LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÂN LỰC TẠI DOANH
NGHIỆP
I.Nguồn nhân lực doanh nghiệp
1.Khái niệm:
Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ
được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer & Dornhusch,
1995). Nguồn nhân lực, theo GS. Phạm Minh Hạc (2001), là tổng thể các tiềm năng lao
động của một nước hay một địa phương .
Khi nói đến nguồn nhân lực, người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu
cầu của thị trường lao động. Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trong trình độ kiến
thức, kỹ năng và thái độ của người lao động. Sự phân loại nguồn nhân lực theo ngành
nghề, lĩnh vực hoạt động (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ) đang rất phổ biến ở nước
ta hiện nay, nhưng khi chuyển sang nền kinh tế tri thức phân loại lao động theo tiếp cận
công việc nghề nghiệp của người lao động sẽ phù hợp hơn. Lực lượng lao động được
chia ra lao động thông tin và lao đọng phi thông tin. Lao động thông tin lại được chia ra
2 loại: lao động tri thức và lao động dữ liệu. Lao động dữ liệu (thư ký, kỹ thuật viên...)
làm việc chủ yếu với thông tin đã được mã hoá, trong khi đó lao động tri thức phải
đương đầu với việc sản sinh ra ý tưởng hay chuẩn bị cho việc mã hoá thông tin. Lao
động quản lý nằm giữa hai loại hình này. Lao động phi thông tin được chia ra lao động
sản xuất hàng hoá và lao động cung cấp dịch vụ. Lao động phi thông tin dễ dàng được
mã hoá và thay thế bằng kỹ thuật, công nghệ. Như vậy, có thể phân loại lực lượng lao
động ra 5 loại: lao động tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp
dịch vụ và lao động sản xuất hàng hoá. Mỗi loại lao động này có những đóng góp khác
nhau vào việc tạo ra sản phẩm. Nồng độ tri thức, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm lao
động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lực lượng lao động trí thức, quản lý và phần
nào của lao động dữ liệu ở nước ta, tỷ lệ lao động phi thông tin còn rất cao trong cơ cấu
lực lượng lao động, do đó hàng hoá có tỷ lệ trí tuệ thấp. Muốn tăng khả năng cạnh tranh
trên thị trường quốc tế, cần tăng nhanh tỷ lệ trí tuệ trong hàng hoá .
2.Yêu cầu về nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Có 17 nhóm kỹ năng xuất hiện trong mẫu nghiên cứu. Có thể tạm phân 17 kỹ năng
này thành 3 nhóm chính. Nhóm 1 là nhóm các kỹ năng cơ bản, bắt buộc phải có, nếu
Thuyết này đánh giá tiềm ẩn trong con người là những khả năng rất lớn cần được khơi
gợi và khai thác. Con người ở bất kỳ cương vị nào cũng có tinh thần trách nhiệm cao và làm
việc hết sức để hoàn thành các công việc được giao. Ai cũng thấy được tôn trọng, được chia sẻ
trách nhiệm, được tự khẳng định mình. Từ cách nhìn nhận và đánh giá này thì phương pháp
quản lý được áp dụng là thông qua sự tự giác, tạo điều kiện thuận lợi để nhân viên chủ động
làm việc và kiểm tra công việc của mình. Nhà quản lý phải tin tưởng chủ động lôi cuốn nhân
vào công việc, có quan hệ hiểu biết và thông cảm lẫn nhau giữa cấp trên và cấp dưới. Với
phong cách quản lý này người nhân viên tự thấy mình quan trọng và có vai trò trong tập thể
càng có trách nhiệm hơn với công việc được giao phó. Tự nguyện tự giác làm việc, tận dụng
khai thác triệt để tiềm năng của bản thân để hoàn thành công việc một cách tốt nhất.
3.3.Thuyết quản lý kiểu Nhật
Thuyết này cho rằng người lao động sung sướng là dẫn tới năng suất lao động cao.
Sự tin tưởng tuyệt đối vào người lao động, sự tế nhị trong cư xử và phối hợp chặt chẽ
trong tập thể là các yếu tố quyết định đến sự thành công của quản trị nhân sự trong
doanh nghiệp. Theo thuyết này các nhà quản lý quan tâm đến nhân viên của mình, tạo
điều kiện cho họ được học hành, phân chia quyền lợi thích đáng công bằng. Phương
pháp này làm cho nhân viên cảm thấy tin tưởng và trung thành với doanh nghiệp, coi
doanh nghiệp như nhà của mình. Nhưng đôi khi phong cách quản lý này lại tạo cho
nhân viên trở nên ỷ lại, thụ động trong công việc đôi khi ảnh hưởng tới tiến độ hoạt
động của doanh nghiệp.
4.Tiêu chí đánh giá quản lý nguồn nhân lực
Cũng như các hoạt động kinh tế, trong hoạt động quản lý nguồn nhân lực, doanh
nghiệp thường đặt ra các mục tiêu cụ thể về hoạt động nhân lực. Các mục tiêu đó
thường là các mục tiêu sau đây:
- Chi phí cho lao động nhỏ nhất
- Giá trị ( lợi nhuận ) do người lao động tạo ra lớn nhất
- Đạt được sự ổn định nội bộ, tạo việc làm đầy đủ cho người lao động và không
có tình trạng dư thừa lao động.
- Người lao động làm đúng ngành nghề đó được học của mình.
- Nâng cao chất lượng lao động.
nội dung quan trọng của quản lý nguồn nhân lực, nó ảnh hưởng trực tiếp đến các nội
dung khác của quản lý nguồn nhân lực .
Xác định công việcMô tả công việc Tiêu chuẩn về nhân lựcĐánh giá công việcXếp loại công việc
Mục đích:
- Đưa ra các tiêu chuẩn cần thiết để tiến hành tuyển dụng nhân lực sao cho việc
tuyển dụng nhân lực đạt kết quả cao nhất.
- Chuẩn bị nội dung đào tạo và bồi dưỡng trình độ để đáp ứng yêu cầu của
công việc.
- Phân tích công việc làm căn cứ để xây dựng và đánh giá hiệu quả công việc.
Ngoài ra nó còn giúp cho việc nghiên cứu và cải thiện điều kiện làm việc.
Sơ đồ 2: Nội dung phân tích công việc
Bước 1: Mô tả công việc
Thiết lập một bản liệt kê về các nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn, các hoạt động
thường xuyên và đột xuất, các phương tiện và điều kiện làm việc, các quan hệ trong
công việc…
Để mô tả công việc trong thực tế có sử dụng một số biện pháp sau:
- Quan sát: Quan sát trực tiếp xem công việc được thực hiện như thế nào tại nơi
làm việc.
- Tiếp xúc trao đổi: Phương pháp này được thực hiện với chính những người làm
công việc đó, với cấp trên trực tiếp của họ, đôi khi với đồng nghiệp của họ. Cuộc tiếp
xúc trao đổi sẽ cho phép ta thu thập được những thông tin cần thiết, tạo cơ hội để trao
đổi và giải quyết các vấn đề chưa rõ ràng. Trong khi quan sát cụ thể sử dụng một số
dụng cụ cần thiết như: giấy bút để ghi chép, đồng hồ để bấm giờ.
- Bản câu hỏi: Theo phương pháp này các bản câu hỏi được thảo ra phát rộng rãi
cho các công nhân viên và những người có liên quan đến công việc để họ trả lời. Câu
hỏi đưa ra phải đầy đủ, rõ ràng, nhưng không nên quá chi tiết, tỷ mỷ.
Bước 2 : Xác định công việc