C HO VA Y TI Ê U D Ù NG C A N GÂ N HÀ N G T H NG M I VÀỦ ƯƠ Ạ
NH N G N HÂ N T N H H N GỮ Ố Ả ƯỞ
1.1 NỘI DUNG VÀ VAI TRÒ CỦA CHO VAY TIÊU DÙNG.
1.1.1 Quá trình hình thành nghiệp vụ cho vay tiêu dùng của Ngân hàng
thương mại
Quan sát hoạt động mua bán thông thường người ta thấy trên thực tế
có hiện tượng sau phát sinh: người tiêu dùng có mong muốn sử dụng hàng
hoá trước khi có khả năng thanh toán. Đó là nhu cầu tất yếu của con người
phát sinh trong cuộc sống hàng ngày. Lúc còn trẻ, con người cần đi lại nhiều
hơn, khi đó có một chiếc ôtô thì giá trị sử dụng rất cao nhưng lại không có
tiền mua. Đến khi có tuổi mới tiết kiệm đủ tiền để mua sắm thì nhu cầu đi lại
không còn nhiều nữa. Vậy tại sao ta không hưởng thụ ngay từ bây giờ những
thứ ta chắc chắn kiếm được trong tương lai? Cũng một ví dụ khác tương tự:
bây giờ ta cần tiền để đi học đại học, nhưng hiện tại ta lại không có tiền thì
ước mơ đi học để có việc làm tốt sau này sẽ trở nên xa vời. Trong khi đó, ta
biết rằng, nếu học đại hoc xong thì khi ra trường ta có thể dễ dàng tìm việc
hơn, kiếm tiền nhanh hơn và nhiều hơn. Vậy tại sao ta lại không thể sử dụng
số tiền mà ta có thể kiếm được trong tương lai để đầu tư cho việc học tập
trong hiện tại? Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu dùng
và khả năng thanh toán, đó thực sự đó là một vấn đề cần được quan tâm.
Trên thực tế đã diễn ra hai cách giải quyết mâu thuẫn nói trên: Cách
thứ nhất đó là mua bán chịu, cách này có nhiều bất lợi đối với người bán vì
người bán thu hồi vốn chậm, lại gặp phải nhiều rủi ro. Hình thức mua bán
chịu chỉ khả thi trong trường hợp người mua có uy tín, có khả năng thanh
toán trong tương lai và người bán được tổ chức khác tài trợ vốn. Cách thứ
hai, cách này làm người mua vay được tiền nên có đủ khả năng thanh toán,
cách này vừa thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng mà nhà sản xuất cũng
bán đựơc hàng và thu hồi được vốn ngay.
Như vậy, là cần đến một tổ chức thứ 3 thực hiện việc cho vay đối với
người mua hoặc hỗ trợ cho người bán. Sẽ không có một tổ chức nào đảm
nhận được vị trí này bằng các tổ chức trung gian tài chính, mà quan trọng
tạo ra một trong số những nguồn thu quan trọng nhất. Chiến lược cho vay
tiêu dùng sẽ tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong các dịch vụ ngân hàng cũng
như trong quản lý ngân hàng. Xu hướng này diễn ra bởi vì cho vay tiêu dùng
không chỉ là một trong những khoản mục mang lại lợi nhuận cao nhất cho
ngân hàng mà còn bởi vì người tiêu dùng với trình độ dân trí ngày càng cao
sẽ vay nhiều hơn để nâng mức sống bản thân và đáp ứng các kế hoạch chi
tiêu trên cơ sở triển vọng về thu nhập trong tương lai.
Trong tương lai, cho vay tiêu dùng sẽ hướng theo mục tiêu về sự thuận
tiện, ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình nhận được khoản
vay sớm hơn trong khi vẫn duy trì được sự kiểm soát đối với món vay tiêu
dùng để tránh những giảm sút đáng kể về chất lượng tín dụng. Đây cũng
chính là xu hướng chủ yếu mà hoạt động cho vay tiêu dùng sẽ phát triển
trong tương lai.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và các loại cho vay tiêu dùng.
1.1.2.1 Khái niệm
Cho vay tiêu dùng l các khoà ản cho vay nhằm t i trà ợ cho nhu cầu chi
tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân v hà ộ gia đình. các khoản cho
vay tiêu dùng l nguà ồn t i chính quan trà ọng giúp người tiêu dùng có thể
trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như : nh à ở, phương tiện đi lại, tiện
nghi sinh hoạt, học tập, du lịch, y tế....trước khi họ có đủ khả năng t ià
chính để hưởng thụ.
1.1.2.2 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Do cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá
nhân, hộ gia đình nên nó có đặc điểm riêng khác với tín dụng ngân hàng nói
chung. Cụ thể:
- Khách hàng vay là cá nhân và các hộ gia đình
- Mục đích vay nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia
đình không phải xuất phát từ mục đích kinh doanh. Do đó phụ thuộc vào nhu
cầu, tính cách của từng đối tượng khách hàng và chu kỳ kinh tế của người đi
vay.
trường của nhân viên tín dụng. Những người n y thà ường được đ o tà ạo
chuyên môn v có nhià ều kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng cho nên các
quyết định tín dụng trực tiếp của ngân h ng thà ường có chất lượng cao hơn
so với trường hợp chúng được quyết định bởi những công ty bán lẻ.
Ngo i ra, trong hoà ạt động của mình nhân viên tín dụng ngân h ngà
có xu hướng chú trọng đến việc tạo ra các khoản vay có chất lượng tốt
trong khi nhân viên của những công ty bán lẻ thường chú trọng đến việc
bán cho được nhiều h ng. Bên cà ạnh đó, tại thời điểm bán h ng, các quyà ết
định tín dụng thường được đưa ra vội v ng v nhà à ư vậy có thể có nhiều
khoản tín dụng được cấp ra một cách không chính đáng. Hơn nữa, trong
một số trường hợp do quyết định nhanh, công ty bán lẻ có thể từ chối cấp
tín dụng đối với khách h ng tà ốt của mình. nếu người cấp tín dụng l ngânà
h ng, à điều n y có thà ể được hạn chế.
Cho vay tiêu dùng trực tiếp có ưu điểm là linh hoạt hơn so với cho vay
tiêu dùng gián tiếp.
Khi khách hàng co quan hệ trực tiếp với ngân hàng, có rất nhiều lợi
thế có thể phát sinh có khả năng làm thoả mãn quyền lợi cho cả hai phía
khách hàng lẫn ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp ( Indirect consumer loan): là loại tín
dụng được thực hiện bằng cách ngân hàng mua các phiếu bán hàng của các
cửa hàng bán lẻ. Như vậy, chính là cách tài trợ bán hàng trả góp của ngân
hàng. Nó được thực hiện một trong hai cách sau:
Cách 1:
Với:
(1) Người mua trả trước từ 20% đến 30% giá trị của tài sản
(2) Người bán giao tài sản cho người mua, nhưng vẫn nắm quyền sở
hữu tài sản.
(3) Người bán giao quyền sở hữu tài sản cho ngân hàng và phiếu bán
hàng để thế chấp tài sản
- Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán
chịu
- Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc
bán chịu hàng hoá.
- Kỹ thuật nghiệp vụ cho vay tiêu dùng gián tiếp có tính phức tạp cao.
Do những nhược điểm trên nên có rất nhiều ngân hàng không mặn mà
với cho vay tiêu dùng gián tiếp. Còn những ngân hàng nào tham gia vào hoạt
động này thì đều có các cơ chế kiểm soát tiêu dùng chặt chẽ.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương
thức sau:
- Tài trợ truy đòi toàn bộ: theo phương thức này khi bán cho ngân
hàng các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, Công ty bán lẻ cam kết
sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu, khi đến hạn người
tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng.
- Tài trợ truy đòi hạn chế: theo phương thức này, trách nhiệm của công
ty bán lẻ đối với các khoản nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán
chỉ giới hạn trong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản
đã được thoả thuận giữa ngân hàng với công ty bán lẻ. Dưới đây là các
khoản thoả thuận thường gặp trong trường hợp truy đòi hạn chế:
* Công ty bán lẻ phải chịu trách nhiệm thanh toán một phần nợ trong
trường hợp nếu người mua chịu không đủ tiền để trả trước một số tiền nhất
định khi mua chịu hoặc không đủ các tiêu chuẩn tín dụng do ngân hàng đề
ra.
* Công ty bán lẻ cam kết chịu trách nhiệm cho toàn bộ số nợ đã bán
chịu cho đến khi ngân hàng thu hồi được một số lượng các khoản nợ nhất
định đúng hạn.
* Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn
theo một tỷ lệ nhất định so với tổng số nợ trong một thời hạn nhất định.
* Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn
trong phạm vi số tiền dự phòng ký gửi tại ngân hàng. Thường số tiền dự
những tài sản có thời hạn sử dụng lâu bền hoặc có giá trị lớn. Vì rằng, với
những loại tài sản này người tiêu dùng sẽ được hưởng những tiện ích từ
chúng trong một thời gian dài.
- Số tiền phải ứng trước: Thông thường, ngân h ng yêu cà ầu người đi
vay phải thanh toán trứơc một phần giá trị t i sà ản cần mua sắm. số tiền n yà
được gọi l sà ố tiền trả trước, phần còn lại ngân h ng sà ẽ cho vay. Số tiền
trả trước cần phải đủ lớn để một mặt l m cho ngà ười đi vay nghĩ rằng họ
chính l chà ủ sở hữu của t i sà ản, mặt khác có tác dụng hạn chế rủi ro cho
ngân h ng. Mà ột khi không cảm nhận được rằng mình l chà ủ sở hữu của
t i sà ản hình th nh tà ừ tiền vay thì người đi vay có thể sẽ có thái độ miễn
cưỡng trong việc trả nợ. Ngo i ra, khi khách h ng không trà à ả nợ trong nhiều
trường hợp ngân h ng à đ nh phà ải đắc thụ hoặc phát mại t i sà ản để thu hồi
nợ. Hầu hết các t i sà ản đã qua sử dụng đều bị giảm giá trị, tức l giá trà ị thị
trường nhỏ hơn giá trị hạch toán của t i sà ản, cho nên số tiền trả trước có
một vai trò quan trọng giúp ngân h ng hà ạn chế được rủi ro.
Số tiền trả trước nhiều hay ít phụ thuộc vào các yếu tố sau:
+ Loại tài sản: đối với tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trả
trước nhiều và ngược lại, đối với tài sản có mức độ giảm giá chậm thì số tiền
trả trước ít.
+ Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng: tài sản sau khi đã sử
dụng nếu vẫn có thể tiếp tục mua bán dễ dàng thì số tiền trả trước có xu
hướng thấp, ngược lại nếu tài sản đã qua sử dụng mà rất khó tìm được thị
trường tiêu thụ thì số tiến trả trước có xu hướng cao hơn.
+ Môi trường kinh tế
+ Năng lực tài chính của người đi vay
- Chi phí tài trợ: chi phí tài trợ là chi phí mà người đi vay phải trả cho
ngân hàng cho việc sử dụng vốn. Chi phí tài trợ chủ yếu bao gồm lãi vay và
các chi phí khác có liên quan. Chi phí tài trợ phải trang trải cho được chi phí
vốn tài trợ, chi phí hoạt động, rủi ro, đồng thời mang lại một phần lợi nhuận
thoả đáng cho ngân hàng.
n : số kỳ hạn
r : lãi suất tính cho mỗi kỳ hạn.
* Phương pháp lãi đơn: theo phương pháp này, vốn gốc người đi vay
phải trả từng định kỳ được tính đều nhau, bằng cách lấy vốn gốc ban đầu
chia cho số kỳ hạn thanh toán. Còn lãi phải trả mỗi định kỳ được tính trên số
tiền khách hàng thực sự còn thiếu ngân hàng.
* Phương pháp hiện giá: theo phương pháp này, số tiền gốc và lãi mà
người đi vay phải thanh toán được tính theo phương pháp hoàn trả theo niên
kim. Công thức tính số tiền phải trả theo từng kỳ:
a =
V(1+i)
n
i
V(1+i)
n
-1