CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH Ô TÔ - Pdf 69

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ NGÀNH Ô TÔ
I. Khái niệm về công nghiệp phụ trợ
1. Định nghĩa về công nghiệp phụ trợ
1.1. Khái quát chung về công nghiệp phụ trợ
Thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước,
mặc dù vậy thuật ngữ này vẫn rất mơ hồ và không có được định nghĩa thống
nhất. Tại mỗi một quốc gia, theo các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách
thì thuật ngữ này lại được định nghĩa theo cách hiểu và mục đích sử dụng của
từng người. Trên thực tế, công nghiệp phụ trợ (supporting industries) là một từ
tiếng Anh - Nhật đã được các doanh nghiệp Nhật sử dụng từ lâu trước khi trở
thành một thuật ngữ chính thức.
Hộp 1: Một số khái niệm và định nghĩa về công nghiệp phụ trợ
Nguồn: Xây dựng năng lực công nghệ nội sinh trong xây dựng công nghiệp phụ trợ
Tóm lại, công nghiệp phụ trợ là khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm
công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính. Cụ thể là
những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn,
Bộ kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (MEIT)
chính thức định nghĩa về công nghiệp phụ trợ trong chương trình hành
động phát triển công nghiệp phụ trợ Châu Á (1993): Công nghiệp phụ
trợ là các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên
liệu thô, linh kiện và vốn … cho các ngành công nghiệp lắp ráp ( bao
gồm ô tô, điện và điện tử).
Bộ Năng lượng, Mỹ: Công nghiệp phụ trợ là những ngành công
nghiệp cung cấp nguyên liệu và quy trình cần thiết để sản xuất ra sản
phẩm trước khi chúng được đưa ra thị trường.
Định nghĩa của Văn phòng phát triển công nghiệp phụ trợ,
Thái Lan: Công nghiệp phụ trợ là các ngành công nghiệp cung cấp
linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra
cho các ngành công nghiệp cơ bản (có nghĩa là các ngành cơ khí, máy
móc, linh kiện cho ô tô, điện và điện tử là những ngành công nghiệp
phụ trợ quan trọng).

Khái niệm mở rộng 1: công nghiệp phụ trợ là những ngành công nghiệp
cung cấp linh kiện, phụ tùng, công cụ để sản xuất linh kiện phụ tùng này và các
dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi, phân phối và bảo hiểm.
Khái niệm mở rộng 2: công nghiệp phụ trợ là những ngành công nghiệp
Sản phẩm cuối cùng
Lắp rápLắp ráp chưa hoàn chỉnh
Hàng hoá trung gian
Phụ tùngLinh kiện
Hàng hoá tư bản
Công cụMáy móc
Nguyên liệu
Thép Hoá chất
Dịch vụ sản xuất
Hậu cầnKho bãiPhân phốiBảo hiểm
CNPT (phạm vi chính)
CNPT (phạm vi mở rộng 2)
CNPT (phạm vi mở rộng 1)
cung cấp toàn bộ đầu vào vật chất, gồm linh kiện, phụ tùng, công cụ, máy móc
và nguyên vật liệu.
Hình 1: Sơ đồ các phạm vi của công nghiệp phụ trợ
Nguồn: Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam (VDF)
Do bối cảnh Việt Nam là một nước có nền công nghiệp công nghiệp phụ
trợ chưa phát triển nên trong bài viết sử dụng khái niệm công nghiệp phụ trợ
theo như khái niệm hạt nhân.
Khái niệm công nghiệp phụ trợ được sử dụng trong khuôn khổ bài viết:
Công nghiệp phụ trợ là một nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu
vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và công cụ để sản xuất ra các linh kiện
phụ tùng này) cho các ngành công nghiệp lắp ráp và chế biến.
1.2. Khái niệm công nghiệp phụ trợ ngành ô tô
Công nghiệp phụ trợ là khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp

Nếu chia theo loại hình hỗ trợ thì công nghiệp phụ trợ được chia thành ba
tầng:
Tầng thứ nhất là hệ thống công nghiệp phụ trợ “ruột”, tức là những hãng
được hãng chính bảo trợ và cung cấp tất cả những yêu cầu cơ bản nhất để tạo ra
những chi tiết đặc trưng nhất của sản phẩm. Đây là khu vực mà theo nhận định
của các chuyên gia, cơ hội tham gia của doanh nghiệp phụ trợ nội địa Việt Nam
không có.
Tầng thứ hai là hệ thống phụ trợ hợp đồng, tức là doanh nghiệp sản xuất ra
linh phụ kiện để cung cấp theo các hợp đồng được kí kết giữa doanh nghiệp và
các công ty lắp ráp.
Tầng thứ ba là hệ thống phụ trợ thị trường, tức là doanh nghiệp sản xuất ra
linh phụ kiện để bán trên thị trường. Do đó các công ty lắp ráp có thể chọn lựa
bất cứ sản phẩm nào minh cần trên thị trường.
Với hai tầng này các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tham gia vào chuỗi
này. Việt Nam gia nhập WTO, hàng rào thuế quan được bãi bỏ hoặc hạn chế
đến mức tối thiểu và các chi tiết, linh phụ kiện cũng theo đó được giảm thuế.
Chi phí trở nên rẻ hơn, như vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương càng
gặp khó khăn khi cạnh tranh cung cấp các sản phẩm phụ trợ. Hơn nữa, công
nghiệp phụ trợ ở Việt Nam còn hết sức giản đơn, quy mô nhỏ lẻ chủ yếu sản
xuất các linh kiện giản đơn, giá trị gia tăng thấp và có sự chênh lệch về năng lực
phụ trợ giữa các doanh nghiệp nội địa của Việt Nam với các yêu cầu của các
hãng sản xuất toàn cầu. Mặc dù vậy “Việt Nam vẫn có tiềm năng lớn về phát
triển công nghiệp phụ trợ, trong đó cơ bản dựa trên khả năng tiếp thu công nghệ
mới và sự khéo tay của những người thợ Việt Nam” (ông Tomoharu Washio, Phó
chủ tịch Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản).
2.2. Theo các cấp hỗ trợ
Ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam có thể được chia thành 3 cấp hỗ trợ:
Cấp I: là cấp tiến hành thiết kế, thử nghiệm và sản xuất hầu hết các bộ
phận chính cấu thành nên sản phẩm, kiểm tra động lực học và xuất xưởng.
Cấp II: là cấp có vai trò chế tạo các linh kiện, chi tiết cấu thành nên các bộ

Các ngành công nghiệp phụ trợ và công nghiệp chính có tác động qua lại
với nhau. Công nghiệp phụ trợ phát triển góp phần thúc đẩy những ngành công
nghiệp chính phát triển, ngược lại các ngành công nghiệp chính phát triển sẽ
kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ.
Công nghiệp phụ trợ xuất hiện chủ yếu ở các hình thức tổ chức sản xuất
kiểu thầu phụ/vệ tinh, trong mạng lưới tổ chức sản xuất phối hợp, thống nhất và
có tính hợp tác cao giữa các nhà sản xuất chính và các doanh nghiệp sản xuất
phụ trợ.
Các ngành công nghiệp phụ trợ không đòi hỏi mức tập trung kỹ thuật cơ
Công nghiệp nặng
Da
Công nghiệp đóng tàu
Công nghiệp ô tôCông nghiệp xe máyCông nghiệp điện tửCông nghiệp điện/PC
Thị phần chung của các ngành công nghiệp phụ trợ (chế biến nhựa và cao su, cắt kim loại, ép nhiệt khuôn, khuôn, khuôn đúc, mạ kim loại …)
Nhu cầu của các nhà lắp ráp phụ kiện bằng nhựa, kim loại và các công cụ dụng cụ
Sự phát triển và sẵn có của các ngành công nghiệp sản xuất:nguyên vật liệu
bản sâu và cũng không sử dụng những kỹ thuật tích hợp phức tạp. Do đó, những
doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp phụ trợ thường là những doanh
nghiệp vừa và nhỏ với mức độ chuyên môn hoá sâu, dải sản phẩm hẹp, dễ thay
đổi mẫu mã.
Các sản phẩm của công nghiệp phụ trợ có thể được sử dụng cho nhiều
ngành công nghiệp khác nhau. Ví dụ: công nghệ sử dụng trong ngành điện tử có
thể được áp dụng đối với các ngành sản xuất ô tô, xe máy, máy phát điện, máy
công nghiệp … Điều đó được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 4: Các ngành công nghiệp phụ trợ cơ bản có thể được sử dụng cho
nhiều ngành công nghiệp
Nguồn: Xây dựng năng lực công nghệ nội sinh
trong xây dựng công nghiệp phụ trợ (VDF)
3.2. Các giai đoạn phát triển của công nghiệp phụ trợ
Để đánh giá sự phát triển của công nghiệp phụ trợ ở mỗi nước ta có thể

Thực tế rất khó tách bạch từng giai đoạn vì giữa các giai đoạn đều làm tiền
đề và kế thừa lẫn nhau. Việc phân chia quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ
thành các giai đoạn có tác dụng hỗ trợ cho mỗi nước xác định được chính xác vị
trí của mình để từ đó có được hướng đi và các biện pháp phù hợp, nhất là đối
với các nước đang phát triển như Việt Nam. Tuy nhiên trong quá trình hội nhập
toàn cầu, không nên lấy nội địa hoá 100% làm mục tiêu. Yêu cầu về mức độ và
nội dung nội địa hoá là khác nhau giữa các ngành. Việc xác định đúng các đầu
vào cần được nội địa hoá sẽ đẩy nhanh đáng kể quá trình công nghiệp hoá và
ngược lại.
3.2.2. Dựa vào mối quan hệ giữa công nghiệp phụ trợ và doanh nghiệp FDI
Công nghiệp phụ trợ và FDI có mối quan hệ tương hỗ. Công nghiệp phụ
trợ phải phát triển mới thu hút FDI, nhất là FDI trong các ngành sản xuất các
loại máy móc. Cũng có trường hợp FDI đi trước và lôi kéo các công ty khác đầu
tư phát triển công nghiệp phụ trợ. Dựa vào mối quan hệ giữa công nghiệp phụ
trợ và doanh nghiệp FDI, quá trình phát triển công nghiệp phụ trợ có thể chia
làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn I: Trước khi FDI vào đã có nhiều công ty trong nước sản xuất
sản phẩm phụ trợ cung cấp cho các công ty lắp ráp, sản xuất sản phẩm chính
cho thị trường nội địa. Khi có FDI, một bộ phận các công ty sản xuất công
nghiệp phụ trợ được tham gia vào mạng lưới chuyển giao công nghệ của các
doanh nghiệp FDI sẽ phát triển mạnh hơn.
Giai đoạn II: Đồng thời với sự gia tăng của FDI, nhiều doanh nghiệp bản
xứ ra đời trong các ngành công nghiệp phụ trợ chủ yếu để phục vụ cho hoạt
động của các doanh nghiệp FDI. Những doanh nghiệp sớm hình thành sự liên
kết với doanh nghiệp FDI sẽ được chuyển giao công nghệ và sẽ phát triển
nhanh.
Giai đoạn III: Sau một thời gian hoạt động của doanh nghiệp FDI với sản
lượng sản xuất ngày càng tăng, tạo ra thị trường ngày càng lớn cho công nghiệp
phụ trợ, các công ty vừa và nhỏ ở nước ngoài sẽ đến đầu tư. Từ đó hình thành
nên một hệ thống công nghiệp phụ trợ phát triển mạnh.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status