Cơ sở lý luận về công nghiệp nông thôn
I-/ NÔNG THÔN VÀ CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG THÔN
1-/ Khái niệm về nông thôn.
Theo định nghĩa trong từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì nông
thôn được hiểu là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông. Còn thành
thị thì được hiểu là khu vực dân cư mà phần lớn dân cư tập trung làm nghề
ngoài nông nghiệp. Hai định nghĩa đơn giản này đã nêu lên một trong những
điểm cơ bản khác nhau của nông thôn và thành thị, nhưng cũng chỉ mới đề cập
đến một trong những đặc điểm của nông thôn.
Định nghĩa nông thôn là gì được hiểu ở nhiều mặt:
- Về địa lý tự nhiên, nông thôn là một địa bàn rộng lớn trải ra thành các
vành đai bao quanh các thành thị.
- Về kinh tế, nông thôn là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản
xuất vật chất nông lâm ngư nghiệp và các ngành nghề sản xuất và kinh doanh,
dịch vụ ngoài nông nghiệp, khác với hoạt động kinh tế của đô thị tập trung
hoàn toàn vào công nghiệp và dịch vụ.
- Về tính chất xã hội, cơ cấu dân cư ở nông thôn chủ yếu là nông dân và gia
đình họ, vói mật độ dân cư thấp, ngoài ra cũng có một số người làm việc ở nông
thôn nhưng sống ở đô thị và một số người làm việc ở đô thị nhưng sống ở nông
thôn.
- Về mặt văn hoá, nông thôn thường là nơi bảo tồn và lưu giữ được nhiều
di sản văn hoá của mỗi quốc gia như phong tục tập quán cổ truyền về đời sống,
lễ hội, các ngành nghề cổ truyền, y phục nhà ở di tích văn hoá, lịch sử, danh lam
thắng cảnh... Nông thôn là kho tàng văn hoá dân tộc, là nơi nghỉ ngơi và du lịch
xanh hấp dẫn đối với dân đô thị trong và ngoài nước.
- Về trình độ văn hoá, khoa học công nghệ hay mặt cơ sở hạ tầng, nông
thôn còn thấp, thua xa so với thành thị.
Trong quá trình công nghiệp hoá ở các nước đang phát triển, vấn đề công
nghiệp hoá nông thôn xuất hiện làm nảy sinh khái niệm và tiêu chí cụ thể của
nông thôn trong khi đó, chưa có tiêu chí cụ thể về nông thôn thì trước mắt tạm
chấp nhận tiêu chí về đô thị từ đó suy ra tiêu chí của nông thôn. Ở Việt Nam,
chòng gối, xen ghép về mặt đất đai, địa bàn dân cư cũng như các mặt hoạt
động kinh tế xã hội, nhất là mối quan hê nông thôn thành thị trên địa bàn của
đô thị nhỏ, thị trấn đang xuất hiện ngày càng nhiều ở các nước đang phát
triển.
2-/ Khái niệm về cơ cấu kinh tế.
Khi phân tích quá trình phân công lao động xã hội C.Mác viết “cơ cấu là sự
phân chia về mặt chất lượng và 1 tỷ lệ về số lượng của quá trình sản xuất, ở
đây bao gồm toàn bộ những quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình
độ của lực lượng sản xuất”.
Phát triển kinh tế hiệu quả luôn là mục tiêu phấn đấu của mọi quốc gia,
nhưng để phát triển kinh tế thì cần phải có một cơ cấu kinh tế hợp lý. Nếu một
nền kinh tế ở vào thời điểm cơ cấu kinh tế lạc hậu lỗi thời không đáp ứng được
nhu cầu phát triển thì tất yếu sẽ xảy ra chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đạt được
sự hợp lý hơn. Vì vậy cơ cấu kinh tế có vai trò quyết định đến nền kinh tế của
một nước. Nền kinh tế mỗi nước, mỗi địa phương bao gồm nhiều bộ phận hợp
thành, kết hợp chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau, tác động qua lại lẫn nhau,
có thể xem xét nền kinh tế trong mỗi quan hệ giữa các ngành kinh tế, giữa các
thành phần kinh tế, giữa các vùng lãnh thổ trong một hệ thống kinh tế quốc
dân thống nhất về mặt số lượng mà cả chất lượng nữa.
Vậy, cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa các
bộ phận cấu thành nền kinh tế, gồm các ngành, các lĩnh vực, các thành phần
kinh tế phản ánh ở hai mặt chất và lượng. Còn cơ cấu kinh tế của một nước là
tổng thể các quan hệ kinh tế hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế với quy
mô, trình độ công nghệ, tỷ trọng tương ứng từng bộ phận và sự tương tác
giữa các bộ phận ấy, gắn với điều kiện cụ thể trong từng giai đoạn phát triển
nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế đã được xác địh.
Cơ cấu kinh tế không chỉ giới hạn ở mối quan hệ giữa các ngành mang
tính cố định mà luôn luôn biến động, không có một khuôn mẫu mà tuỳ thuộc
vào điều kiện cụ thể theo không gian và thời gian. Vì vậy, cơ cấu kinh tế không
cố định lâu dài mà nó phải có những thay đổi cần thiết, thích hợp với sự thay
giữa các bộ phận hợp thành kinh tế nông thôn trong những điều kiện cụ thể về
không gian và thời gian. Nó bao gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ
sản, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và cả các hoạt động văn hoá,
giáo dục, y tế phát triển tại các vùng nông thôn.
Khi xem xét nội dung của cơ cấu kinh tế nông thôn phải xem xét đến các
bộ phận hợp thành cơ cấu kinh tế trên địa bàn nông thôn: cơ cấu ngành, cơ
cấu vùng lãnh thổ.
- Cơ cấu ngành: Cùng với đà phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là sự phát
triển lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, khu vực nông thôn
không đơn thuần chỉ có hoạt động cua các ngành nông nghiệp mà phải được
phát triển cả công nghiệp và thương mại dịch vụ. Trong đó, ngành nông nghiệp
là ngành sản xuất chính chiếm tỷ trọng lớn, các ngành nghề khác nhằm hỗ trợ
cho ngành nông nghiệp phát triển đồng thời làm tăng thu nhập của nông dân.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng xác lập quan hệ cân đối,
gắn bó giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ thương mại là vấn đề quan
trọng và cấp thiết. Mối quan hệ cung cầu giữa ba ngành này hết sức mật thiết
nông nghiệp tạo ra sản phẩm làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp, công
nghiệp phát triển sẽ tạo điều kiện cho dịch vụ phát triển theo, khi công nghiệp
phát triển các sản phẩm nông nghiệp sẽ được chế biến tạo nên những hàng
hoá có chất lượng và giá trị cao kích thích tiêu dùng xã hội tăng lên, từ đó quay
lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Việc thay đổi này sẽ tạo ra một cơ cấu kinh
tế hợp lý và tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của các ngành. Cơ cấu kinh tế
nông thôn phân theo ngành: nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ chế
biến nông lâm thuỷ hải sản, sản xuất vật liệu xây dựng, điện, cơ khí.
- Cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ: là thể hiện sự phân công lao động xã hội
theo lãnh thổ trên phạm vi nông thôn nhằm xác lập cơ cấu kinh tế bằng việc bố
trí các ngành sản xuất nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực của từng vùng.
Nhìn lại cơ cấu kinh tế nông thôn Việt Nam được tổ chức gắn với các
ngành nghề và lãnh thổ có thể phân ra như sau:
(1) Làng xã thuần nông nghiệp.
đô thị ở các nước công nghiệp lạc hậu lại chưa phát triển đến nước có thể thu
hút được nhiều lao động dư thừa ở nông thôn và các nhu cầu khác ở nông
thôn. Đó là lý do đặt ra vấn đề công nghiệp hoá nông thôn.
Công nghiệp nông thôn là một khái nhiệm đơn ngành dùng để chỉ một bộ
phận của ngành công nghiệp được tiến hành ở nông thôn, hoặc chính xác hơn
là các hoạt động sản xuất mang tính chất công nghiệp diễn ra ở nông thôn. Tuy
nhiên một số tác giả sử dụng thuật ngữ công nghiệp nông thôn để bao hàm
toàn bộ những hoạt động phi nông nghiệp diễn ra ở nông thôn, tức là bao gồm
cả xây dựng thương nghiệp và các loại dịch vụ khác. Dưới góc độ địa bàn sản
xuất, công nghiệp nông thôn là các hoạt động mang tính chất công nghiệp diễn
ra ở nông thôn của quá trình phân công lao động tại chỗ.
Công nghiệp nông thôn gọi chung cho các dạng hình hoạt động phi nông
nghiệp ở nông thôn, là một bộ phận của công nghiệp với các trình độ phát
triển khác nhau, phân bố ở nông thôn, gắn liền với sự phát triển kinh tế xã hội
ở nông thôn, bao gồm nhiều ngành nghề đan xen chặt chẽ với kinh tế nông
thôn, nhất là sản xuất nông nghiệp. Công nghiệp nông thôn không phải là toàn
bộ các hoạt động phi nông nghiệp hoặc bó hẹp trong các hoạt động tiểu thủ
công nghiệp ở nông thôn, mà bao gồm bộ phận sản xuất công nghiệp và các
dịch vụ có tính chất công nghiệp ở nông thôn của thợ thủ công chuyên nghiệp
và không chuyên nghiệp, các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu
hạn, các hợp tác xã, các tổ hợp, tổ sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp,
các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh chế biến lương thực thực phẩm hoặc các
xí nghiệp công nghiệp khác, quy mô vừa và nhỏ mà hoạt động của nó trực tiếp
gắn với kinh tế nông thôn.
Phát triển công nghiệp nông thôn là một trong những nội dung của công
nghiệp hoá, là bộ phận có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình phát triển
kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn. Nó tác động tích cực và hiệu quả tới toàn
bộ sự phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh sản
xuất hàng hoá, góp phần thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn.
HĐH nông thôn.
Tuy quá trình sản xuất, công nghiệp nông thôn không những là ngành
khai thác tài nguyên, mà cứ tiếp tục chế biến các nguyên liệu hay khai thác các
ngành nghề truyền thống ở nông thôn. Nghĩa là công nghiệp nông thôn trước
tiên gắn chặt với sản xuất nông nghiệp ở 3 vị trí của công nghiệp nông thôn
trong quan hệ với nông nghiệp.
- Ở vị trí đứng trước sản xuất nông nghiệp, công nghiệp nông thôn tạo ra
và cung cấp cho nông nghiệp công cụ và điều kiện bắt đầu tiến hành quy trình
sản xuất nông nghiệp như cung cấp máy móc, công cụ khai hoang làm đất,
thuỷ lợi hoa màu, phân bón.
- Ở vị trí song song với sản xuất nông nghiệp, công nghiệp cung cấp cho
nông nghiệp các máy móc công cụ chăm sóc cây trồng vật nuôi, thức ăn gia
súc, thuốc trừ sâu...