
tác giả quan t m
Với các lý do trên, học viên chọn đề tài “V
cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam hiệ
tò ủ
hóa công cộng thuần túy và hàng hóa khuyến dụng.
Sách tham khảo “G
chính tr c a s h
H.1999) chủ yếu đề cập đến cải cách hoạt động doanh nghiệp nhà nước qua việc
thực hiện chế độ hợp đồng giữa nhà nước với khu vực bên ngoài, chỉ ra những
thành c ng cũng như thất bại của nó ở nhiều nước.
Nhiều tác phẩm nghiên cứu về sự biến đổi chức n ng x hội của nhà nước,
đòi hỏi việc cung ứng dịch vụ công phải dựa trên tinh thần doanh nghiệp hóa.
Sách tham khảo “
i m i ho
ng c a Chính ph
i khu v c công c
– tinh th n doanh nghi p
” (Nxb. CTQG, H.1997) của
Davi Os orn đ nêu lên bức tranh sinh động trong cung ứng dịch vụ công của
Chính phủ theo tinh thần doanh nghiệp với sự chú trọng vào tính cạnh tranh. Các
tác giả cũng đề ra những nguyên tắc mới: Chính phủ xúc tác, Chính phủ cầm lái
chứ không phải ơi chèo; Chính phủ cộng đồng giao quyền hơn là phục vụ;
Chính phủ có tính cạnh tranh; Chính phủ hoạt động th o hướng hách hàng: đáp
ứng nhu cầu khách hàng chứ không phải bộ máy quan liêu; Chính phủ kinh
doanh, Chính phủ phi tập trung h a…
Báo cáo “
c trong m t th gi
phục vụ
i thi n
” (Báo cáo phát triển 2004 của WB) nêu lên
vấn đề mà hầu như các nước đều gặp phải đ là cả t ng trưởng kinh tế lẫn t ng chi
tiêu công hay áp dụng các giải pháp kỹ thuật đều chưa đủ để đối phó với những
thất bại trong cung ứng dịch vụ công. Nguyên nhân của vấn đề là sự
h
ng n hớp giữa các giải pháp được đề xuất: cải cách dịch vụ c ng tư nh n hóa,
dân chủ hóa, phi tập trung hóa, kí hợp đồng, cung cấp thông qua các tổ chức phi
Chính phủ, trao quyền tự chủ huy động sự tham gia của ngư i dân, các quỹ xã
hội…Báo cáo cũng nhấn mạnh không có liều thuốc nào là vạn n ng cho nên điều
then chốt là phải củng cố quyền lực và khả n ng để ngư i nghèo tác động
đến dịch vụ.
Tình hình nghiên cứu dịch vụ công ở nước ta:
Đề cập đến các vấn đề chung về dịch vụ công, chủ yếu về khái niệm, phân
loại, kinh nghiệm quản lý khu vực công, vai trò của nhà nước phương pháp quản
lý của nhà nước đối với dịch vụ công và những giải pháp nhằm cải thiện hiệu
quả cung ứng dịch vụ công.
Công trình “Q n lý khu v ” của GS TS Vũ uy Từ chủ biên (Nxb KHXH
H.1998) góp phần làm rõ hái niệm khu vực công, phạm vi của khu vực
c
ng xác định mức độ và các hình thức tham gia của nhà nước trong việc cung
i v i cung ng d ch vụ
” của TS.
K KT 2007) là c ng tr nh đề cập chủ yếu đến phương pháp
quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch cụ công và những giải pháp.
Một số tác phẩm nhấn mạnh đến khía cạnh xã hội hóa dịch vụ công, có
thể kể đến như: “ i m i cung ng Vi t Nam hi
của TS Đinh V n Ân và
công và xã h
CTQG 2004)
công – m t s
của PGS.TS Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Triết học, số 155, tháng 5/2004); bài
viết của PGS.TS Võ Kim Sơn đ ng trên Tạp chí Lý luận chính trị số tháng
5/2008: “Q
trình xã h
ý
i v i ho
ng cung c p d ch vụ công trong quá
”…
Đề tài khoa học cấp nhà nước n m 2010: “D ch vụ xã h i
2020 –
5
Nhiều tác phẩm nghiên cứu về cung ứng dịch vụ cụ thể như giáo
yếu hội thảo “ i m i giáo dụ
Bộ Giáo dục và Đào tạo (n m 2004); sách tham
giáo dục Vi t Nam trong n n kinh t th
Lao Động 2006)…
Nh n chung các c ng tr nh đều đề cập đến nhiều vấn đề lý luận cơ
dịch vụ công, thống nhất ở vai trò, trách nhiệm của nhà nước trong cung ứng
dịch vụ công, khía cạnh công bằng xã hội trong cung ứng dịch vụ công và nhấn
mạnh xu hướng xã hội hóa dịch vụ công. Tuy nhiên, với sự phát triển của xã hội
mà nhất là điều kiện cơ chế thị trư ng và xã hội c ng n cũng c những dấu hiệu
hình thành, ngày càng có nhiều chủ thể, nhân tố tham gia vào các quá trình dịch
vụ c ng Điều này dẫn đến nhu cầu phải đổi mới, nâng cao vai trò, trách nhiệm
của nhà nước trong việc quản lý, điều tiết góp phần nâng cao hiệu quả cung ứng
dịch vụ công.
3. Mụ đ
v n ệm vụ nghiên cứu
Mụ đnn ứu:
Thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về dịch vụ công và thực
trạng cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam để xác định lại chức n ng vị thế và vai
trò của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
nhà nước trong cung ứng dịch vụ công.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận v n tập trung nghiên cứu vai trò của nhà nước
đối với dịch vụ hành chính công và một dịch vụ công cộng tiêu biểu nhất đ là
giáo dục – đào tạo.
5. Cơ sở lý luận v p
ơn p áp n
n ứu
Cơ sở lý luận:
- Lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm, chủ trương đư ng lối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước về dịch
vụ công và thực hiện chức n ng của nhà nước trong cung cấp dịch vụ công;
- Luận v n cũng ế thừa các quan điểm, lý luận về dịch vụ công của các nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước.
• P
-
ơn p áp n
n ứu:
Kế thừa có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu khoa học và cập
nhật những th ng tin liên quan đến chủ đề nghiên cứu;
-
TRÒ CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG
1.1 D ch vụ công: cách tiếp cận, khái niệm và phân loại
1.1.1 Một s cách tiếp cận về d ch vụ công
a. Tiếp cận về mặt cấu trúc
Xét về mặt cấu trúc, dịch vụ công là một từ ghép kết hợp giữa hai khái
niệm “ ịch vụ” và “c ng”
o đ nhận thức được các khái niệm thành phần là
một phương cách để thấu hiểu toàn vẹn khái niệm trên.
Tuy nhiên, ngay trong từng khái niệm thành phần cũng c
những cách hiểu
hác nhau Trước tiên là “ ịch vụ” th o từ điển Bách khoa Việt Nam th “ ịch vụ” là
những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu sản suất, kinh doanh và
sinh hoạt. Có thể kể đến một số loại dịch vụ như: ịch vụ phục vụ sản suất, kinh
doanh; dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng; dịch vụ cá nhân; dịch vụ tinh thần;
…Tuy nhiên ở đ y cần phân biệt rõ hoạt động sản xuất và dịch vụ. Trong nền
kinh tế luôn bao gồm 2 lĩnh vực đ là sản xuất, tức tạo ra những sản
phẩm hiện hữu và dịch vụ, tức là những sản phẩm phi hiện vật, chỉ được thực
hiện khi sử dụng dịch vụ đ
Theo từ điển Kinh tế học hiện đại, D.W Pearce cho rằng: “
ch
giá c hình thành nên m
ng hàng hóa vô hình, m t trong nh
tiêu thụ ngay t
c, v ý
” [89, tr.993].
Một số quan điểm khác cho rằng: d ch vụ là nh ng ho
đặc điểm sau: Thứ nhất, tính không chuyển nhượng quyền sở hữu. Một chủ thể
tạo ra, cung cấp dịch vụ không thể chuyển nhượng dịch vụ đ cho một chủ thể
khác vì chủ thể tạo ra dịch vụ đ lu n lu n sở hữu nó. Thứ hai, là tính tiêu dùng
tại chỗ. Dịch vụ thư ng được tiêu dùng ngay tại nơi sản xuất. Thứ ba, là tính khó
nhận dạng. Thể hiện ở cả đầu vào và đầu ra tức đầu sản xuất và tiêu dùng. Trong
quá trình sản xuất, dịch vụ thư ng không có cấu trúc ưới dạng vật chất và nó thư
ng tồn tại ở dạng v h nh tương tự đầu ra của dịch vụ cũng h ng hữu hình, cố định
và h đánh giá Cũng chính từ đặc điểm này dẫn đến sự đa dạng và
phức tạp trong việc việc cung ứng dịch vụ. Thứ tư chủ thể sử dụng dịch vụ thì
phải trả phí (
i nh ng hình th c khác nhau) và về nguyên tắc có quyền lựa
chọn sản phẩm dịch vụ được cung cấp.
Khái niệm thành phần tiếp theo trong khái niệm dịch vụ c ng là “c ng”
Quan niệm về “c ng” c
thể được hiểu là công cộng, tức những hoạt động phục
vụ lợi ích của cộng đồng các nhu cầu thiết yếu các quyền và nghĩa vụ cơ
của c ng
n
ản
n hay c ng quyền, tức là những hoạt động thuộc thẩm quyền, chức
ng phục vụ lợi ích chung (công cộng) của nhà nước. Cần lưu ý rằng cơ quan
nhà nước trong trư ng hợp này đ ng vai trò là chủ thể cung cấp dịch vụ (hay
Theo P.A Samuelson và W.D. Nordhaus, hàng hóa công cộng được hiểu là
một loại hàng hóa có thể cho mọi ngư i được hưởng với một giá không lớn hơn
cái giá đòi hỏi để cung cấp nó cho một ngư i. Việc hưởng thụ hàng h a đ không
thể chia cắt và không thể loại trừ ai Đối chiếu với hàng h a tư nh n mà nếu một
ngư i đ tiêu ùng th ngư i khác không thể tiêu ùng được nữa [100, tr.712].
10
Theo J.E.Stiglitz thì hàng hóa công cộng có hai loại. Thứ nhất, là hàng hóa
công cộng thuần túy là loại hàng h a đồng th i thỏa mãn cả hai điều kiện: không
thể loại trừ ai và không muốn loại trừ một ai. Thứ hai, là hàng hóa công cộng
không thuần túy là hàng hóa chỉ thỏa mãn một trong hai điều kiện đ nêu [110
tr.167-170].
C
quan điểm cho rằng trước tiên cần phân biệt hàng hóa công cộng và
hàng h a cá nh n Đối với hàng hóa cá nhân, việc sử dụng của ngư i này sẽ ảnh
hưởng đến tiêu dùng của ngư i khác theo khối lượng hàng hóa sử dụng, có thể th
o hướng giảm bớt hoặc không thể sử dụng được nữa. Trái lại, hàng hóa công
cộng là loại hàng hóa mà các thành viên trong xã hội có thể sử dụng chung với
nhau, việc tiêu dùng của ngư i này không làm ảnh hưởng đáng ể đến việc tiêu
dùng của ngư i khác, có thể ví dụ như an ninh quốc phòng, trật tự xã hội, bảo vệ
m i trư ng, giáo dục … àng h a c ng cộng sau đ lại được chia thành hàng hóa
công cộng thuần túy và không thuần túy.
Th o nghĩa
án Việt: hàng hóa công cộng được ghép bởi hai từ hàng hóa
Hàng hóa khuy n dụng (m rit goo s) là hàng h a mà nhà nước bắt buộc công
dân phải sử dụng hoặc sử dụng ở mức cao hơn họ muốn, ví dụ như sản
phẩm của các dịch vụ có ảnh hưởng ngoại iên ương như phổ cập giáo dục đào
tạo, nghiên cứu, sáng chế…
Hàng hóa có tính cá nhân nhưng cần được cung cấp ưới hình thức công
cộng là loại hàng hóa mà cá nhân muốn sử dụng thì phải bỏ tiền ra mua (tương
ứng với số lượng, chất lượng, chủng loại phương thức sử dụng hàng h a) nhưng
ngư i bán không chỉ phục vụ cho một cá nhân riêng lẻ mà phải cho hàng loạt cá
nh n hác như điện nước sạch, giao thông công cộng…mang tính quyền lực và
pháp lý do đội ngũ c ng chức thực thi để tiến hành các chức n ng và nhiệm vụ
của nhà nước trong việc quản lý toàn diện các mặt của đ i sống chính trị, kinh tế
v n h a và x hội của một quốc gia.
Xuất phát từ khái niệm hàng hóa công cộng trên đ y cùng với sự cần thiết
phải đảm bảo cung cấp các hàng hóa tối cần thiết cho xã hội là nền tảng để hiểu
khái niệm dịch vụ công.
c. Tiếp cận từ ó độ chứ năn n
n ớc
Xuất phát từ đặc điểm của nhà nước vừa với tư cách là quyền lực chuyên
chính và vừa là quyền lực công cộng, về mặt chức n ng c thể tách biệt một cách
tương đối hoạt động của bộ máy nhà nước thành hai chức n ng cơ ản: chức
12
n
ng quản lý nhà nước (hay cai trị) với mọi lĩnh vực của đ i sống kinh tế - xã hội
trư ng, y tế v n hóa, giáo dục, bảo hiểm xã hội… đều được xếp vào
13
loại dịch vụ c ng Đ y là cách hiểu dịch vụ c ng th o nghĩa rộng. Tuy nhiên, hạn
chế của cách hiểu này là không phân biệt được một cách rạch ròi hai chức
n
ng của nhà nước. Xu thế phát triển của nhà nước là sẽ ngày càng thu hẹp chức
n ng cai trị và mở rộng chức n ng phục vụ, xu thế hiện diện ở những nước có tr
nh độ phát triển về kinh tế - xã hội, sự phát triển của nền dân chủ cao.
ơn nữa, chất lượng dịch vụ công của một xã hội còn phản ánh phần nào
bản chất dân chủ và tr nh độ phát triển của xã hội đ
ởi vì dịch vụ công là
những hoạt động phục vụ những lợi ích tối cần thiết của xã hội đảm bảo cho xã
hội phát triển bền vững có trật tự kỉ cương là phương thức thực hiện công bằng
xã hội, và đảm bảo cho tất cả các thành viên trong xã hội nhất là những nhóm
yếu thế được hưởng đầy đủ những dịch vụ công cần thiết như giáo ục đào tạo,
sức khỏe, giao thông công cộng… Đ y h ng chỉ là vấn đề đảm bảo công bằng
xã hội mà suy rộng ra đ còn là
những quyền được hầu hết các Hiến pháp dân chủ thừa nhận và bảo vệ.
Việc cung ứng dịch vụ công còn có tác dụng trực tiếp đến sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. Ví dụ như
nhà nước sử dụng quyền lực c ng để tạo ra các dịch vụ như cấp phép đ ng
chứng thực, thị thực…Tuy xét về mặt hình thức, sản phẩm của các dịch vụ này
chỉ là các v n ản giấy t nhưng chúng lại có tác dụng chi phối quan trọng đến các
nữa, dịch vụ công phải được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực chính trị, quyền
lực nhà nước mà loại quyền lực này không thể do bất cứ cá nhân hay tổ chức nào
khác nắm giữ. Cùng với tiến trình phát triển của xã hội, các nhu cầu các đòi hỏi
của ngư i dân ngày một nâng cao cộng thêm sự hoàn thiện của thể chế xã hội dân
sự nhà nước pháp quyền dẫn đến hệ quả là các dịch vụ công ngày càng phải
đa ạng hơn chất lượng hơn Đ
n ng của m nh và
là cơ sở để nhà nước nhận định rõ ràng chức
ư ng như đang c
một sự chuyển dịch nhất định từ chức
n ng cai trị sang chức n ng phục vụ điều tiết của nhà nước.
K á n ệm v đặ đ ểm
vụ ôn
a. Khái niệm d ch vụ công
Chức n ng ịch vụ công là hiện thực phổ biến đối với các nhà nước nghĩa
là nó không còn xa lạ, tuy nhiên, quan niệm có tính lý luận về dịch vụ c ng cũng
có những quan điểm hác nhau Điều này có thể thấy trong các quan niệm của các
học giả nước ta.
TS. Nguyễn Ngọc Hiến cho rằng khái niệm dịch vụ công bao gồm một số
loại dịch vụ khác nhau, thậm chí rất khác nhau về tính chất. Tuy nhiên, phân tích
kỹ có thể thấy các dịch vụ này c
dụ
u phục vụ cho nhu c u và l
”
ch ch th có trách
c có trách nhi m cao nh t
c xã h i song vi c th c hi n còn có các t
m nhi m. Vì v y, t
ch c dân s , t ch c kinh t
công
ng thay vì công quy n.
Mục tiêu phục vụ c a d ch vụ công là cung
ng hàng hóa công c ng không
thông qua quan h
D ch vụ công gồm có 3 lo
d ch vụ sinh ho
h i phục vụ mụ
TS Đinh V n Ân và
Dựa trên cách tiếp cận chức n ng nhà nước c
trên chưa
n ng quản lý nhà nước
hành chính c ng
chung thiết yếu của đ ng đảo của ngư
nhà nước hi ịch vụ hàn
ung củaịch vụ c ng đ
của nhà nước mà xu thế chuyển đổi vai trò của nhà nước từ cai trị sang phục vụ là
xu thế đang
iễn
Th.s Nguyễn Phước Thọ V n phòng Chính phủ thì cho rằng: d ch vụ công
là nh
ng ho
ng qu
ý
thi pháp lu
t, q
ho c
y quy n cho các ch
c h t và quan tr ng nh t là cung c p nh ng hàng hóa, d ch vụ
nhu c
u thi t y u, t i thi u c a xã h i, xu t phát t
17
[112, tr.73-78].
Quan điểm trên nhấn mạnh vào
ịch vụ c ng đ
mà quên mất tính chất
nêu ật được phạm vi
vụ cho nhu cầu lợi ích chung thiết yếu; các quyền và nghĩa vụ cơ
chức và c ng
chủ thể
uy nhất của cung ứng
niệm cũng như
hội h a
ịch vụ c ng Bởi v
nước các cán
phần ngoài nhà nước song được nhà nước ủy quyền như các cơ quan tổ chức tư
nh n
tổ chức
PGS TS Lê Chi Mai đưa ra quan điểm: d ch vụ công là
phục vụ các l
ch
ằng x
hội Do đ
c thể
nhận xét rằng quan điểm trên đưa ra một cách tiếp cận tương đối toàn
iện
về ịch vụ c ng
Theo David Farnham và Sylvia Horton trong “
w
” thì dịch vụ c ng được định nghĩa như sau: “Th pu lic s rvic s are
broadlly defined as those major public sector organizations whose current and
capital expenditures are funded primarily by taxation, rather than by raising
revenue through the sale of their services to either individual or corporate
consumers. The public services, so defined, included the civil service, local
government, the national health services, and the educational and police services.
This definition excludes the remaining nationalised industries and the former
public utilities, such as telecommunications, gas, electricity and water, as well as
public corporation such as British Broadcasting Corporation, The Bank of
England and the Post Office. Civil services could be divided into 4 types:
executive activities, administrative work of a non-executive character, day-today work on interal organization and personel, and the formulation and review of
policy” [141 tr 14]
Theo các tác giả, dịch vụ c ng được định nghĩa như là ịch vụ của các tổ
chức thuộc khu vực c ng mà trong đ inh phí hoạt động chủ yếu được hỗ trợ từ hệ