Những vấn đề pháp lý cơ bản trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn và thực tiễn tại tỉnh bình dương - Pdf 69

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

NGUYỄN QUỐC QUÂN

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN
TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
ĐỐI VỚI CƠ SỞ CHẾ BIẾN SUẤT ĂN SẴN
VÀ THỰC TIỄN TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM

NGUYỄN QUỐC QUÂN

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN
TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
ĐỐI VỚI CƠ SỞ CHẾ BIẾN SUẤT ĂN SẴN
VÀ THỰC TIỄN TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ THU HIỀN

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020

4. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................7
5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................8
6. Giá trị ứng dụng của đề tài .................................................................................8
7. Bố cục luận văn ..................................................................................................9
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN
THỰC PHẨM ĐỐI VỚI CƠ SỞ CHẾ BIẾN SUẤT ĂN SẴN VÀ THỰC
TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM .....................................................................10
1.1. Tổng quan vấn đề quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở chế
biến suất ăn sẵn .....................................................................................................10
1.1.1. Các khái niệm cơ bản trong lĩnh vực quản lý nhà nước về an toàn thực
phẩm đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn ..............................................................10
1.1.1.1. Một số thuật ngữ liên quan đến an toàn thực phẩm ................................10
1.1.1.2. Khái niệm cơ sở chế biến suất ăn sẵn .....................................................11
1.1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở chế biến
suất ăn sẵn ............................................................................................................12
1.1.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở chế
biến suất ăn sẵn ....................................................................................................13
1.1.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở chế biến
suất ăn sẵn ............................................................................................................14
1.1.4. Tầm quan trọng của quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở
chế biến suất ăn sẵn .............................................................................................15
1.1.5. Các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
đối với loại hình cơ sở chế biến suất ăn sẵn ........................................................16
1.2. Thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước về an
toàn thực phẩm đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn ..............................................19
1.2.1. Khái quát về khung pháp lý điều chỉnh hoạt động quản lý nhà nước về an
toàn thực phẩm đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn .............................................19
1.2.2. Nội dung pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực an toàn thực phẩm
đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn ........................................................................20
1.2.2.1. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở

2.3.4. Giải pháp về công tác phối hợp liên ngành ...............................................57
2.3.5. Giải pháp về thanh tra, kiểm tra và giám sát .............................................57
2.4. Một số kiến nghị ............................................................................................59
2.4.1. Kiến nghị về cơ chế và chính sách .............................................................59
2.4.2. Kiến nghị về tổ chức và chuyên môn kỹ thuật ............................................61
2.4.3. Kiến nghị về nguồn lực và chi phí ..............................................................61
2.4.4. Kiến nghị về công tác thông tin truyền thông ............................................61
2.4.5. Kiến nghị về thực thi pháp luật đối với các bên liên quan .........................63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 .......................................................................................65
KẾT LUẬN ..........................................................................................................66
DANH MỤC TÀI LIỆU


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Tiếng Anh

Tiếng Việt

ATTP

An toàn thực phẩm

BYT

Bộ Y tế

CBCC

số

2/2/2018 quy định chi tiết thi hành

15/2018/NĐ-CP

một số điều của Luật an toàn thực
phẩm
Nghị định số 155/2018/NĐ-CP ngày
12/11/2018 của Chính phủ quy định

Nghị

định

số

sửa đổi, bổ sung một số quy định

155/2018/NĐ-CP

liên quan đến điều kiện đầu tư kinh
doanh thuộc phạm vi quản lý nhà
nước của Bộ Y tế
Ủy ban nhân dân

UBND
WHO

World

dịch kết hợp với phương pháp quy nạp, v.v, Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận cơ bản về quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở chế biến suất
ăn sẵn, làm rõ hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành trong quản lý nhà nước về an
toàn thực phẩm đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn, đồng thời làm sáng tỏ thực tiễn
triển khai hoạt động quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với loại hình này
tại Tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất những giải pháp để hoàn thiện. Với các kết quả
nghiên cứu của mình, Luận văn đã góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận và
thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong hoạt động quản lý nhà
nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn hiện nay. Đồng thời,
Luận văn cũng có thể được sử dụng, trong một chừng mực nhất định, là tài liệu
tham khảo hữu ích cho những nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này.
Từ khóa: an toàn thực phẩm, cơ sở chế biến suất ăn sẵn, quản lý nhà nước,
pháp luật về an toàn thực phẩm


ABSTRACT
Assuring food safety is an urgent issue in the current period because food can
become unsafe when it is handled, stored or prepared incorrectly at the canteen or in
the collective kitchen, especially in the facilities preparing ready-to-eat food
portions that mainly causes most of the food poisoning cases in reality. The current
legal framework with the Food Safety Law 2010 and the system of related legal
documents has created relatively adequate provisions on state management of food
safety. However, besides the achieved successes, the provisions regulating in this
area still have some limitations and shortcomings. Moreover, the state management
activities in Binh Duong Province in particular and on the whole country in general
are still limited, overlapping and not really effective in reality. Therefore, perfecting
the law as well as proposing solutions to enhance the state management of food
safety in the facilities preparing ready-to-eat food portions is an essential and
important requirement. By using the main research methods such as general
methods, analysis, statistics, interpretation methods combined with inductive

trách nhiệm giữa chính phủ, nhà sản xuất và người tiêu dùng. Do đó, mỗi người,
mỗi đối tượng đều đóng một vai trò quan trọng khác nhau trong đảm bảo an toàn
thực phẩm từ trang trại tới bàn ăn.
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ về khoa học, kỹ thuật và hội nhập thế
giới, việc sản xuất thực phẩm không còn bị giới hạn bởi các phương pháp thủ công
không hiệu quả mà có thể được sản xuất, nuôi trồng một cách nhanh chóng và quy
mô. Việc sử dụng hóa chất trong trồng trọt, chăn nuôi, chất bảo quản, chất tạo
màu,… trong thực phẩm ngày càng phổ biến. Cần có một hành lang pháp lý trong
quản lý đảm bảo an toàn thực phẩm là một yêu cầu cần thiết để kiểm soát việc đảm
bảo an toàn thực phẩm trong hoạt động sản xuất, chế biến, kinh doanh và tiêu dùng
thực phẩm. Từ việc nhận định đúng đắn về tầm quan trọng của công tác đảm bảo an
toàn thực phẩm, Luật an toàn thực phẩm đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 và
có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011. Luật an toàn thực phẩm được coi
là bước đầu tiên của quá trình đổi mới về cách thức quản lý, trách nhiệm cũng như


2

cách nhìn nhận của toàn xã hội về vấn đề này. Từ đó đến nay, hệ thống các văn bản
quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm của Việt Nam nhìn chung là tương đối
hoàn chỉnh và đầy đủ bao gồm Luật, các văn bản dưới Luật như nghị định, thông tư,
quyết định, chỉ thị,… Đồng thời, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ và Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố thường xuyên rà soát để sửa đổi, bổ sung cũng như ban hành các văn
bản hướng dẫn, thay thế nhằm đáp ứng với xu hướng phát triển nhập kinh tế của thế
giới.
Trong những năm gần đây, với nền kinh tế nhiều thành phần, việc phân công
lao động trong xã hội đang dần chuyên môn hóa, việc tổ chức kinh doanh, chế biến
thực phẩm cũng không nằm ngoài quy luật chung đó. Các cơ sở chế biến suất ăn sẵn
hình thành ngày càng phong phú về cả quy mô và đối tượng phục vụ nhằm đáp ứng

ăn sẵn hình thành ngày càng phong phú về cả quy mô và đối tượng phục vụ. Thống
kê của Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Bình Dương, năm 2020 toàn tỉnh có
315 cơ sở chế biến suất ăn sẵn4. Đây là một số liệu thống kê tương đối lớn so với
mặt bằng chung của cả nước. Đồng thời cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức đối
với các nhà quản lý về an toàn thực phẩm nếu muốn quản lý tốt loại hình này.
Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với các cơ sở sản xuất, chế biến,
kinh doanh thực phẩm nói chung và đối với các cơ sở chế biến suất ăn sẵn nói riêng
đã và đang được tỉnh Bình Dương triển khai, duy trì thực hiện. Việc vận dụng các
quy định của pháp luật vào thực tiễn tại tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực, số
vụ ngộ độc thực phẩm và số cơ sở, vụ việc vi phạm pháp luật về đảm bảo an toàn
thực phẩm tại các cơ sở chế biến suất ăn sẵn ngày càng được giảm thiểu, chất lượng
bữa ăn của người lao động ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, trước những biến
động không ngừng trên thế giới như: thiên tai, dịch bệnh mới nổi, biến đổi môi
trường, khủng hoảng kinh tế, lạm phát,… do vậy nhằm có một cách đánh giá có hệ
thống làm cơ sở để đề ra những định hướng và giải pháp hoàn chỉnh về mặt quản lý
nhà nước đối với loại hình cơ sở chế biến suất ăn sẵn trên địa bàn tỉnh, học viên
chọn đề tài “Những vấn đề pháp lý cơ bản trong quản lý nhà nước về an toàn thực
phẩm đối với các cơ sở chế biến suất ăn sẵn và thực tiễn tại tỉnh Bình Dương” để
làm luận văn cao học chuyên ngành luật kinh tế của mình.

Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương, 2015. Tổng quan về kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương qua 30 năm
đổi mới và một số định hướng trong thời gian tới, [online], <http://sokhdt.binhduong.gov.vn/tong-quan-vekinh-te-xa-hoi-tinh-binh-duong-qua-30-nam-doi-moi-va-mot-so-dinh-huong-trong-thoi-gian-toi.aspx> [ngày
truy cập: 06/3/2020]
4
Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Bình Dương, 2020. Thống kê số cơ sở thực phẩm thuộc thẩm quyền
quản lý năm 2020
3


4



5

trường học, cơ sở chế biến suất ăn sẵn, thức ăn đường phố,…
Một số công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực luật:
- Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà
nước và pháp luật tại Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Lê Thị Linh năm 2016
với tên đề tài “Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn
Hà Nội”. Luận văn của tác giả đã đề cập đến thực trạng về an toàn thực phẩm trong
sản xuất, chế biến, kinh doanh thực cũng như đưa ra những lý luận, những kết quả
đạt được, nguyên nhân và giải pháp về thực hiện pháp luật trong lĩnh vực ATTP
trên địa bàn Hà Nội.
- Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành luật kinh tế Đại học Huế của tác
giả Đinh Thị Quế năm 2018 với tên đề tài “Pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh
vực an toàn thực phẩm”. Trong luận văn, tác giả đã tập trung làm rõ những vấn đề
lý luận và thực tiễn pháp lý về xử lý vi phạm trong lĩnh vực ATTP, các ưu điểm,
hạn chế và các giải pháp nhằm góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận và hoàn
thiện pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực ATTP tại Việt Nam hiện nay.
- Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành luật kinh tế Đại học Huế của tác
giả Nguyễn Nữ Linh Tâm năm 2018 với tên đề tài “Pháp luật về an toàn thực phẩm
trong lĩnh vực kinh doanh - Qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị”. Tác giả đã tập trung
nghiên cứu những vấn đề pháp lý về pháp luật ATTP trong lĩnh vực kinh doanh
thực phẩm và các yếu tố tác động. Cũng như nêu lên thực tiễn thực thi pháp luật
ATTP và các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế pháp lý và nâng cao hiệu quả thực
hiện pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh thực phẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
- Luận án Tiến sĩ luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Học viện Khoa học xã hội của tác giả Bùi Thị Hồng Nương năm 2019 với tên đề tài
“Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ở Việt Nam hiện nay”. Trong công trình
nghiên cứu, tác giả đã đưa ra một số khái niệm, kết luận mang tính khoa học về

bảo quản thực phẩm là 62,4%, kiểm soát nguyên liệu đầu vào là 51,6% và hợp đồng
trách nhiệm bảo đảm ATTP là 73,1%. Tỉ lệ chủ cơ sở có kiến thức chung đúng về
ATTP là 47,3%. Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức của chủ cơ
sở, loại hình phục vụ, việc ký cam kết không để xảy ra NĐTP và việc áp dụng các
hệ thống quản lý chất lượng ATTP tiên tiến với bếp ăn đạt chuẩn.


7

- Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng Đại học Thăng
Long của tác giả Phạm Đức Long năm 2019 với tên đề tài “Thực trạng và một số
yếu tố liên quan về an toàn thực phẩm của các cơ sở chế biến suất ăn sẵn tại tỉnh
Bình Dương năm 2019”. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy: Tỉ lệ cơ sở chế
biến suất ăn sẵn đạt chuẩn về ATTP là 71,01%; Tỉ lệ chủ cơ sở có kiến thức chung
đúng về ATTP là 79,83%; Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thực trạng đạt
chuẩn về ATTP với đã từng xảy ra sự cố về ATTP, quy mô, loại hình doanh nghiệp,
việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến về ATTP, kiến thức chung đúng
về ATTP của chủ cơ sở.
Từ kết quả công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên có thể nhận thấy
cho đến nay, chưa có hoặc có rất ít nghiên cứu nào đánh giá công tác quản lý nhà
nước về ATTP đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn. Đây cũng là một đối tượng thuộc
phạm vi điều chỉnh trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà
nước về ATTP nói riêng. Do vậy đối tượng nghiên cứu của đề tài là không trùng lấp
với các nghiên cứu khác và là vấn đề đáng nghiên cứu tại Việt Nam hiện nay. Trong
luận văn, tác giả có sử dụng một số kết quả nghiên cứu để làm tài liệu tham khảo về
mặt hình thức cũng như nội dung.
4. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước về
an toàn thực phẩm đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn, làm rõ hệ thống pháp luật

nay cùng với việc chỉ ra những bất cập trong việc áp dụng pháp luật thuộc lĩnh vực
này, từ đó, có cơ sở đề xuất một số kiến nghị.
- Phương pháp diễn dịch kết hợp với phương pháp quy nạp: Sau khi đã thông
qua các bước nêu vấn đề, phân tích, làm rõ vấn đề, người nghiên cứu sẽ tập trung
khai thác những dữ liệu, nội dung đã có sẵn, để đề ra các giải pháp, kiến nghị.
6. Giá trị ứng dụng của đề tài
Sau khi được hoàn thành, luận văn sẽ làm rõ vấn đề pháp lý cơ bản trong
hoạt động quản lý nhà nước về ATTP đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn, việc vận
dụng và triển khai thực hiện các quy định của pháp luật trong quản lý nhà nước về
ATTP đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn tại tỉnh Bình Dương, góp phần làm phong
phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong


9

hoạt động quản lý nhà nước về ATTP đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn cũng có thể được xem là tài liệu tham khảo
hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Luật kinh tế trong việc học tập cũng như
nghiên cứu những nội dung liên quan đến pháp luật về ATTP. Đồng thời góp phần
cung cấp thêm kiến thức cho những người quan tâm đến lĩnh vực pháp luật này.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục các bảng, danh
mục các hình, kết luận thì Luận văn được kết cấu thành 2 chương:
Chương 1. Tổng quan vấn đề quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với
cơ sở chế biến suất ăn sẵn và thực trạng pháp luật Việt Nam.
Chương 2. Thực tiễn quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở
chế biến suất ăn sẵn tại tỉnh Bình Dương và một số kiến nghị.


10


Điều 2 Luật an toàn thực phẩm 2010


11

Bốn là, “cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là cơ sở chế biến thức ăn bao
gồm cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín, nhà hàng ăn
uống, cơ sở chế biến suất ăn sẵn, căng-tin và bếp ăn tập thể”.
Năm là, “ngộ độc thực phẩm là tình trạng bệnh lý do hấp thụ thực phẩm bị ô
nhiễm hoặc có chứa chất độc”.
Sáu là, “sự cố về an toàn thực phẩm là tình huống xảy ra do ngộ độc thực
phẩm, bệnh truyền qua thực phẩm hoặc các tình huống khác phát sinh từ thực phẩm
gây hại trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người”.
Như vậy, qua các từ ngữ được giải thích theo Luật an toàn thực phẩm 2010,
chúng ta có thể nhận thấy được thực phẩm an toàn là có vai trò hết sức quan trọng
trọng đảm bảo sức khỏe con người và đảm bảo an toàn thực phẩm là một quá trình
kiểm soát rất phức tạp gồm nhiều giai đoạn như trồng trọt, chăn nuôi, thu hoạch, sơ
chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, truy xuất nguồn gốc,…
1.1.1.2. Khái niệm cơ sở chế biến suất ăn sẵn
Trên thực tế, có một số cụm từ được hiểu và sử dụng tương đương với nhau
như “cơ sở chế biến suất ăn sẵn”, “bếp công nghiệp” hay “cơ sở chế biến suất ăn
công nghiệp”. Tuy nhiên, cụm từ “cơ sở chế biến suất ăn sẵn” là cụm từ được sử
dụng trong Luật an toàn thực phẩm 2010. Do vậy, cụm từ “cơ sở chế biến suất ăn
sẵn” đã được luật hóa và được thống nhất sử dụng để điều chỉnh đối với loại hình
kinh doanh này.
Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống được định nghĩa như sau: “Cơ sở kinh
doanh dịch vụ ăn uống là cơ sở tổ chức chế biến, cung cấp thức ăn, đồ uống để ăn
ngay có địa điểm cố định bao gồm cơ sở chế biến suất ăn sẵn; căng tin kinh doanh
ăn uống; bếp ăn tập thể; bếp ăn, nhà hàng ăn uống của khách sạn, khu nghỉ dưỡng;

năng, nhiệm vụ đối với toàn xã hội. Hoạt động quản lý nhà nước về ATTP do các cơ
quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm đạt tới mục tiêu đảm bảo ATTP, góp
phần duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội”.
Khái niệm về quản lý nhà nước về ATTP theo tác giả Bùi Thị Hồng Nương
(2019)8: “Quản lý nhà nước về ATTP là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước của
các cơ quan trong bộ máy nhà nước (chủ yếu là các cơ quan thuộc hệ thống hành
pháp), mang tính quyền lực nhà nước; là hoạt động của cơ quan quản lý có thẩm
Nguyễn Hồng Quân, 2017. Quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ quản lý công Học viện Hành chính quốc gia
8
Bùi Thị Hồng Nương, 2019. Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ở Việt Nam hiện nay. Luận án Tiến sĩ
luật học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Học viện Khoa học xã hội
7


13

quyền thực hiện ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các quy chuẩn, tiêu
chuẩn kỹ thuật, các biện pháp, các chế tài xử lý điều hành hành vi hoạt động của
con người trên lĩnh vực ATTP nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người, bảo
đảm sức khỏe cho nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội về sức khỏe
con người”.
Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là hoạt động áp dụng điều chỉnh đối
với toàn bộ các cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh thực phẩm bao gồm cơ sở sản
xuất thực phẩm, cơ sở kinh doanh thực phẩm và cơ sở chế biến thực phẩm. Như
vậy, quản lý nhà nước về ATTP đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn là một đối tượng
cụ thể thuộc quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
Từ kết quả nghiên cứu của hai tác giả trên cũng như từ phân tích và quan
điểm của mình, theo tác giả: “Quản lý nhà nước về ATTP đối với cơ sở chế biến
suất ăn sẵn là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành về ATTP, trong đó, nhà nước sử

suất ăn sẵn
Nguyên tắc quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở chế biến
suất ăn sẵn cũng tuân theo nguyên tắc quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm được
quy định tại Luật an toàn thực phẩm 2010. Đó là:
Thứ nhất, “bảo đảm an toàn thực phẩm là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá
nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm”.
Thứ hai, “sản xuất, kinh doanh thực phẩm là hoạt động có điều kiện; tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối
với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh”.
Thứ ba, “quản lý an toàn thực phẩm phải trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật
tương ứng, quy định do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu
chuẩn do tổ chức, cá nhân sản xuất công bố áp dụng”.
Thứ tư, “quản lý an toàn thực phẩm phải được thực hiện trong suốt quá
trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn
thực phẩm”.
Thứ năm, “quản lý an toàn thực phẩm phải bảo đảm phân công, phân cấp rõ
ràng và phối hợp liên ngành”.
Thứ sáu, “quản lý an toàn thực phẩm phải đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội”.


15

1.1.4. Tầm quan trọng của quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm đối với cơ sở
chế biến suất ăn sẵn
Hoạt động quản lý nhà nước về ATTP nói chung và đối với cơ sở chế biến
suất ăn sẵn nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt, thể hiện ở những nội dung sau đây:
Thứ nhất, tăng cường và nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong thực thi pháp luật
về ATTP. Thông qua các hệ thống văn bản quy pháp pháp luật về ATTP, các cơ
quan nhà nước triển khai và hướng dẫn cơ sở chế biến suất ăn sẵn. Đồng thời cơ

và hợp pháp cho cơ sở chế biến suất ăn sẵn.
1.1.5. Các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
đối với loại hình cơ sở chế biến suất ăn sẵn
Xét riêng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm nói chung và đối với cơ sở chế
biến suất ăn sẵn nói riêng, hoạt động quản lý nhà nước trên thực tế cũng chịu tác
động của nhiều yếu tố căn bản như:
Một là, yếu tố chính sách, pháp luật về an toàn thực phẩm.
Chính sách và pháp luật là hai nội dung có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt
động quản lý nhà nước. Nếu chính sách, pháp luật được ban hành hợp lý, phù hợp
với thực tiễn, sau khi được luật hóa sẽ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và hiệu
lực trong thực thi pháp luật.
Trong lĩnh vực ATTP, muốn hoạt động quản lý nhà nước đạt hiệu quả, hiệu
lực thì Đảng, Nhà nước, Chính phủ phải xây dựng và ban hành các chính sách, pháp
luật phù hợp với tình hình thực tế của đất nước. Đồng thời, các chính sách, pháp
luật cũng cần phải được cải tiến nhằm xóa bỏ tình trạng lạc hậu, phù hợp với xu
hướng phát triển chung của thế giới theo tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Đối với cơ sở chế biến suất ăn sẵn, nếu các chính sách, pháp luật được ban hành
phù hợp, có chính sách ưu đãi hợp lý (ví dụ như ưu đãi về thuế) sẽ dẫn tới sự tự giác
chấp hành các quy định về ATTP bởi cơ sở nào cũng muốn tồn tại và phát triển. Từ
đó, chất lượng bữa ăn cho người lao động sẽ được cải thiện cả về số lượng và chất
lượng.
Hai là, yếu tố nguồn lực và chí phí đầu tư cho quản lý nhà nước về an toàn
thực phẩm.
Nguồn lực và chí phí đầu tư cho hoạt động quản lý nhà nước về ATTP được



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status