BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN THỊ NGÂN
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƢA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC TẠI HUYỆN
LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN THỊ NGÂN
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƢA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC TẠI HUYỆN
LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
Quốc gia cùng toàn thể các thầy cô giáo công tác trong trường đã tận tình
truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ em trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học này
không tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong Quý thầy cô, các chuyên
gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp
tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa em xin chân thành cám ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 8 năm 2019
Tác giả
Phan Thị Ngân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ
DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐƢA VÀO CƠ SỞ CAI
NGHIỆN BẮT BUỘC .................................................................................... 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ..................................................... 7
1.1.1. Khái niệm biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc ............................................................................................................ 7
1.1.2. Đặc điểm biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc ............................................................................................................ 8
1.1.3. Nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc ........................................................................................... 9
1.2. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc ....................................................................................... 12
1.3. Đối tƣợng, thời hiệu, thời hạn, thẩm quyền áp dụng biện pháp
2.3.2. Khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của những khó khăn
vướng mắc trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai........................... .56
Tiểu kết chƣơng 2 ................................................................................. 66
CHƢƠNG 3. QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VÀ BẢO ĐẢM ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƢA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC TẠI HUYỆN LONG
THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI ....................................................................... 67
3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật và bảo đảm áp dụng biện pháp
xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ................................. 67
3.2. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc .................................................... 68
3.2.1. Quy định để xác định thống nhất “nơi cư trú”, vấn đề liên quan
đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc ................................................................................................................ 68
3.2.2. Hoàn thiện hệ thống biểu mẫu sử dụng trong áp dụng biện pháp
xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ...................................... 72
3.2.3. Quy định bổ sung về thủ tục, trình tự xác định tình trạng nghiện
........................................................................................................................ 73
3.2.4. Quy định rút gọn trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ....................................................... .74
3.2.5. Nhóm giải pháp khác ................................................................ 75
3.3. Các giải pháp bảo đảm áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai
nghiện bắt buộc tại huyện Long Thành ...................................................... 75
3.3.1. Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc áp dụng biện pháp
xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ...................................... 75
3.3.2. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi
phạm trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai
2
Thống kê lập hồ sơ cai nghiện công an
huyện Long Thành
37
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ma túy là hiểm họa khôn lường của toàn nhân loại, là nguyên nhân dẫn
đến tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS, số người nghiện ma túy
ngày càng tăng theo sự tăng trưởng của nền kinh tế. Trong những năm gần
đây cả thế giới chung tay vào công cuộc phòng, chống ma túy; Ở nước ta,
cuộc chiến chống ma túy cũng đã được Đảng và nhà nước tiến hành trong
nhiều năm bằng những biện pháp khác nhau và cũng đã đạt được những thành
tựu nhất định, tuy nhiên, trong sự phát triển của nền kinh tế vấn nạn ma túy
diễn biến rất phức tạp, số lượng người nghiện ma túy còn cao. Để hạn chế
những ảnh hưởng của ma túy đến cuộc sống, xã hội thì những người nghiện
ma túy sau khi được cai nghiện tại cộng đồng, gia đình hoặc người nghiện ma
túy không có nơi cư trú ổn định sẽ được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Theo thống kê đến tháng 12/2017 cả nước có trên 222.000 người nghiện ma
túy có hồ sơ quản lý (tăng gần 12.000 người so với cùng kỳ năm 2016); trong
đó, trên 67,5% người đang sinh sống ngoài xã hội; 13,5% người trong cơ sở
cai nghiện, 19% người đang trong trại tạm giam, tạm giữ, cơ sở giáo dục,
trường giáo dưỡng. Theo báo cáo của Cục Phòng chống tệ nạn xã hội tại tổ
chức Hội thảo báo chí “Tư vấn, điều trị cai nghiện ma túy trong tình hình
mới” ngày 15 tháng 6 năm 2018 thì đến tháng 6 năm 2018, cả nước còn 120
cơ sở cai nghiện giảm được 25 cơ sở so với năm 2014 với tổng số người đang
được điều trị cai nghiện tại các cơ sở là 34.620 học viên mặc dù giảm về cơ
yếu đang trao đổi vướng mắc, điều luật áp dụng chứ chưa phân tích sâu về
bản chất của vấn đề. Có luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu về biện pháp này,
cũng đã phân tích nguyên nhân, thực trạng và có những kiến nghị, giải pháp,
tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp hiện nay và nhằm đi sâu
nghiên cứu hơn nữa để đánh giá hoàn thiện và đưa vào áp dụng một cách có
hiệu quả biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian tới. Liên
quan đến đề tài này có một số công trình nghiên cứu nổi bật sau:
2
Luận văn thạc sĩ “Biện pháp đưa ngư ời nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” (năm 2017) của tác giải Lê Thị Lan
Phương, bảo vệ thành công tại Học viện khoa học xã hội. Đây là đề tài có tính
khái quát cao, Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả thực
hiện các biện với luận văn này tác giải đã phân tích được bản chất của vấn đề
áp dụng biện pháp đưa người nghiện vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ thực
tiễn Thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, chưa đi sâu vào nghiên cứu những
vướng mắc về quy định pháp luật khi các cơ quan thực hiện hoạt động áp
dụng pháp luật đối với biện pháp trên.
Luận văn thạc sĩ “Từ biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa
bệnh đến biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc”năm 2004 của tác giả
Phạm Tiến Thành tại Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội. Với luận văn này
tác giả đã làm rõ được các biện pháp xử lý hành chính và sự cần thiết và
chuyển hóa như thế nào từ biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh sang đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc; tuy nhiên, nội dung của luận văn chưa nêu lên
được điểm nổi bật khi áp dụng biện pháp và việc áp dụng có phù hợp hay
không và các giải pháp để áp dụng biện pháp này có hiệu quả hơn.
Luận văn thạc sĩ “Đảm bảo quyền con người trong cơ sở cai nghiện bắt
buộc qua thực tiễn thành phố Hải Phòng” năm 2016 của tác giải Nguyễn
nhằm đảm bảo hiệu quả áp dụng biện pháp này.
- Nhiệm vụ
+ Nghiên cứu hệ thống và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản, pháp luật
trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc.
+ Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại huyện Long
Thành.
+ Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chung và riêng cho địa phương
để đảm bảo việc thực hiện pháp luật về biện pháp trên.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Khảo sát thực tiễn việc áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng
Nai.
+ Về thời gian: Từ năm 2014 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Với phạm vi nghiên cứu như trên,việc nghiên cứu
và hoàn thành luận văn trước hết dựa trên quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà Nước, nghị
quyết của Bộ chính trị về cải cách tư pháp.
- Phương pháp nghiên cứu: Người viết sử dụng phương pháp nghiên
cứu như sau:
+Phương pháp phân tích tổng hợp
cai nghiện bắt buộc hiệu quả hơn; đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo cho
các đối tượng quan tâm đến Biện pháp trên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về áp dụng biện pháp đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Chương 2: Thực trạng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc tại huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại huyện
Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
6
CHƢƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ÁP
DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH ĐƢA VÀO CƠ SỞ CAI
NGHIỆN BẮT BUỘC
1.1. Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
1.1.1. Khái niệm biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc.
Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một trong bốn biện pháp
xử lý hành chính. Cùng với biện pháp giáo dục tại phường, xã, thị trấn; đưa
vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, biện pháp đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về
an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm [11, khoản 3 Điều
2].
Về mặt nội dung, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được quy
hành chính đặc biệt nhằm ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật; biện
pháp này có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp có
tính cưỡng chế hành chính nhà nước; biện pháp này do cơ quan có thẩm
quyền thi hành bằng cưỡng chế nhà nước, từ giai đoạn lập hồ sơ đến giai đoạn
xem xét, đề nghị và giai đoạn áp dụng biện pháp trên là do các cơ quan có
thẩm quyền thực hiện như công an xã, phòng Lao động thương binh xã hội và
Tòa án nhân dân cấp huyện và chỉ có những cơ quan được pháp luật quy định
mới được quyền áp dụng biện pháp này. Biện pháp xử lý hành chính đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc có tính pháp lý, bởi lẽ nó được quy định trong các
văn bản pháp quy như Luật của Quốc hội, Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ
Quốc hội, Nghị định của Chính Phủ… Tính cưỡng chế còn được thể hiện ở
hiện ở chỗ biện pháp này mang tính bắt buộc thực hiện đối với người bị áp
dụng, đây cũng là biện pháp cưỡng chế mang tính nghiêm khắc nhất trong
bốn biện biện pháp xử lý hành chính vì nó hạn chế quyền tự do nhân thân của
người bị áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định.
8
Thứ hai là biện pháp chỉ áp dụng đối với cá nhân; đối tượng bị áp dụng
biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cá nhân
(người nghiện ma túy từ 18 tuổi trở lên và có điều kiện như Điều 96 Luật
2012), vì bản chất của biện pháp này là hạn chế quyền tự do của đối tượng
trong một thời gian nhất định. Biện pháp này chỉ áp dụng đối với cá nhân mà
không áp dụng đối với tổ chức như các biện pháp xử phạt hành chính. Một
lưu ý, đối với trường hợp cá nhân thì phải là công dân Việt Nam, còn người
nước ngoài vi phạm tại lãnh thổ Việt Nam thì theo quy định tại khoản 7 Điều
21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 về quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng,
mới bị áp dụng biện pháp trên. Tuân thủ nguyên tắc này sẽ giúp các cơ quan
có thẩm quyền dễ dàng xác định được đối tượng áp dụng của biện pháp, hạn
chế sự tùy tiện áp dụng và hạn chế được việc xâm phạm các quyền cơ bản của
công dân.
Hai là áp dụng nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền,
đúng quy định của pháp luật; mục đích của nguyên tắc là để việc áp dụng biện
pháp một cách thống nhất, đúng trình tự thủ tục. Việc tuân thủ nguyên tắc này
sẽ giúp cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc nhanh chóng, tránh việc kéo
dài ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân cũng như hạn chế tình trạng ban
hành quyết định không đúng, không có căn cứ pháp luật. Áp dụng biện pháp
xử lý hành chính được hiểu là toàn bộ quá trình lập hồ sơ, xem xét hồ sơ vụ
việc và ra quyết định áp dụng. Yêu cầu “nhanh chóng” đòi hỏi mọi hoạt động
từ lúc lập hồ sơ đến giai đoạn tư vấn, xem xét, đề nghị và áp dụng đều phải
tiến hành nhanh, trong hoặc trước thời hạn luật định; điều này đòi hỏi, mỗi
chủ thể với thẩm quyền riêng phải nhanh chóng hoàn thành được nhiệm vụ
được phân công. Yêu cầu “công khai” là việc đảm bảo cho quá trình xem xét,
áp dụng có của những người tham gia tiến hành việc xem xét, áp dụng và đối
tượng bị áp dụng; việc xác minh, thu thập chứng cứ phải tiến hành công khai.
Yêu cầu “khách quan” đòi hỏi các chứng cứ trong hồ sơ phải được xem xét
10
một cách toàn diện, đầy đủ; đồng thời việc áp dụng biện pháp phải trên cơ sở
vô tư, không thiên vị, không vì vụ lợi cá nhân. Đúng thẩm quyền là việc các
cơ quan đã được pháp luật quy định tham gia vào quá trình xây dựng hồ sơ và
áp dụng biện pháp thì chỉ được làm những gì pháp luật quy định về thẩm
quyền của mình. Bảo đảm công bằng là làm sao cho thời hạn đối tượng bị áp
dụng biện pháp phải tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm. Đúng quy
định của pháp luật là việc xử lý đúng hành vi, áp dụng đúng quy định của
khách quan, công bằng, không có căn cứ pháp lý rõ ràng thì quyết định áp
dụng biện pháp của cơ quan có thẩm quyền (Tòa án) sẽ không đúng và xâm
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Với nguyên tắc này, tính
dân chủ, bình đẳng trong mối quan hệ pháp luật giữa một bên là chủ thể nhân
danh Nhà nước, một bên là công dân có hành vi vi phạm. Trách nhiệm chứng
minh hành vi vi phạm thuộc về Nhà nước, tránh tình trạng các chủ thể có
thẩm quyền dùng quyền lực để áp đặt lên đối tượng.
1.2. Mục đích, ý nghĩa của biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở
cai nghiện bắt buộc.
Các biện pháp xử lý hành chính có vai trò rất to lớn trong việc giáo dục,
cảm hóa, chữa bệnh và tạo điều kiện cho người vi phạm pháp luật trở thành
công dân lương thiện, có ích cho xã hội, góp phần ổn định an ninh, trật tự, an
toàn xã hội.
Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có mục đích sau:
Thứ nhất, giáo dục tư tưởng người bị nghiện, chữa bệnh cho các đối
tượng để họ được lao động, học văn hóa trong cơ sở cai nghiện. Có thể nói
đây là mục đích quan trọng đầu tiên của biện pháp này; bắt nguồn từ tính
nhân đạo sâu sắc của pháp luật nước ta. Các đối tượng bị áp dụng biện pháp
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc sẽ được cai nghiện ma túy, được học văn
hóa và được giáo dục ý thức chấp hành pháp luật. Mục đích giáo dục còn ở
chỗ cảm hóa, giáo dục về đạo đức, tư tưởng, lối sống cũng như phục hồi sức
khỏe tạo điều kiện để họ trở thành công dân có ích và sớm tái hòa nhập cộng
đồng.
12
Thứ hai, nhằm trừng phạt đối với người vi phạm; bản chất của biện pháp
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là hạn chế quyền tự do cá nhân của đối
tượng bị áp dụng trong một thời gian nhất định. Vì thế, chủ thể bị nghiện thỏa
không có nơi cư trú ổn định.
Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016
thì đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được cụ
thể hóa hơn rất nhiều, nhằm tạo điều kiện cho quá trình áp dụng của cơ quan
có thẩm quyền, cụ thể như sau:
1. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định,
trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy hoặc trong thời hạn
01 năm kể từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định áp dụng biện pháp giáo
dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy mà vẫn còn nghiện.
2. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, có nơi cư trú ổn định, bị
chấm dứt thi hành quyết định giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma
túy.
3. Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nơi cư trú ổn
định.
Theo quy định tại khoản 16 Điều 2 Luật XLVPHC năm 2012 thì người
nghiện ma túy được hiểu là “người sử dụng chất ma túy, thuốc gây
nghiện,thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này”; còn theo Tổ chức y
tế thế giới (WHO), nghiện ma túy là tình trạng lệ thuộc về mặt tâm thần hoặc
thể chất hoặc cả hai khi một người sử dụng ma túy lặp đi lặp lại theo chu kỳ
hoăch dùng kéo dài liên tục kéo dài một thứ ma túy. Tình trạng lệ thuộc này
làm thay đổi cách cư xử, bắt buộc đương sự luôn cảm thấy bức bách phải
dùng ma túy để thoát khỏi sự vật vã, khó chịu do thiếu ma túy [5, tr 537]; điều
này có nghĩa, nghiện ma túy là một bệnh lý. Người nghiện trong xã hội thuộc
nhiều thành phần và nhiều độ tuổi khác nhau; tuy nhiên, người nghiện ma túy
là đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là những
14
biện pháp trên, ngoài các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 96 Luật
XLVPHC năm 2012 thì còn có các trường hợp sau:
1. Người đang tham gia chương trình cai nghiện ma túy tại cộng đồng
theo quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày
19/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật xử lý vi phạm hành chính.
2. Người đang tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện được quy
định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định số 96/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của
Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc
thay thế.
Nhà nước luôn khuyến khích người nghiện cai nghiện tại gia đình hoặc
cộng đồng vì nếu cai nghiện tại đây giúp người nghiện có cảm giác gần gũi,
thường xuyên được động viên được động viên, hỗ trợ kịp thời khi người
nghiện lên cơn, giúp người nghiện có nghị lực để vượt qua; hoặc các trường
hợp đang được điều trị nghiện chất dạng thuộc phiện. Chính vì vậy, pháp luật
quy định không lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc đối với những đối tượng trên, nghĩa là không áp dụng biện pháp đối
với các đối tượng đã nêu. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp trên thực tế người
nghiện đã cai nghiện tại gia đình, cộng đồng nhưng vẫn còn nghiện, đối với
những trường hợp này các cơ quan có thẩm quyền vướng mắc, không biết xử
lý như thế nảo; vì thế, tại khoản 2 Điều 2 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày
09 tháng 9 năm 2016 đã bãi bỏ quy định tại Điều 5 của Nghị định
221/2013/NĐ-CP.
1.3.2. Thời hiệu, thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Thời hiệu, thời hạn là nội dung quan trọng trong pháp luật xử lý vi phạm
hành chính, là cơ sở pháp lý vững chắc bảo đảm công tác xử lý vi phạm hành
chính được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để.