Vai trò của hội liên hiệp phụ nữ việt nam trong giám sát và phản biện xã hội - Pdf 69

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
............/............

BỘ NỘI VỤ
....../......

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TẠ THỊ MINH THU

VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM
TRONG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành

: Quản lý công

Mã số

: 8340403

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGỌ VĂN NHÂN

HÀ NỘI - NĂM 2020


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các số liệu và
kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, chưa từng được công bố trong

Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục

i
ii
iii

MỞ ĐẦU

1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ
NỮ VIỆT NAM TRONG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI
1.1. Quản lý nhà nước về hoạt động giám sát, phản biện xã hội
1.2. Khái quát về Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
1.3. Nội dung, phương thức hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
1.4. Các yếu tố ảnh hướng tới việc thực hiện vai trò giám sát, phản biện
xã hội của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN HIỆP
PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG GIÁM SÁT VÀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI
2.1. Nguyên nhân, kết quả và những hạn chế, bất cập trong thực hiện vai
trò giám sát và phản biện xã hội của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
2.2. Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn thực hiện vai trò của
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát, phản biện xã hội
Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA HỘI LIÊN
HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI
3.1. Tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, quyết liệt
cụ thể hơn các chính sách, pháp luật của Nhà nước về giám sát, phản

104
106


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Giám sát và phản biện xã hội là hoạt động quan trọng nhằm phát huy
vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, đại diện, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, góp phần nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, tổ chức
trong hệ thống chính trị. Đồng thời kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai
phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật, phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
các đoàn thể nhân dân có vai trò quan trọng trong việc tập hợp, vận động,
đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp
pháp của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các
chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống góp
phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội” [12, tr.124]. Từ sự nhấn mạnh vị
trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, Đảng ta yêu cầu:
“Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân thực hiện
tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội. Các cấp ủy đảng và cấp chính quyền
có chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân; thường xuyên lắng nghe ý
kiến của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân phản ánh với Đảng, Nhà nước về
những vấn đề mà nhân quan tâm, tham gia xây dựng chủ trương, chính sách,
pháp luật. Thực hiện tốt Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Quy chế dân chủ ở
mọi cấp để Mặt trận, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân tham gia xây
dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị” [12, tr.124].
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (Hội) là tổ chức chính trị - xã hội trong
hệ thống chính trị, có tư cách pháp nhân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp

Trong những năm qua, bên cạnh việc tổ chức, thực hiện các chức năng,
nhiệm vụ khác của mình, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã và đang tham
gia ngày càng sâu rộng vào hoạt động giám sát và phản biện xã hội, đạt được
2


nhiều kết quả quan trọng. Hoạt động giám sát của Hội đã góp phần xây dựng,
thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và
đối ngoại; kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến
nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp; phát hiện, phổ biến những
nhân tố mới, những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp
phần xây dựng Đảng, Nhà nước, các cấp chính quyền nói chung, các cấp Hội
nói riêng trong sạch, vững mạnh. Hoạt động phản biện xã hội của Hội góp
phần phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp
trong các văn bản dự thảo của các cơ quan Đảng, Nhà nước, chính quyền các
cấp; kiến nghị những nội dung thiết thực, góp phần bảo đảm tính đúng đắn,
phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong việc hoạch định
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo
đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, của hội viên; phát huy dân chủ,
tăng cường đồng thuận xã hội.
Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động giám sát của Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam cũng còn bộc lộ những hạn chế, nhược điểm nhất định.
Vẫn còn tình trạng cán bộ, hội viên của Hội nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn
về vị trí, vai trò của hoạt động giám sát, phản biện xã hội, dẫn đến tình trạng e
ngại, sợ va chạm trong giám sát, né tránh phản biện xã hội. Có lúc, có nơi
hoạt động giám sát và phản biện xã hội còn mang tính hình thức, thực hiện
qua loa, chiếu lệ cho có... Tình hình trên đây có ảnh hưởng nhất định tới vị
thế, uy tín của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nũng như các cấp Hội trong
việc thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội, làm suy hiệu quả của hoạt

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân; đề xuất các
giải pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò của phản biện xã hội.
- Hồ Bá Thâm và Nguyễn Thị Tường Văn, Phản biện xã hội và phát
huy dân chủ pháp quyền, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010. Các tác giả
đã khảo sát thực trạng phản biện xã hội trên các vấn đề tham nhũng, đất đai, ô
nhiễm môi trường, giáo dục, y tế, giao thông... của Mặt trận Tổ quốc Việt
4


Nam thành phố Hồ Chí Minh như một mô hình phản biện xã hội ở Việt Nam;
từ đó, chỉ ra những khó khăn, trở ngại khi thực hiện phản biện xã hội ở nước
ta hiện nay.
- Ngọ Văn Nhân, Dư luận xã hội với tư cách là phương thức thực hiện
phản biện xã hội ở nước ta hiện nay, Tạp chí Khoa học Xã hội, số 5(105) 2007. Theo tác giả bài viết, việc tìm kiếm những phương thức cụ thể, hữu
hiệu để thực hiện phản biện xã hội ở nước ta hiện nay đang là vấn đề có ý
nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Do những đặc điểm, tính chất của
mình, dư luận xã hội được coi là một trong những kênh chủ yếu, là phương
thức để thực hiện phản biện xã hội. Nội dung của phản biện xã hội thông qua
dư luận xã hội là xác định tính đúng đắn, hợp lý; tính hợp hiến, hợp pháp; tính
tất yếu khách quan và tính khả thi của các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ
đặt ra trong các đường lối, chính sách kinh tế - xã hội, trong các dự án, dự
thảo luật của Đảng và Nhà nước. Để làm được điều đó thì nhất thiết phải tiến
hành điều tra, thăm dò dư luận xã hội.
- Hoàng Thị Ngân, Một số vấn đề về giám sát xã hội và phản biện xã
hội, bài tham luận tại Hội thảo khoa học “Vấn đề phản biện và giám sát xã hội
ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay - thực trạng và giải pháp” do Viện Nghiên
cứu khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 2007. Bài viết trình
bày khái lược về các vấn đề như khái niệm, nội dung, mục đíc, hậu quả, đặc
trưng, vai trò, ý nghĩa của giám sát và phản biện xã hội; chỉ ra những thuận
lợi và khó khăn trong thực hiện giám sát và phản biện xã hội.

kháu niệm, đặc trưng, vai trò của hoạt động giám sát và phản biện xã hội.
2.2. Các công trình nghiên cứu về giám sát, phản biện xã hội của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đề án nghiên cứu “Phát huy
vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc”, Hà Nội, 2008. Đây là công
trình nghiên cứu khá quy mô của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tập
6


hợp sự đóng góp ý kiến, các tham luận, thảo luận trong hội thảo của các nhà
khoa học, cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành; đã góp phần làm rõ quan điểm,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về Mặt trận Tổ quốc
trong bối cảnh hiện nay, đánh giá thực trạng vai trò, vị trí, chức năng giám sát
và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Nguyễn Thanh Bình, Điều kiện đảm bảo cho hoạt động giám sát và
phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tạp chí Mặt trận, số 70,
tháng 8/2009, Hà Nội. Nội dung bài viết khẳng định tính đúng đắn trong quan
điểm của Đảng về giám sát, phản biện xã hội; trên cơ sở đó, kiến nghị Đảng,
Nhà nước tạo các điều kiện, cơ chế cần thiết nhằm bảo đảm phát huy vai trò
của hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Nguyễn Đăng Dung, Cơ sở pháp lý nào cho sự hoàn thiện chức năng
giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tạp chí Mặt
trận, số 81, tháng 7/2010, Hà Nội. Trong bài viết, từ sự phân tích chức năng
giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, tác giả đi sâu vào việc luận
giải cơ sở pháp lý mà Nhà nước cần tập trung xây dựng, hoàn thiện nhằm phát
huy chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Trần Ngọc Nhẫn, Giám sát và phản biện xã hội là cơ chế quan trọng
để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát huy dân chủ, tham gia xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Mặt trận, số 88, tháng 2/2011, Hà Nội.
Từ sự phân tích khái niệm, bản chất của nền dân chủ, đặc trưng của nhà nước

Bài viết đề cập, phân tích nội hàm khái niệm giám sát, phản biện xã hội; đề
xuất một số cơ chế, chính sách, giải pháp có thể thúc đẩy Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam thực hiện có hiệu quả chức năng giám sát và phản biện xã hội.
- Liên quan đến vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam còn có hàng loạt bài viết đăng tải trên các tạp chí khoa học, như: Trần
Ngọc Nhẫn, Vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tạp chí
Lý luận chính trị, 2007, Hà Nội; Đặng Đình Tân, Lại bàn về giám sát và phản
biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí
8


Dân vận, số 08/2008; Minh Đức, Để thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện
xã hội của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, Tạp chí Xây dựng Đảng, số
05/2008, Hà Nội... Các bài viết này đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong
thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong điều kiện một đảng cầm quyền ở nước ta hiện nay; đưa ra một loạt các điều
kiện để thực hiện tốt chức năng này, như phải luật hóa chức năng giám sát, phản
biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phải tạo điều kiện và có cơ chế để
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện giám sát, phản biện xã hội trên thực tế, đổi
mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam...
Sự tổng quan tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy đã có rất nhiều công
trình nghiên cứu khoa học đề cập, luận bàn một cách đa dạng, đa chiều về giám
sát, phản biện xã hội nói chung, về hoạt động giám sát và phản biện xã hội của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công
trình nào nghiên cứu, đề cập chuyên sâu về hoạt động giám sát, phản biện xã hội
của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Chính vì vậy, học viên chọn thực hiện đề
tài “Vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã
hội” với hy vọng kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, tập trung nghiên cứu
về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã
hội; làm sáng tỏ thực trạng hoạt động giám sát, phản biện xã hội, các kết quả đạt

phản biện xã hội của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nói chung, của một số
cấp Hội tại các địa phương ở nước ta nói riêng
- Theo thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình triển khai
các hoạt động giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, xây dựng
chính quyền từ năm 2014 đến năm 2018 trong hệ thống Hội Liên hiệp Phụ
nữ Việt Nam.
- Theo nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ vai trò của Hội
Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được triển khai nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của
Triết học Mác - Lênin về hệ thống chính trị, về các tổ chức chính trị - xã hội;
10


tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
về vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, của Hội Liên hiệp Phụ nữ
Việt Nam, về giám sát và phản biện xã hội...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các
phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp quy nạp và diễn dịch; phương
pháp lịch sử và lôgíc; phương pháp phân tích nguồn thông tin, tài liệu có sẵn;
phương pháp thống kê; phương pháp so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Đề tài góp phần khái quát hóa, phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về vai trò
của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong giám sát và phản biện xã hội; đánh
giá được thực trạng thực hiện vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
trong giám sát và phản biện xã hội, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số bài
học kinh nghiêm; đồng thời đề xuất, luận giải được một số giải pháp khoa

dân đối với hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát và tác động bằng các
biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy
chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm
cho hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh” [51, tr.292].
Theo cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII của Đảng: “Giám sát là sự theo dõi, kiểm tra, phát hiện,
đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người này đối với cá nhân, tổ chức,
cộng đồng người khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế- xã hội; trong việc
thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Hiến pháp, pháp luật,
chính sách của Nhà nước, các quyền, nghĩa vụ công dân, của các tổ chức
chính trị- xã hội và những kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối
với các nhân, tổ chức có những hành vi sai trái” [30, tr.149].
Theo Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm theo Quyết định số
12


217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị): “Giám sát là việc theo dõi,
phát hiện, xem xét; đánh giá kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ
chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về
việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước” [4, tr.2].
Như vậy, giám sát phải luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tức là phải
trả lời được các câu hỏi: giám sát ai? giám sát việc gì? Điều này có ý nghĩa rất
quan trọng ở chỗ, nó giúp phân biệt “hoạt động giám sát” với “hoạt động
kiểm tra”. Trong “hoạt động kiểm tra” thì chủ thể hoạt động và đối tượng chịu
sự tác động của hoạt động đó có thể đồng nhất với nhau, như việc tự kiểm tra
của chủ thể hoạt động. Nói cách khác, chủ thể của hoạt động kiểm tra hoàn
toàn có thể tự mình căn cứ vào chương trình, mục tiêu, kế hoạch đã đề ra để
tự xem xét, đánh giá tình trạng tốt, xấu của công việc mình đang làm. Còn

Nông dân...) và công dân đối với bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công
chức nhà nước; hoặc đơn giản chỉ là hoạt động giám sát quá trình thi công
một công trình.
1.1.1.2. Khái niệm hoạt động phản biện xã hội
Trong đời sống chính trị của một đất nước, các thiết chế cầm quyền
luôn đứng trước nhu cầu là phải lựa chọn, đắn đo cân nhắc trong số rất nhiều
các dữ kiện chủ quan và khách quan cũng như các lợi ích của các giai cấp, các
nhóm xã hội, dân tộc, quốc tế.v.v. khác nhau để đưa ra những quyết sách
đúng đắn, kịp thời, hợp lý nhất nhằm giải quyết những vấn đề mà thực tiễn
cuộc sống đặt ra. Do vậy, họ cố tranh thủ ý kiến, nhận xét, đánh của các tổ
chức, cá nhân, cộng đồng xã hội. Các lực lượng xã hội khác nhau, vì lợi ích
của chính mình và lợi ích chung của cả cộng đồng cũng dưới hình thức này
hoặc bằng hình thức khác cũng tìm cách đưa ra những quan điểm, chính kiến
của mình xung quanh những các vấn đề mà họ quan tâm. Kết quả là, nhờ
thông qua sự tranh luận, nhận xét, đánh giá, tìm tòi mà các chủ thể khác nhau
đã đưa ra được những quyết sách đúng đắn, phù hợp nhất có thể, áp dụng vào
14


cuộc sống để đem lại lợi ích chung cho tổ chức, cộng đồng, đất nước. Đó là
lúc chúng ta nói đến hoạt động phản biện xã hội.
Phản biện xã hội khác với phản biện khoa học. Phản biện khoa học là
hình thức được áp dụng khi tiến hành nghiên cứu, xét duyệt, nghiệm thu các
công trình nghiên cứu khoa học để đưa ra các quyết định về tính đúng sai; chủ
thể tiến hành các cuộc phản biện khoa học là hội đồng nghiệm thu, đánh giá
các công trình nghiên cứu khoa học, đề án, dự án có những thẩm quyền xác
định (nghiệm thu - không nghiệm thu, tán thành - không tán thành) đối với
công trình nghiên cứu, phát minh, sáng chế được đưa ra xét duyệt, còn phản
biện xã hội là hình thức được áp dụng để tìm được sự đồng thuận xã hội về lợi
ích trong thẩm định, xét duyệt các chủ trương, đường lối, trong ban hành các

phê phán giữa các cá nhân với nhau, mà phải hiểu sâu xa hơn là cả sự phản
biện chủ trương, đường lối, chính sách.
Ở nước ta, phản biện hay phản biện xã hội được đề cập nhiều trong
khoảng 15 năm trở lại đây. Phản biện xã hội dần trở thành một chức năng
quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.
Một số nhà khoa học cho rằng, phản biện xã hội là nhận xét, đánh giá
của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng,
chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công
nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự, an ninh... Theo cuốn Tìm hiểu một số
thuật ngữ trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng:
“Phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học,
dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau, là sự phát hiện sai trái và có lập
luận về sự sai trái, bắt buộc giải trình” [30, tr.151]; còn “Phản biện xã hội là
sự phản biện nói chung, nhưng là phản biện nằm ngoài nhà nước, mang tính
xã hội, có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các
nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương giải pháp phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại của Đảng, Nhà nước
và các tổ chức liên quan” [30, tr.151].
16


Khi hoạt động phản biện xã hội diễn ra, người ta hiểu rằng, trước đó đã
tồn tại một số vấn đề nhất định trong sự kiến tạo chính sách, pháp luật của cơ
quan nhà nước chuyên trách công việc này và khiếm khuyết ấy có thể làm cho
bản thân chính sách, pháp luật đó trở nên bất khả thi khi áp dụng vào điều
kiện thực tế - không loại trừ khả năng gây nên những hiệu ứng tiêu cực cho
các đối tượng chịu tác động trực tiếp của chúng; chẳng hạn, các cộng đồng
dân tộc thiểu số hay các nhóm dân cư nông thôn. Cho nên, phản biện xã hội
thực chất là đưa ra một cách nhìn khác của cộng đồng xã hội đối với chất
lượng và triển vọng của chính sách, pháp luật - một cách “nhìn từ bên ngoài”

chức, tầng lớp xã hội nào cũng có thể tham gia phản biện phạm vi rộng, trong
đó, ba chủ thể chính và cũng là ba kênh chính để thực hiện phản biện xã hội
gồm: (i) Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp mà quan
trọng nhất là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; (ii) Quốc hội và Hội đồng nhân dân
các cấp; (iii) Dư luận xã hội.
Phản biện xã hội phạm vi hẹp là loại phản biện được tiến hành trong
phạm vi đối tượng tham gia hẹp, không thông tin và công bố rộng rãi về quá
trình và nội dung phản biện. Đối tượng của phản biện phạm vi hẹp là những
chính sách, đề án có tính chuyên biệt cao, chưa chính thức trở thành chủ
trương của nhà nước, có thể bị kẻ địch lợi dụng để xuyên tạc hoặc có thể gây
nguy hại cho nền an ninh quốc gia... Chủ thể của phản biện phạm vi hẹp
phải là các chuyên gia, các nhà khoa học, các cơ quan, đơn vị có chuyên
môn sâu, có khả năng đưa ra các nhận xét, đánh giá, quan điểm mang tính
khoa học cao [33, tr.82-83].
1.1.1.3. Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động giám sát, phản biện
xã hội
Trên diễn đàn khoa học quản lý hiện nay, khái niệm quản lý đã có được
cách hiểu tương đối thống nhất, theo đó, quản lý là sự tác động liên tục, có tổ
chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt
18


chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... thông qua hệ thống chính sách, pháp luật,
các nguyên tắc, quy định và bằng các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi
trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý. Như vậy, hiểu
một cách đơn giản nhất, quản lý chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới
đối tượng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Quản lý nhà nước là một dạng đặc biệt của quản lý xã hội, mang tính
quyền lực nhà nước. Đặc trưng nổi bật của quản lý nhà nước là sử dụng chính
sách, pháp luật để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các

Trong thời kỳ tiếp tục đổi mới toàn diện đất nước, đẩy mạnh phát triển
kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hội nhập quốc tế ngày càng sâu
rộng, việc phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị được Đảng,
Nhà nước ta xác định là yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp đặc biệt quan trọng.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ
sung, phát triển năm 2011) đã xác định rõ: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là
một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân
dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo Mặt
trận. Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ,
phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên.
Các đoàn thể nhân dân tùy theo tính chất, tôn chỉ và mục đích đã được
xác định, vận động, giáo dục đoàn viên, hội viên chấp hành luật pháp, chính
sách; chăm lo, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn
viên, hội viên; giúp đoàn viên, hội viên nâng cao trình độ về mọi mặt và xây
dựng cuộc sống mới; tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội” [10, tr.87].
Điều 2 Hiến pháp năm 2013 cũng đã khẳng định: “1. Nhà nước Cộng hòa xã
.

hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân
dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền
tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí
20


thức; 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm
soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp”.
Với những tư duy chính trị - pháp lý mới đó, lần đầu tiên ở nước ta có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status